Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngâm khúc viết bằng thể thơ song thất lục bát và chữ Nôm - những
sáng tạo độc đáo của chính dân tộc Việt - ra đời đánh dấu một bước chuyển
mạnh mẽ của văn học trung đại. Bên cạnh hai đỉnh cao là Chinh phụ ngâm bản dịch của Đoàn Thị Điểm, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều,
thể loại này còn chứng tỏ giá trị của nó với hàng loạt tác phẩm tiêu biểu. Tự
tình khúc của Cao Bá Nhạ là một trong số đó.
Nếu như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc là những tác phẩm
mà tác giả thông qua số phận bất hạnh của những người phụ nữ trong xã hội
phong kiến như người chinh phụ, người cung nữ…để bày tỏ nỗi lòng, khát
khao hạnh phúc của phận “má hồng” thì Tự tình khúc lại là dòng tâm trạng
với nhiều cung bậc cảm xúc của chính tác giả trong những tháng ngày bị tù
đày muôn vàn đau đớn và oan khuất.
Cao Bá Nhạ là cháu ruột của Cao Bá Quát - người trí thức Nho học
luôn mang tư tưởng “quyết xoay bạch ốc lại lâu đài” nhưng không may bị thất
bại dẫn đến thảm họa cả gia tộc họ Cao bị tru di tam tộc. Bởi vậy đi tìm hiểu
tác phẩm là mong muốn hiểu được số phận của con người trong hoàn cảnh
lịch sử lúc đó và làm cầu nối giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn, khách quan
khi nhìn nhận lại thực trạng xã hội phong kiến Việt Nam thế kỉ XIX.
Tự tình khúc không phải là đỉnh cao của thể loại ngâm khúc song tìm
hiểu tác phẩm, chúng ta sẽ có được cái nhìn đầy đủ hơn phục vụ cho việc tìm
hiểu thể loại nói riêng và toàn bộ phần văn học trung đại nói chung.
Bản thân sẽ là một giáo viên đứng lớp phổ thông sau này nên nhìn nhận
văn chương một cách toàn diện là điều cần thiết. Trong giai đoạn hiện nay,
tác phẩm chưa được nghiên cứu và phổ biến rộng rãi nên tìm hiểu tác phẩm
này chính là cơ hội để người viết có điều kiện bổ sung kiến thức phục vụ cho
Tiếp đó, năm 1958, Đái Xuân Ninh và Nguyễn Tường Phượng (trong
nhóm văn học Chu Văn An) đã cho ra mắt độc giả cuốn sách (Chú thích và
Giới thiệu) Cao Bá Nhạ: Tự tình khúc và Trần tình văn. Đây được coi là
một trong những cuốn sách có giá trị bởi nó giúp cho những người quan tâm
đến Cao Bá Nhạ có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về cuộc đời cũng như sự
nghiệp sáng tác của ông. Điều đáng nói là khi làm công việc chú thích và giới
thiệu Tự tình khúc và Trần tình văn, tác giả cuốn sách không chỉ trình bày
khá đầy đủ về tiểu sử của Cao Bá Nhạ mà còn đưa ra được những đánh giá
Nguyễn Ngọc Ánh
2
K32C - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
khá ấn tượng khi cho rằng: “Tự tình khúc là một khúc ngâm lâm ly, thống
thiết nhất trong văn chương cổ Việt Nam”. Nhưng khác với Cung oán ngâm
khúc, với Chinh phụ ngâm khúc, Tự tình khúc “là một thiên tình cảm chân
thực của chính tác giả và tự tay tác giả ghi lấy qua những biến chuyển của
lòng mình. Cho nên, nó có tính chất sống và thực. [13, 10]. Bên cạnh đó, cuốn
sách còn chỉ ra được những nét nổi bật của khúc ngâm là “tính chất hiện thực
và nhân đạo chủ nghĩa”. Đây là một đánh giá cao về tác phẩm, tuy nhiên khi
tìm hiểu tư tưởng của Cao Bá Nhạ qua khúc ngâm, các tác giả còn có những
nhìn nhận, đánh giá phiến diện, lệch lạc.
