TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
THÁI THỊ ÁI
TÌM HIỂU GIÁ TRỊ NỘI DUNG
VÀ NGHỆ THUẬT CỦA TRUYỆN NÔM
QUAN ÂM THỊ KÍNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI, 2015
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Thị
Việt Hằng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô cùng các thầy cô
giáo trong khoa Ngữ Văn đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá
trình triển khai đề tài.
Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Thái Thị Ái
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của bản thân dưới sự
hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Thị Việt Hằng. Kết quả luận văn không trùng
khớp với các công trình nghiên cứu khác, nếu sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
3.3.2. Nghệ thuật sử dụng điển cố................................................................... 39
KẾT LUẬN .................................................................................................... 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong nhiều năm trở lại đây, nghiên cứu văn học từ góc độ văn hóa đã
trở thành một hướng đi hấp dẫn. Nhiều tác phẩm văn chương được khai thác
từ chiều sâu văn hóa đã cho ra những kết quả khá thú vị, hấp dẫn và sâu sắc.
Đối với văn học trung đại Việt Nam, đặc biệt là những trước tác phản ánh nội
dung tôn giáo lại càng không thể tách rời văn hóa, truyện Nôm Quan Âm Thị
Kính là một tiêu biểu.
Quan Âm Thị Kính là một tác phẩm truyện Nôm đặc biệt của văn học
Việt Nam trung đại, bởi tác phẩm vốn được viết ra để kể lại một tích truyện
Phật giáo song tác giả của nó lại đồng thời đã gửi đến cho người đọc một câu
chuyện cuộc đời bất hạnh của người phụ nữ. Nhiều nhà khoa học như Trần
Thị Băng Thanh, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Thị Nhàn… và cả giới nghiên
cứu Phật học như Thiều Chửu, Nguyễn Lang… đều đã ít nhiều nhận định về
một số khía cạnh về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, song một cái nhìn
bao quát về giá trị nội dung và nghệ thuật lại chưa xuất hiện.
Là một sinh viên khoa Ngữ Văn, một giáo viên dạy Văn trong tương
lai, việc hiểu biết sâu rộng về văn học Việt Nam nói chung và văn học trung
đại nói riêng vô cùng cần thiết, nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật tác
phẩm Quan Âm Thị Kính chính là một công việc thiết thực, góp phần bổ trợ
kiến thức cho quá trình học tập và giảng dạy sau này của cá nhân.
Những tiền đề khoa học và thực tiễn nói trên đã thôi thúc chúng tôi lựa
chọn đề tài “Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện Nôm Quan
Âm Thị Kính” cho khóa luận của mình.
chịu đựng trong mọi hoàn cảnh và tình huống éo le, ngang trái.
2
Năm 2015, trong tạp chí “Từ điển và bách khoa thư Việt Nam”, tác giả
Nguyễn Thị Việt Hằng có bài Hệ thống ngôn từ diễn tả nội dung Phật giáo
trong tác phẩm Quan Âm Thị Kính. Bài viết đã thống kê, giải nghĩa hệ thống
ngôn từ Phật giáo và nêu lên ý nghĩa của hệ thống ngôn từ thể hiện nội dung
Phật giáo trong tác phẩm. Trong bài viết có đoạn “Quan Âm Thị Kính là một
tác phẩm tôn giáo kể về Phật Quan Âm Thị Kính, song bằng tài năng của
mình tác giả đã tạo nên một tác phẩm đầy xúc động về số phận đau khổ, oan
khuất của người phụ nữ. Có lẽ vì vậy mà cái đích tôn giáo đã mờ đi so với
việc diễn tả về thân phận con người, tuy thế, nội dung câu chuyện Thị Kính
đắc đạo thành Phật cùng với những quan niệm cơ bản của Đạo phật vẫn hiện
lên rõ rệt qua hệ thống ngôn từ chuyên biệt cũng như hệ thống ngôn từ ngoài
Phật giáo trong tác phẩm” [10,38]
Như vậy truyện thơ này đã có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau với
nhiều quan điểm của các tác giả, đó sẽ là những cơ sở quan trọng và cần thiết
cho quá trình nghiên cứu của chúng tôi trong việc đi sâu khai thác tác phẩm ở
mặt nội dung và nghệ thuật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của khóa luận là nghiên cứu khái quát về giá trị nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm Quan Âm Thị Kính.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ vấn đề và tác giả và tác phẩm.
