TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
THÁI THỊ ÁI
TÌM HIỂU GIÁ TRỊ NỘI DUNG
VÀ NGHỆ• THUẬT
• CỦA TRUYỆN
• NÔM
QUAN ẦM THỊ KÍNH
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•
•
C huyên ngành: V ăn học V iệt N am
HÀ NỘI, 2015
•
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Thị
Việt Hằng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô cùng các thầy cô
giáo trong khoa Ngữ Văn đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá
trình triển khai đề tài.
NỘI DƯNG............................................................................................................ 5
Chu o ng 1: NHỬNG VẤN ĐỀ CHƯNG...........................................................3
1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX......................... 5
1.2. Tác giả và tác phẩm........................................................................................ 7
1.2.1. Tác giả.......................................................................................................... 7
1.2.2. Tác phẩm......................................................................................................8
Chương 2: GIÁ TRỊ NỘI DUNG TÁC PHẲM QUAN ÂM THỊ K ÍN H .. 13
2.1. Quan Ẵm Thị Kính diễn tả bi kịch của người phụ nữ..............................13
2.2. Quan Ấm Thị Kỉnh lí giải số phận con ngưởi bằng tư tưởng Phật giáo... 19
Chương 3: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TÁC PHẨM QUAN ẦM THỊ KÍNH
................. . ....................................................................!................................................................................. *........... 30
7
3.1. Thể loại..........................................................................................................30
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân v ậ t.................................................................... 33
3.3. Ngôn ngữ nghệ thuật.................................................................................... 38
3.3.1. Hệ thống ngôn ngữ thể hiện nội dung Phật giáo.....................................38
3.3.2. Nghệ thuật sử dụng điển cố...................................................................... 39
KÉT LUẬN.........................................................................................................42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐÀU
1. Lí do chọn đề tài
Trong nhiều năm trở lại đây, nghiên cứu văn học từ góc độ văn hóa đã
trở thành một hướng đi hấp dẫn. Nhiều tác phẩm văn chương được khai thác
từ chiều sâu văn hóa đã cho ra những kết quả khá thú vị, hấp dẫn và sâu sắc.
Đối với văn học trung đại Việt Nam, đặc biệt là những trước tác phản ánh nội
Năm 2004, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong cuốn Từ điến văn học (bộ
mới), đưa ra những nhận định cơ bản về tác giả Quan Ầm Thị Kính. Ở đây,
ông cũng đánh giá khái quát về nội dung và nghệ thuật của tác phấm: “Nhân
vật Thị Kính từ lâu đã trở thành một điển hình sắc sảo cho số phận của người
phụ nữ trong xã hội cũ, nơi tập trung chồng chất mọi nỗi bất công, oan nghiệt.
Và thông qua cuộc đời Thị Kính, bức tranh ngang trái đầy mâu thuẫn của xã
hội phong kiến thời tác giả sống, hiện lên thật rõ nét... Thêm vào đó, bút pháp
viết truyện của tác giả thật già dặn, lời thơ nhiều chỗ điêu luyện, chải chuốt
(châm biếm hóm hỉnh, như khi nói về Thị Mầu; dồi dào cảm xúc như khi nói
về cái chết của Thị Kính) nên càng tăng sức phố biến của tác phấm (câu thành
ngữ "Oan như Thị Kính" quen thuộc của người Việt đã chứng tỏ sức sống của
câu chuyện)... Tuy nhiên, triết lý "nhẫn nhục" cũng đã làm cho truyện thiếu đi
một sức phản kháng cần thiết” [4,1471].
Năm 2012, trong tạp chí “Văn hóa Phật giáo số 18” tác giả Thích Huệ
Thiện có bài Quan Am Thị Kính và cách nghĩ của người Việt về người phụ nữ
Việt đã nêu rõ quan điểm trong cách nhìn nhận về người phụ nữ trong xã hội
xưa, tuy người phụ nữ ấy chịu nhiều bất hạnh và bi kịch trong cuộc đời nhưng
ở họ vẫn toát lên những phẩm chất và nhân cách cao đẹp, đó là sự nhẫn nhục,
chịu đựng trong mọi hoàn cảnh và tình huống éo le, ngang trái.