Như vậy trong những năm 40 và 50 của thế kỉ XX, tác phẩm đã ít
K32C - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
của các nhà nghiên cứu đi trước đã trở thành những gợi ý qúy báu cho những
người viết triển khai đề tài.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của bản khóa luận này là nhìn nhận, đánh giá về
nội dung và nghệ thuật của Tự tình khúc, từ đó làm nổi bật tâm trạng của
nhân vật trữ tình, thấy được những giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc của
tác phẩm trong lịch sử phát triển văn học dân tộc. Đồng thời chúng ta có thái
độ trân trọng những di sản văn hóa của cha ông.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài: Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật trong Tự tình khúc
của Cao Bá Nhạ, nhiệm vụ nghiên cứu của bản khoá luận là đi tìm hiểu các
giá trị cơ bản trong nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm Tự tình khúc
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tác phẩm Tự tình khúc của Cao
Bá Nhạ. Người viết chọn văn bản Cao Bá Nhạ - Tự tình khúc và Trần tình
văn, NXB Văn Hóa 1958.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ những gợi ý, những thành tựu của giới nghiên cứu đã có được, khóa
luận đi tìm hiểu nội dung và hình thức nghệ thuật tiêu biểu trong Tự tình
khúc để từ đó có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn đối với tác phẩm.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phần 1: Mở đầu
- Phần 2: Nội dung gồm 2 chương
+ Chương 1: Những vấn đề chung
+ Chương 2: Những giá trị nội dung và nghệ thuật của Tự tình
khúc
- Phần 3: Kết luận
Nguyễn Ngọc Ánh
6
K32C - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Tác giả Cao Bá Nhạ
1.1.1. Cuộc đời
Cao Bá Nhạ người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, phủ Thuận Thành,
trấn Kinh Bắc, nay là huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội.
Hiện nay vấn đề về năm sinh, năm mất của ông chưa có tài liệu chính
xác, chỉ biết ông sống vào cuối thế kỉ XIX dưới thời Tự Đức, thời mà chế độ
phong kiến nhà Nguyễn khủng hoảng trầm trọng, bộc lộ những tính chất suy
đồi và phản động của nó.
Cao Bá Nhạ sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng lâu
được hai người con gái. Ông kiếm ăn lần hồi trong cảnh lưu vong nghèo túng
được tám năm thì xảy ra cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Phụng. Nhân đó có kẻ
tố giác ông và bọn Nguyễn Bá Nghi, tổng đốc Sơn Hưng Tuyên lúc bấy giờ
vốn có hiềm khích với Cao Bá Quát đã bắt ông để diệt nốt dòng dõi họ Cao.
Ông bị chúng giam cầm trong cũi và giải đi. Chúng hết khiêng ông về ngục
thất Hà Nội lại giải sang Bắc Ninh, sau cùng bị đẩy lên mạn ngược. Hiện nay
chưa có tài liệu chính xác cho biết ông chết ở đâu và trong trường hợp nào.
Có thể nói, cuộc đời Cao Bá Nhạ là một cuộc đời đầy bi kịch và tiêu
biểu cho số phận bất hạnh của nhà Nho dưới chế độ phong kiến nhiều ràng
buộc, bất công.
1.1.2. Sự nghiệp văn chương
Cao Bá Nhạ hình như không có ý định viết văn, làm thơ để lại về sau
nhưng chỉ vì nhu cầu muốn giãi bày tâm trạng, nỗi oan ức của mình và gia
tộc. Trong những ngày bị bắt bớ, giam cầm, Cao Bá Nhạ sáng tác hai tác
phẩm: Tự tình khúc và Trần tình văn để bày tỏ nỗi oan khổ của mình. Hai
tác phẩm đều bắt nguồn từ hoàn cảnh đau thương của tác giả trong một thời
đại lịch sử còn nhiều bế tắc, đen tối.