Phân tích những khía cạnh cơ bản về nội dung và nghệ thuật của tác
phẩm.
NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX
Tác phẩm Quan Âm Thị Kính ra đời trong giai đoạn văn học từ thế kỷ
XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, đây thời kỳ chế độ xã hội Việt Nam rơi vào tình
trạng khủng hoảng trầm trọng. Thực trạng đất nước lúc bấy giờ bị ngăn cách
ra Đàng Ngoài và Đàng Trong. Đàng Ngoài do vua Lê đứng đầu, nhưng chỉ là
vua bù nhìn, nắm toàn bộ quyền hành trong tay là chúa Trịnh lộng quyền, ăn
chơi sa đọa. Đàng Trong do chúa Nguyễn đứng đầu. Cuộc nội chiến giữa
Đàng Trong và Đàng Ngoài kéo dài, khiến đời sống nhân dân vô cùng cực
khổ.
Những mâu thuẫn chất chứa trong lòng xã hội phong kiến đến giai
đoạn này đã trở nên gay gắt. Vua tôi lẫn lộn, cương thường đảo ngược, mọi
giá trị văn hóa đều bị đứt tung. Nho giáo là sợi dây cố kết xã hội cũng bị
lung lay tới tận cội rễ, những giáo điều khắt khe không còn đủ sức giam
hãm con người trong những khuôn khổ chật hẹp, càng không đủ sức để dập
tắt hoặc làm yếu đi cả một trào lưu tư tưởng mới.
Sự sụp đổ của giai cấp thống trị làm cho đời sống nhân dân vô cùng cực
khổ, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra, tiêu biểu của những cuộc khởi
nghĩa này là phong trào Tây Sơn năm 1789 do Nguyễn Huệ khởi xướng.
Trước sự hỗn loạn trong nội bộ giai cấp thống trị, năm 1789 nghĩa quân Tây
Sơn kéo ra Bắc đánh tan 20 vạn quân Thanh, Lê Chiêu Thống cùng đám tùy
tùng bỏ chạy theo tàn quân của bọn xâm lược. Nhân dân được hưởng thái
5
bình, non sông quy về một mối. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn (1789 1792) cuộc sống của nhân dân lại trở về trạng thái ban đầu với những cảnh
đói rét, bất công, loạn lạc, li tán. Tiếp đó, năm 1802 Gia Long lật đổ chúa
hay Quan Âm Thị Kính.
Tóm lại, giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa cuối thế kỷ XIX chế độ phong
kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc dẫn đến sự thay đổi
của tất cả các lĩnh vực đời sống đặc biệt là văn hóa và văn học. Chính những
biến cố, thăng trầm của lịch sử đã là cho văn học có một diện mạo mới, văn
học thời kì này mang một nội dung tư tưởng sâu sắc đó là chủ nghĩa nhân
đạo với tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc và sự đấu tranh giải
phóng con người. Điều này có tác động mạnh mẽ đến lối viết của các nhà
thơ, nhà văn thời trung đại. Mỗi một tác giả đều có những sáng tạo riêng
song vẫn quy về nội dung tư tưởng sâu sắc mang những sắc thái và cảm xúc
riêng biệt.