2
Năm 2015, trong tạp chí “Từ điển và bách khoa thư Việt Nam”, tác giả
Nguyễn Thị Việt Hằng có bài Hệ thong ngôn từ diễn tả nội dung Phật giáo
trong tác phẩm Quan Ầm Thị Kính. Bài viết đã thống kê, giải nghĩa hệ thống
ngôn từ Phật giáo và nêu lên ý nghĩa của hệ thống ngôn từ thể hiện nội dung
Phật giáo trong tác phẩm. Trong bài viết có đoạn “Quan Âm Thị Kính là một
tác phẩm tôn giáo kể về Phật Quan Âm Thị Kính, song bằng tài năng của
mình tác giả đã tạo nên một tác phẩm đầy xúc động về số phận đau khổ, oan
Phương pháp liên ngành
Phương pháp thống kê phân loại
Cùng các thao tác chứng minh, lập luận, phân tích, tổng hợp.
6. Đóng góp của khóa luận
Bổ sung vào tư liệu nghiên cứu Quan Ầm Thị Kính một đề tài về giá trị
nội dung và nghệ thuật của tác phấm.
7. Bố cục khóa luận
Khóa luận được triển khai theo 3 phần: phần mở đầu, nội dung và kết
luận.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung được chia theo bố cục 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Giá trị nội dung tác phẩm Quan Ấm Thị Kính
Chương 3: Giá trị nghệ thuật tác phẩm Quan Ẩm Thị Kính
4
NỘI DUNG
Chương 1
N H Ữ N G V Ấ N ĐÈ C H U N G
1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX
Tác phẩm Quan Ăm Thị Kính ra đời trong giai đoạn văn học từ thế kỷ
XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, đây thời kỳ chế độ xã hội Việt Nam rơi vào tình
trạng khủng hoảng trầm trọng. Thực trạng đất nước lúc bấy giờ bị ngăn cách
ra Đàng Ngoài và Đàng Trong. Đàng Ngoài do vua Lê đứng đầu, nhưng chỉ là
vua bù nhìn, nắm toàn bộ quyền hành trong tay là chúa Trịnh lộng quyền, ăn
chơi sa đọa. Đàng Trong do chúa Nguyễn đứng đầu. Cuộc nội chiến giữa
Đàng Trong và Đàng Ngoài kéo dài, khiến đời sống nhân dân vô cùng cực
khổ.
của đất nước. Phật giáo chiếm một vị trí quan trọng trong sự tồn tại và phát
triển của hệ tư tưởng giáo lí Việt Nam, những khái niệm, những nội dung triết
học sâu sắc của đạo Phật như những gợi ý, những luồng ánh sáng tiếp dẫn cho
những thi nhân cảm hứng về cuộc đời sâu sắc hơn và theo một định hướng
nhất định.Vì vậy mà nhà nước có những chính sách phù họp đối với những
giá trị của tư tưởng Đạo Phật. Ở mạch cảm hứng này, những tư tưởng, triết lí
và những giáo lí Đạo phật được cảm nhân dưới dạng thức cụ thể, hữu hình
của đời sống hiện thực nhờ vậy mà những khái niệm triết học khô khan, trìu
tượng, khó hiểu trở nên gần gũi, gắn bó với những buồn vui trần thế và được
minh chứng, thể nghiệm bằng những biến cố, sự việc thường nhật của cuộc
đời và cũng chính vì vậy chúng có đời sống bền lâu trong thời gian và ảnh
6
hưởng rộng lớn trong dân chúng và những triết học Phật giáo ấy góp một
phần quan trọng làm nên giá trị bất tử cho những tác phẩm mang nội dung sâu
sắc với phương tiện phản ánh cụ thể đó là Cung oán ngâm khúc, Truyện Kiều
hay Quan Ảm Thị Kỉnh.