1.1.2.1. Trần tình văn
Trần tình văn là tác phẩm được viết bằng chữ Hán theo thể văn biền
ngẫu gồm hàng trăm vế trình bày cụ thể về gia thế dòng họ Cao, đặc biệt là về
người chú ruột Cao Bá Quát. Trong tâm trạng ấy, Cao Bá Nhạ buộc lòng phải
viết những lời khiếm nhã đối với thúc phụ khả kính của mình. Tuy vậy bản tố
oan về cảnh ngộ bản thân ông là những trang văn xúc động, gợi nhiều nỗi xót
Nguyễn Ngọc Ánh
8
K32C - Ngữ Văn
tác giả ghi lấy qua những biến chuyển của lòng mình. Nó đã góp một tiếng
nói mới bổ sung cho hiện thực trữ tình của thể loại ngâm khúc nói riêng và
Nguyễn Ngọc Ánh
9
K32C - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
cho nền văn học dân tộc nói chung. Và Tự tình khúc cũng chính là một thành
công, một tác phẩm có giá trị, ghi dấu ấn tên tuổi Cao Bá Nhạ và là một minh
chứng cho sự phong phú, đa dạng của thể loại ngâm khúc.
1.2. Thể loại ngâm khúc
1.2.1. Khái niệm
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán thì “Ngâm khúc: thể thơ trữ tình dài hơi thường
được làm theo thể song thất lục bát để ngâm nga, than vãn nhằm bộc lộ
những tâm trạng, tình cảm buồn phiền, đau xót triền miên, day dứt. Vì thế
ngâm còn được gọi là vãn hay thán” [9, 137].
1.2.2. Nguồn gốc, quá trình hình thành
Xã hội Việt Nam đầy biến động từ khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà
Lê (năm 1527) kéo theo nhiều biến cố lớn xảy ra như cuộc chiến tranh Nam Bắc triều; Trịnh - Nguyễn tranh nhau một dải sơn hà, rồi Tây Sơn nổi lên
quét tan tác các thế lực, đánh đuổi ngoại bang cho đến khi Gia Long lên ngôi
hoàng đế (năm 1802). Ở triều Tự Đức, nông dân khắp nơi nổi dậy chống lại
triều đình trong đó có cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật ở Bắc Ninh và đặc
Văn học trung đại xưa có một đặc trưng khá phổ biến là ngay từ nhan đề
đã gọi tên thể loại của tác phẩm. Từ Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Bình
ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) cho đến Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ)… đều
mang đặc điểm này. Ngâm khúc xuất hiện từ giữa thế kỷ XVIII cũng không
nằm ngoài đặc trưng ấy.
Văn học từ thế kỉ X đến thời điểm mà Chinh phụ ngâm khúc (Nguyễn
Gia Thiều) ra đời thì hình tượng con người cá nhân đã xuất hiện với nhu cầu
hướng nội “quay về bên trong”. Họ muốn giãi bày những miềm sâu thẳm của
thế giới tâm hồn, mong tìm sự đồng điệu cảm thông. Ngâm khúc đã bộc lộ ưu
thế của mình trong đặc trưng trữ tình. Do đó sự ra đời của thể loại là một tất
yếu.
“Ngâm” theo cách chiết tự 吟 có bộ khẩu, nghĩa đen là sự rên rỉ do đau
đớn ở bên trong con người phát ra. Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Ngâm về
mặt nội dung có mục đích phơi trải tầm lòng đau xót bởi nỗi đau xót tiếc hận
của nhân vật trung tâm trong khúc ngâm”. Đó là nỗi đau được diễn tả bằng
“lời”.
Nội dung của khúc ngâm thường tập trung vào tiếng nói đau thương
của con người trước những mất mát cá nhân mà vĩnh viễn không tìm lại đươc.