1.2. Tác giả và tác phẩm
1.2.1. Tác giả
Quan Âm Thị Kính từ trước vẫn được độc giả coi như một tác phẩm
khuyết danh, tuy nhiên hiện nay vẫn tồn tại hai quan điểm về tác giả của
truyện thơ này như sau:
Quan điểm thứ nhất theo nghiên cứu của Hoa Bằng (1902 - 1977) thì tác
giả của truyện thơ này là Nguyễn Cấp chưa rõ năm sinh năm mất, là một nhà
văn sống vào nửa đầu thế kỉ XIX. Ông là người ở thôn Thượng, xã Nguyên
Khiết, huyện Thọ Xương, nay thuộc thành phố Hà Nội. Sau khi đỗ Giải
nguyên năm Qúy Dậu 1828, ông được bổ chức quan, lần lượt trải đến chức
Tri phủ Thiên Trường 1829. Sau vì một chuyện lôi thôi trong kiện tụng mà vợ
ông có dính líu, ông bị bắt giam nhưng trốn được. Nhờ Nguyễn Công Trứ
bấy giờ đang làm Tham tán quân vụ ở Lạng Giang che chở, nên ông đến ẩn tu
7
tại đây. Tác phẩm Quan Âm Thị Kính được ông sáng tác vào lúc cuối đời, đã
thể hiện phần nào tâm sự u uất của ông. Ngoài ra,trong gia phả tại chùa Bổ Đà
tên của đàn ông. Kính là giữ gìn nghiêm cẩn, không phóng túng . Trong kinh
Phổ Môn nói: Chúng sinh tham dục quá, thường niệm cung kính Quán Thế
Âm Bồ Tát, tự nhiên sạch lòng tham dục; Chúng sinh hay giận dữ, thường
niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, liền sạch lòng giận dữ; Chúng sinh ngu
si, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát liền hết ngu si. Ấy là cái
chính nghĩa chữ kính là cái công hiệu chữ kính đó. Hễ hiểu được nghĩa chữ
kính, làm cho được hết chữ kính, tức là tiến được quá nửa con đường vào đạo
vậy. Khi bà Thị Kính tới chùa Vân mà sự cụ đặt tên cho là Kính Tâm, cũng
một ý ấy vậy.
Theo nghĩa kinh điển nhà Phật hai chữ “quan” và “quán” có cùng một
nghĩa. Do vậy, có thể gọi tên tác phẩm là Quan Âm Thị Kính hay Quán Âm
Thị Kính cũng không làm thay đổi ý nghĩa nhan đề tác phẩm.
Quan Âm Thị Kính là một truyện thơ Nôm viết theo thể lục bát, cốt tả
đức tính nhẫn nhục và lòng từ bi của bà Thị Kính - nhân vật trung tâm trong
tác phẩm, chính nhờ những phẩm chất cao quý của mình mà sau này bà trở
thành Phật Bà Quan Âm. Theo văn bản do GS. Dương Quảng Hàm giới thiệu
trong Việt Nam thi văn hợp tuyển mục Quan Âm Thị Kính, truyện gồm 786
câu thơ được chia theo bố cục làm 5 phần:
I. Thị Kính mắc tiếng oan giết chồng (câu 1- câu 224): Thị Kính, người
nước Cao Ly, nguyên kiếp trước là đàn ông, trải qua chín kiếp tu hành đắc
đạo sắp thành Phật nhưng Phật Thích - ca muốn thử lòng bắt đầu thai xuống
làm một cô gái nghèo nhà họ Mãng, chịu nhiều cảnh oan khổ để thử đức độ.
Lớn lên, Thị Kính lấy chồng học trò tên là Thiện Sĩ con trai nhà phú ông. Một
đêm chồng học quá khuya, ngủ thiếp đi, Thị Kính ngồi khâu bên cạnh, thấy
một sợi râu mọc ngược, sẵn có dao cầm tay nên toan cắt đi. Chồng giật mình
tỉnh dậy, tưởng vợ có bụng hại mình, liền hô hoán lên. Cha mẹ chồng chạy
tới, một mực gán cho Thị Kính tội mưu sát chồng.