Tóm lại, giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa cuối thế kỷ XIX chế độ phong
kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc dẫn đến sự thay đối
của tất cả các lĩnh vực đời sống đặc biệt là văn hóa và văn học. Chính những
biến cố, thăng trầm của lịch sử đã là cho văn học có một diện mạo mới, văn
học thời kì này mang một nội dung tư tưởng sâu sắc đó là chủ nghĩa nhân
đạo với tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc và sự đấu tranh giải
phóng con người. Điều này có tác động mạnh mẽ đến lối viết của các nhà
thơ, nhà văn thời trung đại. Mỗi một tác giả đều có những sáng tạo riêng
song vẫn quy về nội dung tư tưởng sâu sắc mang những sắc thái và cảm xúc
riêng biệt.
1.2. Tác giả và tác phẩm
Vấn đề tác giả của truyện thơ này vẫn được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm và tìm hiểu, mặc dù có hai luồng ý kiến về tác giả của truyện thơ này
nhưng người đọc vẫn nhận thấy được sự sáng tạo tài tình của người viết trong
lối viết, lối tư duy và lối kể chuyện sắc sảo của tác giả.
1.2.2. Tác phẩm
Quan Ẵm Thị Kính mang ý nghĩa nhan đề sâu sắc. Theo Thiều Chửu
trong cuốn “Giải thích truyện Quán Âm Thị Kỉnh”, NXB Đà Nang, năm
2002, nhan đề tác phẩm được giải thích một cách rõ ràng và dễ hiểu như sau:
-
Quán Âm : Theo nghĩa cứu đời thì là một vị Bồ Tát coi xem cái tiếng
đời kêu tên ngài mà ngài cứu cho. Tiếng kêu mà lại nói là coi xem được, là vì
Bồ Tát đã tu chứng tới cõi sáu căn cùng dùng chung được, như tai có thể
trông, mắt có thể nghe được vậy. Theo nghĩa tự tu, là Bồ Tát dùng cái trí tuệ
sáng láng chiếu rọi vào trong, thấy rõ cái bản tính vì sao mà nghe được tiếng
tâm của thế gian mà ngộ đạo vậy.
8
-
Thị Kính: Thị là họ, đàn bà dùng chữ Thị để phân biệt khác với lối đặt
tên của đàn ông. Kính là giữ gìn nghiêm cẩn, không phóng túng . Trong kinh
Phổ Môn nói: Chúng sinh tham dục quá, thường niệm cung kính Quán Thế
Âm Bồ Tát, tự nhiên sạch lòng tham dục; Chúng sinh hay giận dữ, thường
niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, liền sạch lòng giận dữ; Chúng sinh ngu
si, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát liền hết ngu si. Ấy là cái
quá buồn tủi, Thị Kính bèn giả trai đến tu ở chùa Vân (Vân Tự), được đặt
pháp danh là Kính Tâm.
III. Thị Kính mắc tiếng oan với Thị Mầu (câu 371 - 584): Trong vùng
có Thị Mầu, con gái phú ông, vốn tính lẳng lơ đa tình. Cô này lên chùa thấy
chú tiếu Kính Tâm liền đem lòng si mê, say đắm. Bị Thị Mầu nhiều lần trêu
ghẹo, nhưng trước sau Kính Tâm vẫn thờ ơ. Không nén được lòng ham muốn,
Thị Mầu có mang với người đầy tớ trong nhà. Khi bị hào lý trong làng tra hỏi,
Thị Mầu đổ tội cho Kính Tâm. VI thế Kính Tâm bị sư cụ phạt bắt ra ở ngoài
cổng chùa.
IV. Thị Kính nuôi con Thị Mầu (câu 385 - 692): ít lâu sau, Thị Mầu
sinh một con trai, bèn đem tới cổng chùa giao phó cho Kính Tâm nuôi dưỡng.
Được ba năm đứa bé đã khôn lớn, thì Kính Tâm mắc bệnh nặng rồi mất.
Trước khi qua đời, Kính Tâm có viết một bức thư để lại cho cha mẹ và đứa bé
con của Thị Mầu.