Đó là tuổi trẻ tàn phai, tình yêu tan vỡ, gia đình ly tan,... Nỗi đau ấy kéo dài
Nguyễn Ngọc Ánh
11
K32C - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
7
3
7-1
4
7+1
Cộng
28
Ông chỉ ra rằng: "Thơ song thất lục bát mang mô hình một khổ bốn dòng,
mỗi dòng 7 âm tiết trong đó hai dòng đầu giữ nguyên mô hình gốc 7 âm tiết,
Nguyễn Ngọc Ánh
12
K32C - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
còn hai dòng sau biến thành 7-1 và 7+1; nghĩa là vẫn đảm bảo mỗi khổ thơ
28 âm tiết" [7, 24]. Cùng nghiên cứu về song thất lục bát Trần Đình Sử còn
K32C - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
miên lặp đi lặp lại khôn nguôi. Nhịp điệu thơ cũng chính là nhịp điệu của
lòng người, của tâm hồn. Nó rất phù hợp đối với việc diễn tả tâm trạng sầu
thương của nhân vật trữ tình.
Đỉnh cao đánh dấu thành công của nó là sự ra đời của Chinh phụ
ngâm (Đặng Trần Côn) và bản dịch song thất lục bát của Đoàn Thị Điểm.
Với thể loại ngâm khúc thì một khổ thơ song thất lục bát được xây
dựng bởi hai tám âm tiết, chia thành bốn câu nhưng có tới sáu vần, bao gồm
nhiều loại: vần lưng (yêu vận), vần chân (cước vận), vần bằng, vần trắc, hiệp
vần ở âm tiết thứ năm, âm tiết thứ sáu và cả âm tiết thứ ba. Sự xuất hiện nhiều
vần, nhiều loại vần trong một khổ thơ, một mặt tăng thêm tính nhạc, mặt khác
tạo nên sự luyến láy làm cho tốc độ câu thơ chậm lại. Hiện tượng đó lặp đi lặp
lại liên tục trong nhiều khổ thơ, đem đến sự cộng hưởng âm vận, cộng hưởng
ấn tượng cảm nhận về sự triền miên quẩn quanh của dòng tâm trạng.
Kết cấu là vấn đề then chốt của lí luận và thể loại nói chung. Nói về
vấn đề này, A.Xâytlin cho rằng “Bất cứ một thể loại văn học nào cũng đều có
đặc điểm kết cấu riêng và như vậy tức là có những ưu thế của nó”. Theo các
tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: “Bất cứ một tác phẩm văn học nào
cũng có một kết cấu nhất định. Kết cấu là phương tiện cơ bản và tất yếu của
khái quát nghệ thuật. Kết cấu đảm nhận chức năng đa dạng, bộc lộ chủ đề và
tư tưởng các tác phẩm tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm như một hiện tượng
thẩm mĩ” [9,157]. Theo đó chúng ta có thể hiểu kết cấu của ngâm khúc được
biểu hiện như sau:
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra kiểu kết cấu của thể loại ngâm khúc là
cảm nhận mới về cuộc sống. Các nhân vật khác nếu xuất hiện chỉ là trong
dòng cảm xúc của nhân vật mà thôi. Nếu như ở các thể loại thơ ca, nhân vật
trữ tình thường thể hiện những tình cảm mãnh liệt, những tâm trạng thăng hoa
trong các khoảnh khắc thì ở ngâm khúc nỗi đau uất hận, tình cảm kéo dài
triền miên vì thế nhân vật trong các tác phẩm này có nhu cầu kể lể, tâm sự
giãi bày nỗi lòng mình. Khúc ngâm có thể kéo dài hàng trăm câu mà không
cần cốt truyện.
Trong ngâm khúc ngôn ngữ dân tộc được sử dụng khá phong phú giàu
sức sống, giàu màu sắc, âm thanh, nhạc điệu có khả năng diễn tả sinh động,
chính xác những vấn đề hết sức thầm kín, riêng tư trong tâm hồn con người.
Ngoài ra để thể hiện tâm trạng bi kịch, các khúc ngâm đều mang một giọng
điệu trữ tình bi thương. Vì vậy các từ chỉ trạng thái đau buồn của con người
xuất hiện với tần số cao như: buồn, phiền… đặc biệt là các từ láy trong hệ
Nguyễn Ngọc Ánh
15
K32C - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
thống từ thuần Việt - lớp từ có giá trị biểu cảm lớn có khả năng tạo hình, tăng
tính nhạc cho thơ ca. Do đó rất phù hợp với khúc sầu bi của tâm trạng.