9
cứu giúp người khác theo tinh thần của Đạo phật. Truyện Quan Âm Thị Kính
trình bày quan niệm giải thoát dưới nhãn quan của người xuất gia. Tu hành
không phải là hình thức làm duyên với hoa đàm, đuốc tuệ, an vui với tiếng mõ
câu kinh, mà tu hành phải khổ hạnh, phải trải qua bao nhiêu thử thách gian
truân, đó là cơ hội cho người ta lấy tâm từ để chiến thắng cảnh ngộ, không chỉ
giải thoát cho cá nhân, mà còn cứu độ tha nhân.nghĩa, giá trị Phật giáo của tác
phẩm nằm ở đấy, được thể hiện một cách rõ nét qua từng câu thơ đầy ý nghĩa
của tác giả. Hơn nữa đó còn là sự giác ngộ Phật đạo một cách sâu sắc của con
người qua những chân lí, triết lí sống mà họ được trải nghiệm trong cuộc sống
cũng như trong sinh hoạt hằng ngày.
Quan Âm Thị Kính là một truyện thơ mang nhiều ý nghĩa về văn hóa
phản ánh những nét tâm lý, những suy nghĩ được truyền qua từ rất lâu đời của
người Việt Nam, đó chính là tâm lý cam chịu, chấp nhận trước những bất
công, ngang trái của xã hội, đó là một thái độ “phớt đời”, thường tìm đến nơi
yên bình để lánh xa những bon chen của xã hội, mặc cho người đời ngoài kia
có xô bồ, tranh đấu thì những con người này cam chịu và chấp nhận số phận.
Đó còn là sự run rẩy, e sợ trước cái xã hội còn có quá nhiều điều bất hợp lí
đối với thân phận con người và tiêu biểu là người phụ nữ - hình ảnh những
con người nhỏ bé, vất vả, chịu thương chịu khó trong một xã hội còn quá đỗi
bất công, tiếng nói của những người phụ nữ dường như không có trọng lượng
và điển hình hơn là nhân phẩm của họ bị trà đạp nơi đáy xã hội.
Về nghệ thuật, tác phẩm cũng đạt đến một trình độ khá điêu luyện qua
những câu thơ lục bát trau chuốt khi thì châm biếm, mỉa mai khi thì đậm đà
màu sắc trữ tình. Những biện pháp nghệ thuật đan xen, thống nhất với nhau
tất cả làm nên một nội dung đặc sắc và giàu ý nghĩa, trong đó không thể
không kể đến nghệ thuật xây dựng nhân vật tài tình, ngôn ngữ thơ lắng đọng,
hàm súc, không gian và thời gian nghệ thuật được biểu hiện rõ nét trong từng
sao để thay đổi, mong cầu hạnh phúc nhưng không thể hạnh phúc, chỉ biết
nghẹn ngào, uất hận, phiêu bạt trong kiếp sống đọa đày theo ý trời. “Hồng
nhan bạc mệnh” là một sự thật ngẫu nhiên không thể tránh khỏi. Điều này
được đại thi hào Nguyễn Du khẳng định trong kiệt tác Truyện Kiều:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Hay:
Rằng: “Hồng nhan tự thuở xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”
13
Không chỉ Nguyễn Du, trong các sáng tác của nữ sĩ Hồ Xuân Hương,
ngoài đề tài về tín ngưỡng phồn thực thì không ít bài thơ nói lên tiếng nói
đồng cảm, thương xót cho số phận của người phụ nữ như Lấy chồng chung,
Làm lẽ…thân phận của họ “bảy nổi ba chìm với nước non” với những bấp
bênh, nổi trôi trước cuộc đời còn quá nhiều bất công và ngang trái, khi người
phụ nữ không có tiếng nói, không được nâng niu, chở che và bảo vệ. Hay
cách thấu hiểu của Đặng Trần Côn trong Chinh phụ ngâm là “hồng nhan đa