V. Thị Kính rủa sạch tiếng oan và thành Phật (câu 693 - 786): Xem thư
tuyệt mệnh của tiểu Kính Tâm, người nhà mới biết tội mưu giết chồng là oan
ức. Khi liệm thi hài, sư, vãi trong chùa mới rõ Kính Tâm là phụ nữ. Vậy là cả
hai nỗi oan đều được tháo gỡ. Sau đức Phật Thích - ca xét Kính Tâm quả là
người tu hành đắc đạo, cho bà được siêu thăng làm Phật Quan Âm.
Quan Ầm Thị Kính mang tư tưởng Phật giáo sâu sắc, đây là tác phẩm
làm sáng tỏ đạo lý từ bi của Phật với hình tượng Thị Kính - đó là hiện thân
của lòng từ bi của Đức Phật Bà (chấp nhận, nhẫn nhục trước mọi oan trái
cuộc đời đế hướng tới sự giải thoát), sự nhẫn nhục của người phụ nữ trong
mọi hoàn cảnh gây nhiều xúc động cho người đọc, chữ “nhẫn” xuất hiện gián
tiếp và xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phấm làm nối bật lên tính cách và
phẩm chất đáng quý của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, người
phụ nữ ấy không chỉ biết giữ đức độ cho cá nhân mà còn đem lòng từ bi ấy
10
11
thời điểm, từng khoảnh khắc, từng lúc, từng nơi cùng sự xuất hiện của các
nhân vật.
Tiểu kết chương 1
Chính bối cảnh lịch sử và những chính sách về văn hóa của các triều
đại phong kiến đã có những tác động đến “diễn ngôn” của thời đại. Quan Ảm
Thị Kính cũng như các trước tác văn học giai đoạn này đã trở thành tấm
gương phản ánh sâu sắc tình hình lịch sử - xã hội và tư tưởng đương thời.
12
Chương 2
G IÁ TR Ị N Ộ I D U N G TÁC PH Ẩ M Q U A N Ẩ M TH Ị K ÍN H
2.1. Quan Âm Thị Kính diễn tả bi kịch của người phụ nữ
Truyện thơ Quan Âm Thị Kính là tác phẩm đặc sắc trong nền văn học
dân tộc, vốn rất phố biến với người dân Việt Nam, nó không chỉ tồn tại với tư
cách là một tác phẩm văn học mà còn được truyền tải thành các tác phẩm của
các loại hình sân khấu đại chúng như chèo, tuồng, cải lương, kịch... Tác
phẩm không chỉ là một tích truyện Phật giáo mà còn là một câu chuyện cuộc
đời đầy bi kịch của người phụ nữ, chính nội dung ấy gây sự ám ảnh và hấp
dẫn cho người đọc về số phận bất hạnh của người phụ nữ đẹp người đẹp nết
Thị Kính.
Trong xã hội phong kiến nhiều bất công ngang trái, số phận bất hạnh
của người phụ nữ là một đề tài được nhiều tác giả quan tâm và đồng cảm,
thân phận của họ chịu ảnh hưởng sâu sắc của thuyết “tài mệnh tương đố” hay
thuyết “thiên mệnh”, đó là nỗi thống khổ của những người biết vì sao mình
thật, người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công ngang trái
luôn phải chịu đựng nhiều đau khổ, họ thương thân xót phận, thương cho số
phận hẩm hiu và bất hạnh. Như vậy, không riêng gì Quan Âm Thị Kính mà
hầu như các tác phẩm văn học cổ điển nước ta đều đồng vọng một tiếng nói
chung, một cách nhìn nhất quán về thân phận của người phụ nữ Việt đó là sự
truân chuyên, nối chìm, hồng nhan mệnh bạc.
Nhân vật Thị Kính xuất hiện trong tác phẩm trước tiên là một người
con gái đẹp người đẹp nết, đến tuối dựng vợ gả chồng nàng được gả cho một
gia đình danh giá và gia giáo, tưởng chừng hạnh phúc sẽ mỉm cười với con
người ấy nhung sự thật lại quá phũ phàng và cay nghiệt.