Tuy nhiên ở một số tác phẩm, đôi chỗ cách dùng từ, gieo vần còn
gượng ép. Các tác phẩm này chủ yếu thuộc nhóm khuyết danh.
Tóm lại: Với những đặc điểm trên ngâm khúc là thể loại có ưu thế đặc
thờ vua, làm quan để giúp nước, giúp dân.
Với Cao Bá Nhạ nói riêng và cả dòng họ Cao nói chung thì giấc mộng
khoa bảng lại trở thành yếu tố thường trực một nét đẹp lưu truyền từ ngàn đời
của gia tộc. Dòng họ Cao từ trước đã nổi tiếng ở Kinh Bắc vì có nhiều người
học giỏi, văn hay và đỗ đạt làm quan to. Thời Lê, Trịnh đã có người ghi dấu
ấn rất hiển hách như Cao Bái Hiến, đậu tiến sĩ, làm tới Binh bộ thượng thư
triều Lê và giữ chức tham Tụng trong phủ Chúa. Người thứ hai là Cao Cửu
Chiếu là giáo thụ huyện Gia Định (nay là Gia Bình – Bắc Ninh) cũng có tiếng
là người tài đức đã đào tạo được nhiều học trò thành đạt. Ngoài ra trong dòng
họ Cao còn có nhiều người đỗ đạt làm phủ, huyện nhưng vẫn giữ được tính
thanh liêm và được nhân dân mến yêu.
Đến đời cụ đồ Hai, ông nội Cao Bá Nhạ tuy cảnh nhà sa sút nhưng nền
nếp Nho lưu của cả dòng họ vẫn được bảo tồn. Thân phụ ông là Cao Bá Đạt
Nguyễn Ngọc Ánh
17
K32C - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
cùng với chú ông là Cao Bá Quát cũng là hai người học giỏi nhất thời Tự
Đức. Bản thân Cao Bá Nhạ tuy không đỗ đạt làm quan nhưng lại tinh thông
kinh sử và có tài văn chương.
Do đó mở đầu khúc Tự tình tác giả tự giới thiệu mình là con nhà khoa
bảng mà lại có nết hạnh bằng một giọng văn, một niềm cảm xúc tràn đầy tự
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Hướng và đều tỏ ra tự hào vì xưa nay dòng họ Cao cha truyền con nối vẫn giữ
một nếp chuyên cần không suy chuyển:
Đèn Mông Chính canh khuya một ngọn
Màn Trọng Thư năm trọn nửa vây
Mượn những điển tích về những bậc trung hiếu, đạt nhiều thành tích
cao trong khoa bảng, Cao Bá Nhạ đã khéo léo khẳng định tài đức của dòng họ
và bản thân mình. Đặc biệt là sự khẳng định phẩm chất trung cần, kiên định
của dòng họ Cao. Như thế những con người trong dòng họ ấy đều tỏ ra không
có gì nguy hiểm đối với chính quyền phong kiến đương thời.
Không những vậy, Cao Bá Nhạ còn lấy tài đức của những con người
trong dòng họ để so sánh với Triệu Biên, Mao Khanh, Tư Mã…
Giá cầm hạc so vào Triệu Biên
Thư phụng hoàng đưa đến Mao Khanh
Đó đều là những con người sống mẫu mực trong lịch sử mà người đời
sau luôn ngưỡng mộ, ngợi ca.
Noi theo truyền thống đó Cao Bá Nhạ và cả gia tộc họ Cao đã làm nên
những thành công vẻ vang và nó được chứng minh bằng chính sự nghiệp vì
nước, vì dân cống hiến tận tụy cho nhân dân của cả gia tộc họ Cao và đặc biệt
là người cha Cao Bá Đạt của tác giả:
Ngẫm tiên phụ nửa đời khổ tiết
Vì thế:
Trong vòng Thú - lịnh phẩm bình còn khen
Cái danh mà họ Cao để lại chính là sự đức độ tấm lòng yêu thương trải
dài tới mọi kiếp người và nó được thể hiện qua sự biết ơn quý trọng của dân
chúng đối với dòng dõi họ Cao. Để rồi:
Dấu trung ấn in miền mây trắng.