truân”, kiếp hồng nhan luôn phải chịu nhiều đắng cay tủi nhục, phải đối mặt
với bao nỗi truân chuyên, tủi hờn :
Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
(Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên)
Đó dường như là bi kịch chung cho số phận người phụ nữ khi sống
trong một xã hội nhiều bất công với quan niệm trọng nam khinh nữ, thân phận
người phụ nữ bị rẻ rúng, coi thường, chịu nhiều đắng cay và tủi nhục. Quả
thật, người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công ngang trái
Qua hành động cắt sợi râu mọc ngược cho chồng người đọc cảm nhận
được Thị Kính là một người phụ nữ yêu thương chồng hết mực, nàng để ý đến
từng chi tiết nhỏ của chồng, quan tâm và chăm sóc cho chồng một cách tận
tình, chu đáo vậy mà sự quan tâm ấy lại mang tiếng oan giết chồng :
Thất thần nào kịp hỏi han
Một lời la lối rằng toan giết người
Trong hoàn cảnh ấy, bố mẹ chồng đã đứng ra kết tội Thị Kính với
những lời nặng nề, cay độc. Chỉ vì những lời cáo buộc trong hoàn cảnh “tình
ngay lý gian”, nàng đã bị khoác vào đủ lớp áo xấu xa hoàn toàn đối lập với
con người thực của nàng:
15
Công cô rằng bảo cho hay
Trộm hương cắp phấn cũng đầy chan chan
Mấy người tiệt quyết một an
Nay Tương mai Lý thế gian hiếm gì
Còn Thiện Sĩ hoàn toàn im tiếng, không có một lời bênh vực cho người
vợ của mình, qua đó nhân vật này hiện lên là một người chồng nhu nhược
không tin tưởng với người luôn gần bên, đầu gối tay ấp với mình.Quả là đáng
trách. Trong tình huống éo le không một ai tin tưởng, nàng khó mà có thể
biện minh cho mình, để phải mang một án oan định giết chồng, bị trả về gia
đình, cha mẹ đẻ của nàng đau xót trước hoàn cảnh trớ trêu ấy:
Lắng nghe kể lể sự tình
Ngậm ngùi nghĩ đến con mình mà thương
Với người phụ nữ trong xã hội ngày xưa, không trọn đạo vợ chồng là
một điều ô danh không chỉ cho bản thân mà còn gánh vào nỗi nhục của gia
đình.Người đọc có thể thấy được tâm trạng đau đớn, xót xa của người phụ nữ
chịu một tiếng oan khiên khi bị đuổi khỏi nhà chồng và trở và nhà bố mẹ đẻ :
sẽ nhận thấy ở đây người viết như muốn chia sẻ cùng nàng:
Phòng riêng vò võ hôm mai
Trông ngày đằng đẵng lại dài hơn năm
Buồn trông giọt ngọc đầm đầm
Mùi ăn chẳng nhớ, giấc nằm chẳng ngon
Nực cười sự cỏn còn con
Bằng lông mà nảy ra cồn Thái Sơn
Vẻ chi chút phận hồng nhan
Cánh hoa nở muộn thời tàn mà thôi
Rõ ràng trong đoạn thơ đã dành nhiều từ ngữ khắc hoạ nỗi đau buồn
của một người bị phụ rẫy mà không biết thở than, chia sẻ với ai. Gia đình
nàng cũng vì tai tiếng mà phải ngậm đắng nuốt cay nhìn con chôn vùi tuổi
xuân. Bởi vậy giải pháp đưa ra là để nàng ra đi, lánh xa mọi phiền não thế
17
gian. Nhân vật Thị Kính mắc phải tiếng oan, không quyết liệt phản ứng lại
thực tại, gột rửa tiếng xấu nhơ nhuốc trong cuộc sống thực, mà chọn con
đường xuất gia cầu đạo. Dường như đối với tác giả truyện Nôm này, đó cũng
là một giải pháp hợp lý, đưa con người vượt qua bể khổ. Nhưng trước khi là
người của chốn Phật môn, nàng đã tỏ rõ những nỗi niềm của một người con