14
Ban đầu, nàng cũng có một gia đình hạnh phúc, một mối lương duyên
tốt đẹp:
Tiếng cầm tiếng sắt bẻ bai
Tiếng chiêng tiếng trống êm tai rập rình
Một đôi tài sắc vừa xỉnh
Đố Tăng Do vẻ bức tranh nào bằng
Thị Kính được mô tả với những phẩm hạnh nết na đủ mọi điều, trong
mắt mọi người xứng là vợ hiền dâu thảo. Tuy nhiên, bi kịch trong đời sống
hôn nhân mở đầu cho một chuỗi các bi kịch về sau của Thị Kính, nàng phải
chịu sự oan ức của một người vợ hết mực yêu thương chồng, bị mất đi hạnh
phúc gia đình và bị đẩy đớn đau đớn, tủi nhục. Mối quan hệ gia đình đổ vỡ
bắt nguồn từ tình tiết nửa đêm cầm dao định cắt râu mọc ngược cho chồng
của Thị Kính, điều này được tóm gọn trong các câu thơ:
Nào khi liếc mắt trông chàng
Thấy râu mọc ngược ở ngang dưới cằm
Vô tâm xúi bông đa tâm
chịu một tiếng oan khiên khi bị đuổi khỏi nhà chồng và trở và nhà bố mẹ đẻ :
Lòng nàng xiết nôi xót xa
Má đào ủ dột mặt hoa âu sầu
Đen nơi làm lê khấu đầu
Lạy công cô đoạn hồi sau lạy chòng
Như tuôn giọt ỉệ dòng dòng
Nín hơi thốn thức nôi lòng say sưa
Xung đột trong gia đình đã tước đoạt đi hạnh phúc lứa đôi của người
phụ nữ nết na đức hạnh, để lại mối thương tâm khó nguôi trong tâm hồn
Thị Kính. Đoạn thơ diễn tả cuộc chia tay của hai vợ chồng có thể thấy rõ
nỗi bất hạnh của Thị Kính khi có một người chồng yêu vợ nhưng lại quá
hời hợt nên không hiểu nổi vợ mình, Thiện Sĩ nhu nhược, không có chính
16
kiến, đáng trách không chỉ ở thái độ hồ đồ mà còn ở thái độ thiếu dứt
khoát, đang tâm dứt mối duyên tình với người vợ đã nặng thề nguyền :
Vỉ đâu phút hợp phút ly
Kiếp này đã dở chắc gì kiếp sau
Thiệt công ô thước bắc cầu
Chàng Ngưu ả Chức giã nhau từ rày
Thị Kính đã phải lạy tạ dứt áo ra đi, nói những lời đầy nước mắt,
nhưng anh ta hoàn toàn không phản ứng. Chỉ đến khi Thị Kính thật sự
bước chân đi, Thiện Sĩ mới tiếc ngẩn ngơ, sùi sụt:
Phấn kia còn dấu bình đây
Hương kia còn dính ảo này chưa phai
Xanh xanh khóm liễu Chương Đài
Tiếc thay đã đế tay ai vin cành
Thị Kính mang tiếng oan nhơ nhuốc, trở về đầy tủi hổ với gia đình.
Lòng người thiếu não biết ngày nào nguôi
Một phương diện trong việc đánh giá phẩm hạnh con người theo quan
niệm nhân dân đó là chữ “hiếu”, Thị Kính được xây dựng như một người con
hiếu hạnh, ngay cả giai đoạn sau này khi ở chốn Thiền môn vẫn luôn canh
cánh bên lòng tình thương yêu dành cho cha mẹ.