Bá Nhạ là một nhà nho có tài, học rộng và hiểu biết cho nên ông cũng từng ấp
ủ cái mộng “chim hồng mong chấp cánh mây” để phục vụ chế độ đương thời
như
Lửa Thái - ất đêm soi Lưu Hướng.
Cầu Thăng - Tiên ngày tưởng Tràng Khanh
Cho nên những năm sống trốn tránh ông vẫn mở trường dạy học kiếm
sống qua ngày và làm thơ phú để bầu bạn với cảnh thiên nhiên xung quanh.
Điều đó đã cho thấy Cao Bá Nhạ là một nhà nho chân chính có khát vọng rất
chính đáng. Bởi theo quan niệm của kẻ sĩ xưa đã là nam nhi thì phải có sự
nghiệp, công danh để đem tài năng ra phục vụ triều đình. Ngoài ra nói về bản
Nguyễn Ngọc Ánh
20
K32C - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
thân nhà thơ sánh mình với Trành Bạch, Đào Chu… Đó đều là những con
người có nếp sống thanh cao không màng danh lợi. Đây cũng chính là sự
khẳng định mạnh mẽ phẩm giá của bản thân trước thói đời đen bạc. Khúc Tự
tình được viết trong hoàn cảnh đề lao kề cận giữa sự sống và cái chết, chất
chứa đầy giá trị hiện thực và nhân văn sâu sắc chính là một minh chứng tiêu
biểu, sắc nét cho tài hoa của Cao Bá Nhạ.
2.2. Tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến và luật tru di tam tộc
Tự tình khúc từng được đánh giá là “một khúc ngâm lâm li thống thiết
động đứng lên khởi nghĩa cùng với sự thất bại của Cao Bá Quát đã đẩy cả gia
tộc họ Cao vào vòng lao lí. Tự tình khúc một mặt là tiếng than bi thiết của
con người, mặt khác cũng chính là tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến cùng
với luật tru di quá khắc nghiệt của chúng.
Như chúng ta đã biết xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đầu thế
kỷ XIX là một xã hội nhiều biến động, một xã hội mà chế độ phong kiến đang
ở thời kỳ khủng hoảng trầm trọng. Vua quan nhà Nguyễn ăn chơi vô độ
không tin dùng người hiền tài, không có cơ sở dân tộc và nhân dân. Nó chỉ
còn cách dựa trên những chính sách hết sức độc tài, chuyên chế mới có thể
củng cố được uy thế chính trị. Những vụ giết hại công thần và chủ trương kìm
hãm tài năng không lấy trạng nguyên, không dùng tể tướng đã chứng minh
điều đó trong lịch sử. Việc sử dụng chính sách bạo ngược ấy đã thủ tiêu cá
tính, bóp nghẹt tài năng giày xéo lên cuộc sống và gây bao đau khổ loạn lạc
cho nhân dân. Bi kịch của gia đình Cao Bá Nhạ chỉ là một trong muôn vàn
những bi kịch thê thảm của chế độ chính trị ấy.
Trước cái biến khủng khiếp của gia tộc, tất cả con trai họ Cao đều lần
lượt sa vào lưới tru di của triều đình nhà Nguyễn, chỉ duy nhất Cao Bá Nhạ là
còn sống nhưng sự sống của ông cũng đang bị pháp luật phong kiến đe dọa
nghiêm trọng. Ý thức được điều đó nên trong khúc Tự tình, chúng ta thấy
hiện lên chân dung một nhà Nho Cao Bá Nhạ tha thiết với cuộc sống của
mình:
Phù sinh một sợi tơ mành
Giữ gìn di thể như hình thiên kim
Trong thảm họa của dòng tộc có lẽ Cao Bá Nhạ là người chịu đựng cái
bi kịch tinh thần dai dẳng hơn cả bố và chú. Ông không thể hành động giống
người cha của mình - tuân thủ quy tắc ứng xử của kinh sách thánh hiền là
“anh hùng khi gấp” thì quyết “sát thân thành nhân”. Mặt khác, chính vì ý thức
Nguyễn Ngọc Ánh
chính quyền phong kiến phản động chuyên sống bằng cướp bóc của cải,
xương máu của những người dân nghèo lương thiện hiện lên dưới ngòi bút
của Cao Bá Nhạ thật chân thật và đầy xót xa:
Gà eo óc vừa tan giấc mộng.
Nhặng vo ve sực động hồn kinh
Cao Bá Nhạ đã có một cái nhìn sâu sắc, thấy rõ chân tướng của sự
thực với tất cả những nét “trần trụi” bỉ ổi của nó. Hình ảnh bọn lính lệ hiện lên
Nguyễn Ngọc Ánh
23
K32C - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
rất mẫn cán trong việc khám phá bắt người. Chúng sợ Cao Bá Nhạ trốn thoát
do đó đã bố trí ngăn đón các nẻo đường và khi trời vừa sáng chúng đột nhập
ngay vào nhà. Chúng tưởng thừa dịp này vơ vét sạch của nạn nhân nhét cho
đầy túi tham của mình. Nhưng chúng đã thất vọng, chúng trả thù vào những
đồ vật rẻ tiền, vô tội, và đập phá tan hoang.
Với những câu thơ đầy sức gợi ấy chúng ta cảm nhận được văn phong
cũng như tài hoa của Cao Bá Nhạ. Ông đã sống trong sự thực nhìn suốt qua
sự thực để thấy rõ cái chân tướng của nó và ông đã diễn tả lại bằng một lối
văn sống động, truyền thần được cả sự thực làm cho người đọc có cảm tưởng
hiện thực ấy đang được phơi bày trước mắt mình. Và một điều xót xa hơn cả
là sống trong xã hội ấy, chế độ ấy, ý thức được rõ sự phi lí của xã hội nhưng
Tiểu đồng thổn thức chung quanh.
Thê nhi lăn lóc bên mình khóc than
Chỉ trong khoảnh khắc mà chúng đã gây ra “muôn vàn thê thảm” cho một
gia đình đang sống trong cảnh đầm ấm yên vui.
Phút nửa khắc muôn vàn thê thảm.
Trông một mình bảy tám biệt ly
Gia đình tan nát cha xa con, vợ lìa chồng dường như đã trở thành nỗi
ám ảnh dai dẳng trong xã hội lúc bấy giờ. Người dân sống dưới chế độ ấy, dù
có bị vùi dập đến thế nào đi chăng nữa thì cũng chỉ biết tìm đến một phương
thức duy nhất là than khóc kêu thương cho cảnh ngộ của bản thân mình mà
thôi. Do đó hình ảnh những người dân hiện lên dưới cảm quan hiện thực của
Cao Bá Nhạ thật xót xa, ai oán.
Và cũng như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Tự tình khúc của Cao Bá
Nhạ đã phơi ra ánh sáng bộ mặt thật nhơ nhớp của bọn thống trị đương thời.
Đỉnh cao cho nỗi đau đớn ấy, nỗi oan khuất ấy chính là những tháng ngày
cuối trong cuộc đời của Cao Bá Nhạ. Ông phải sống trong cảnh:
Gông ba thược ai bày nên nợ.
Cũi một gian khéo dở ra trò
Cuộc sống ấy đâu phải là cuộc sống của một con người mà là kiếp sống
của một con vật. Cao Bá Nhạ không những phải chịu nỗi đau đớn về tinh thần
mà ông còn phải chịu nỗi đau cùng cực về thể xác. Rồi trong cái cảnh giam
cầm khổ nhục ấy, ông lại còn bị giải đi đây đó và phải trải qua nhiều sương
gió nắng mưa hết sức khổ cực:
Nay phó xuống Đông thành tạm trú.
Mai truyền sang Bắc lộ ruổi ra
Nguyễn Ngọc Ánh
25