chí hiếu phải đứt ruột gạt lệ xa lìa cha mẹ già. Trong cảnh thân gái dặm
trường, tấm tình của nàng hướng toàn bộ về gia đình:
Tưởng ân trời bể mông mênh
Dễ mà đền được ân tình ấy đâu
Tà tà bóng ngả cành dâu
Sớm khuya dưới gối ai hầu hạ thay
Vắng lời khuất mặt lúc này
Lòng người thiểu não biết ngày nào nguôi
Một phương diện trong việc đánh giá phẩm hạnh con người theo quan
thành Phật, và thuyền trần chưa neo được vào bến giác. Đức Phật Thích Ca
Mầu Ni muốn thử lòng nên đã đưa ra thử thách:
Đức Mầu Ni xuống thử lòng
Hiện ra một ả tư dung mỹ miều
Lần khan ép dấu nài yêu
Người rằng: vốn đã lánh điều trăng hoa
Chỉ vì một niệm sai lầm :
Có chăng kiếp trước họa là
Kiếp này sợi chỉ trót đà buộc tay
mà phải bị thác sinh, trầm luân thêm một kiếp ở cõi người. Hơn nữa ở đây lại
là kiếp hồng nhan bạc mệnh, một người phụ nữ phải chịu quá nhiều đau đớn,
oan ức và tủi nhục.Thị Kính là một phụ nữ đã tài sắc vẹn toàn lại hiếu thảo hết
lòng, được bố mẹ gả cho Sùng Thiện Sĩ, chỉ vì muốn cắt sợi râu mọc ngược
trên khuôn mặt người chồng mà nàng bị vu oan cho tội giết chồng. Tình ngay
19
lý gian, không sao giãi bày được nỗi oan, Thị Kính cắn răng chịu tủi nhục,
quay về nhà cha mẹ. Nhưng rồi nỗi oan khổ cũng chẳng biết thổ lộ cùng ai,
nàng bèn quyết tâm đi tu, trước là báo đáp ân sâu của cha mẹ, sau là tẩy rửa
nỗi oan khiên, nàng tìm đến nương nhờ nơi cửa Phật để cõi lòng được bình
an, và được yên phận với những tháng ngày còn lại.
Đoạn đời thứ hai của Thị Kính gắn với màu áo nâu sồng của một chú
tiểu. Từ thân phận phụ nữ, phải cải dạng nam trang để chôn vùi quá khứ trong
lời kinh câu kệ, tìm chút thanh thản, không vướng bụi trần. Thế nhưng dường
như chướng căn tiền kiếp đã làm nên mối oan tình thứ hai từ vụ án chửa
hoang của Thị Mầu, đó dường như là sự trả giá từ kiếp trước của Thị Kính,
chỉ vì một chút vọng tâm (tâm sai lầm) với cái niệm mê lầm vào nữ sắc,
không giữ được cái tâm chân thật mà gieo nhân xấu để rồi nhận lấy quả xấu
Song thân ta đấy là nhà phải không?
Bể non chưa chút đền công
Bấy lâu nay những nặng lòng vì con
Tuy rằng những đoạn diễn tả tâm trạng này không phức tạp và đẫm
nước mắt như Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, nhưng đọc lên vẫn
khiến người nghe phải thương cảm cho nỗi niềm của một người con chí hiếu.
Nhìn từ tâm trạng của tiểu Kính Tâm, ta có thể thấu đáo hơn quan niệm về
người xuất gia của dân gian đã được gửi gắm trong tác phẩm. Đây là sự gặp
gỡ giữa đạo và đời bằng một sợi dây vô hình nhưng có mối liên kết chặt chẽ
và khăng khít.
Trên con đường đắc đạo thành Phật, Thị Kính mang nỗi oan với Thị
Mầu. Thị Mầu là một hình tượng khá độc đáo trong truyện Nôm Quan Âm Thị
Kính với những dục vọng không hề che đậy. Thị Mầu cũng là một dạng thôn
nữ yếm thắm rất táo bạo trong những khát vọng trần thế, bởi vậy khi gặp tiểu
Kính Tâm mà đem lòng yêu thương cũng là điều tất yếu. Đoạn kể chuyện Thị
Mầu ve vãn tiểu Kính Tâm sau này đã được nghệ thuật sân khấu chèo dựng
21