Bi kịch trong đời sống hôn nhân mở đầu cho những bi kịch tiếp sau của
Thị Kính, trên con đường tu tập nhiều thử thách, Thị Kính cũng chịu tiếng
oan ức mà không biết giãi bày cùng ai, nỗi oan như nặng thêm khi Thị Kính
chịu tiếng oan với Thị Mầu và nuôi đứa con của Thị Mầu, cuộc đời của nàng
vì thế mà chịu nhiều bất hạnh, đau đớn và tủi hổ, cái chết của Thị Kính gây
cho người đọc nhiều xúc động và thương cảm, khép lại một cuộc đời quá
nhiều bi kịch.
Nhân vật Thị Kính là điến hình cho số phận người phụ nữ chịu nhiều
đau đớn tủi hố khiến người đọc thương cảm, xót xa với những cay đắng mà
những con người ấy phải chịu đựng trong suốt một thời gian dài, điều này làm
nên giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.Đó là sự đồng cảm , xót xa của tác
18
giả trước những bi kịch của con người với số phận bất hạnh, qua đó cũng phê
phán xã hội phong kiến nhiều bất công, đấy con người tới những đau khố tột
cùng.
2.2. Quan Âm Thị Kính lí giải số phận con ngưởỉ bằng tư tưởng Phật
giáo.
Toàn bộ những chi tiết xoay quanh cuộc đời Thị Kính đều được lí giải
bằng tư tưởng Phật giáo với những triết lí sống sâu sắc và nhân văn. Sự lí giải
ấy được bắt nguồn từ tích truyện Phật giáo kế về cuộc đời và số phận của Thị
Kính. Nội dung tư tưởng Phật giáo là giải thoát cho con người khỏi biển khổ,
tu hành theo Phật giáo là thoát khỏi cảnh khổ để đến cõi niết bàn hoàn toàn
hoang của Thị Mầu, đó dường như là sự trả giá từ kiếp trước của Thị Kính,
chỉ vì một chút vọng tâm (tâm sai lầm) với cái niệm mê lầm vào nữ sắc,
không giữ được cái tâm chân thật mà gieo nhân xấu để rồi nhận lấy quả xấu
bằng thử thách trong oan nghiệt suốt một đời người rồi mới thành Phật,Thị
Kính vì một niệm khởi dâm mới bị đọa xuống làm người, chịu cảnh trần
duyên nửa đời nửa đoạn, đi tu lại gặp Thị Mầu vu oan cho tội dâm, theo quan
niệm của Đạo Phật thì đó là luật nhân quả gây nên nhiều oan trái cho con
người. Theo đạo Phật, luật nhân quả nghiệp báo được đề cao, con người ta
gieo nhân nào thì gặp quả đó, có thể thấy ngay cái quả do nhân mình gieo
trong kiếp này nhưng cũng có khi là kiếp khác, nghiệp là hành động chúng ta
lặp đi lặp lại, nếu hành động đúng, tốt thì nghiệp báo sẽ tốt, nếu làm việc xấu,
mắc nợ cuộc đời thì nghiệp báo bắt ta phải trả.
Thị Kính không chỉ đóng vai trò của một nạn nhân mà còn đóng vai trò
của một đấng cứu nạn. Đưa ra tình huống truyện éo le này, trước hết tác giả
Quan Ăm Thị Kính nhằm đề cao chữ “nhẫn” của bậc chân tu. Thị Kính đến
với cửa thiền môn có thể coi là giải pháp cho nhiều người phụ nữ bất hạnh,
mong tìm thấy một chốn nương tựa bình an. Tuy nhiên ngay chính nơi tưởng
như lánh xa đời tục, những tham, sân, si vẫn cám dỗ một cách dai dẳng,
20
những mối dây liên hệ với cuộc đời vẫn không thể cắt bỏ. Ngay những ngày
sống ở cửa Phật, dường như Thị Kính vẫn là con người của trần thế, của gia
đình. Những khoảnh khắc nhớ nhà của Thị Kính cũng được diễn giải rất tự
nhiên, cho thấy mối dây hồng trần vẫn khiến nàng không hắn để lòng mình
nguôi ngoai theo nhịp kinh kệ:
Đòi cơn tưởng nôi hương quê
Người đi ngàn dặm ỉòng về năm canh
hay: