NHỮNG TƯ TƯỞNG TÂM LÝ HỌC THỜI KỲ HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ
SỰ RA ĐỜI CỦA TÂM LÝ HỌC VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT KHOA HỌC
ĐỘC LẬP
Lịch sử tâm lý học theo quan điểm tâm lý học Mác xít là lịch sử phát sinh
hình thành và phát triển các tư tưởng, các trường phái tâm lý học từ thời cổ đại
cho đến ngày nay. Về cội nguồn của nó thì lịch sử phát triển tâm lý học đã gắn
liền với lịch sử phát triển của triết học. Quá trình ấy cũng gắn với sự những
thăng trầm, thành công và thất bại, lịch sử của cuộc đấu tranh quyết liệt giữa
các trào lưu, các tư tưởng, các trường phái tâm lý học trong lịch sử nhân loại.
Trải qua nhiều chặng đường trong lịch sử, thời kỳ cổ đại cách đây hàng
chục ngàn năm, những nền văn minh lớn đã xuất hiện như: Ai Cập, Hy Lạp, La
Mã, Trung Hoa... và báo hiệu buổi bình minh của lịch sử về khả năng sáng tạo
vô tận của loài người. Đồng thời còn khẳng định đây chính là cơ sở của nền văn
minh hiện đại. Ăng-ghen viết: “Không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc
La Mã thì không có châu Âu hiện đại”1.
Lịch sử Tâm lý học là một môn khoa học nghiên cứu sự hình thành và phát
triển của những tri thức, những hiểu biết về hiện thực tâm lý ở các giai đoạn
khác nhau của sự phát triển tri thức khoa học. Sự xuất hiện các tri thức khoa học
về tâm lý, các tư tưởng tâm lý học cổ xưa được xem như là sự xuất hiện những
kiến thức của nền văn minh nhân loại, mà nguồn gốc sâu xa là do lao động sáng
tạo của con người và xã hội loài người có được, tính tất yếu khách quan của sự
phát triển ấy cho thấy tất cả những tri thức của con người như là vật mang
những phẩm chất, thuộc tính tâm lý đặc biệt như là chủ thể của các hoạt động
tâm lý của mỗi chủ thể. Các hình thức tồn tại của tri thức tâm lý của nhân loại
rất đa dạng, phong phú với nhiều cấp độ khác nhau nhưng gắn bó chặt chẽ với
nhau như các dạng ý thức thường ngày, những kiến thức về tâm lý người chứa
đựng trong tư tưởng của các nhà văn, nhà điêu khắc, nghệ thuật, hội hoạ và
trong các tư duy tôn giáo, sách kinh thánh mà loài người có thể chấp nhận như
một tiên đề của đời sống tâm linh. Sự phát triển tri thức về tâm lý như là kết quả
1
Tuy nhiên lịch sử phát triển tâm lỹ học cho đến nửa đầu thế kỷ XIX vẫn là
những tư tưởng tâm lý học phát triển trong lòng triết học, Tâm lý học chỉ trở
thành khoa học độc lập vào cuối thế kỷ XIX gắn với sự kiện của W.Wundt trong
việc tổ chức ra phòng thực nghiệm tâm lý học đầu tiên vào năm 1879. Khoa học
tâm lý học coi đó là cái mốc đánh dấu sự ra đời của tâm lý học với tư cách là
một khoa học độc lập. Trong phạm vi nghiên cứu của bộ môn, tiểu luận tập
trung làm rõ những tư tưởng tâm lý học thời kỳ Hy Lạp cổ đại và các thành tựu
khoa học là tiền đề cho sự ra đời của tâm lý học với tư cách là một khoa học độc
lập.
PHẦN 1. NHỮNG TƯ TƯỞNG TÂM LÝ HỌC THỜI KỲ HY LẠP
CỔ ĐẠI
Từ xa xưa, sự phát triển của tâm lý học nằm trong lòng triết học, cho đến
khi con người nhận ra rằng có một loại hiện tượng là tâm hồn mà con người cần
phải đề cập và cần có một khoa học nghiên cứu riêng về nó thì tâm lý học dần
dần được tách ra để trở thành một khoa học độc lập.
Trong bối cảnh xã hội Hy Lạp có nhiều biến động lớn trên các lĩnh vực
như: Sự phát triển cực thịnh về kinh tế, kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của
khoạ học đó là: Toán học, Thiên văn học, Địa chất học và Y học. Mặt khác tình
hình chính trị cũng có những sự biến động lớn, gắn với cuộc chiến tranh xâm
lược của đế quốc La Mã. Các triết gia trong xã hội Hy Lạp thời kỳ này cũng
đồng thời là các nhà tâm lý học, họ sớm có những tự tưởng về lĩnh vực khoạ
học con người, vấn đề tâm hồn được nhiều người tập hợp nghiên cứu và đưa ra
ánh sáng để lý giải. Các đại biểu là: Socrate (470 - 399 TCN); Democrit (460
-370 TCN); Platon (428 - 347 TCN); Aritstote (388 - 322 TCN). Vì vậy việc
nghịên cứu, tìm hiểu những tư tưởng tâm lý học thời kỳ Hy Lạp cổ đại có ý
nghĩa rất quan trọng một mặt chứng tỏ vấn đề tâm hồn của con người đã được
nghiên cứu từ rất sớm, mặt khác khẳng định tính tất yếu và điều kiện thực tế
cho nghành tâm lý học ra đời với tư cách là một khoa học độc lập.
mờ tối do các giác quan của con người đem lại, thông qua những cảm giác như:
thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác và vị giác. Nhận thức lý tính là nhận
thức chân lý thông qua những phán đoán lôgic, dạng này thường đem lại những
kết quả đáng tin cậy. Đây thực sự là một phát hiện nổi bật trong việc đề cập yếu
tố tinh thần con người nói chung và quá trình nhận của mỗi cá nhân nói riêng.
Mặc dù học thuyết tâm hồn của ông vẫn điển hình là quan điểm tự nhiên thô sơ
rnáy móc, còn chứa đựng nhiều yếụ tố siêu hình và không khoa học, lĩnh vực xã
hội vẫn còn bị ảnh hưởng quan điểm duy tâm khi xem xét đời sống vật chất và
tinh thần của con người. Tuy vậy những tư tương tâm lý học của ông để lại
nhiều vấn đề mới cần tiếp tục nghiên cứu cho các thế hệ sau này như tâm hồn
gắn với cơ thể và vận động theo quy luật.
1.2 Học thuyết về tâm hồn của Platon (428 - 347 TCN)
Là nhà triết học duy tâm cổ Hy Lạp, ông được coi là sự mở đổu của siêu hình
học phương Tây, là học trò nổi tiếng của Socrate và được đứng vào hàng ngũ
bảy hiền triết của Hy Lạp. Platon sinh ra trong một gia đình quý tộc thuộc dòng
họ Aten, lớn lên ông tham gia quân đội, sau này là người sáng lập ra chủ nghĩa
duy tâm khách quan, là tác giả nổi tiếng của nhiều nội dung triết học cùng thời.
Ông là người đầu tiên sản sinh ra một hệ thống hoàn chỉnh của chủ nghĩa duy
tâm khách quan thông qua học thuyết về “ý niệm” - học thuyết về sự tồn tại
của các hình thức vô vật thể của các vật mà ông gọi là loài hay những ý niệm
và đồng nhất chúng với tồn tại. Chính điều này là cơ sở để ông đưa ra quan
niệm về tâm hồn khá sâu sắc và phong phú. Platon cho rằng; Tâm hồn được
xây dựng trên cơ sở của những ý niệm, vì ý niệm là cái duy nhất của thế giới,
nó là cái năng động và tích cực nhất, còn vật chất, con người là cái thụ động vô
nghĩa. Với ông thì tâm hồn là cái vận động nhất và có khả năng tự vận động.
Hồn nhập vào cơ thể có sứ mệnh điều khiển cuộc sống của cơ thể. Tâm hồn
không phụ thuộc vào cơ thể mà là cái có trước. Platon là người đầu tiên đưa ra
quan niệm cấu trúc của tâm hồn có ba phần với các chức năng khác nhau. Tâm
tưởng đạo đức, nâng cao năng lực tư duy sáng tạo và năng lực thực hành, góp
phần vào thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
1.3 Học thuyết về tâm hồn của Aristote (384 - 322 TCN)
Aristote là tác giả vĩ đại nhất của tâm lý học cổ đại. Ông sinh ra trọng một
gia đình tại cung đình của vua Maxêdoan. Năm 17 tuổi vào học viện Platon sau
đó làm nghề dạy học, nghiên cứu khoa học. Aristote là tác giả của nhiều tác
phẩm nổi tịếng như: Siêu hình học, Chính trị học, Đạọ đức học, Mỹ học, Vật lý
học và Tâm lý học. Trong đó tác phẩm tâm lý học đầu tiên trong lịch sử “Bàn
về tâm hồn” được xem là công trình vĩ đại trong thời kỳ này. Nếu Democrite
mới chỉ có tư tưởng về tâm hồn mang tính duy vật sơ khai mộc mạc thông qua
“Thuyết nguyên tử luận”, hay như Platon đề cập về tâm hồn có tính hệ thống
cấu trúc được xây dựng trên cơ sở các “ý niệm”, thì Aristote đã làm được nhiều
hơn thế, chính là bằng tác phẩm “Bàn về tâm hồn” của ông.
Ngay cả phương pháp và nội dung đề cập của mình trong tác phẩm, ông đã thể
hiện tính khoa học và hệ thống khi nghiên cứu. Trước, tiên Aristote hệ thống
các quan điểm về tâm hồn trước đó như: Tâm hồn được cấu tạo nên từ các
nguyện tử, tâm hồn vận động cao nhất và có khả khả năng tự vận động, tâm
hồn đựợc tạo nên từ đất, nước, lửạ, khí, từ đó ông phê phán những quan điểm
không đúng, ông cho rằng có nhiều : cơ sở để nghi ngờ tâm hồn vận động.
Aristote lý giải nếu nói tâm hồn đau thương, vui vẻ, sợ hại là không đúng, mà
nên nói con người thông cảm, học tập, vui vẻ thông qua tâm hồn. Ông cho rằng
tâm hổn gắn chặt với triết học theo quan niệm của ông về vật chất và hình thức.
Khi đề cập tâm hồn, ông đưa ra quan niệm rất nổi tiếng là; Tầm hồn bao gồm
tri tuệ, tình cảm, suy nghĩ, các quá trình, các trạng thái tâm lỷ, các tác động từ
bên ngoài vào cơ thể. Vì vậy, muốn hiểu tâm hồn phải đi từ mối quan hệ giữa
cái bên ngoài tâm hồn, trong đó ông đặc biệt để ý tới mối quan hệ giữa tấm lý
và ý thức. Đây được coi là một khám phá rất mới mang mầu sắc của quan điểm
duy vật về tâm hồn. Ông cho rằng cội nguồn của cái tậm lý là từ bên ngoài,
tìm kiếm đối lượng nghiên cứu của tâm lý học, đó cũng là đóng góp cửa những
nhà nghiên cứu tâm sinh lý học, tâm vật lý học như: H.Helmholtz (1821-1894),
Dubois Reymond, G.T.Fcchner (1801-1887), E.Weber (1795-1878) F.Donders
(1818-1889)…Trong đó vai trò của W.Wundt và phòng thực nghiệm tâm lý
học đầu tiên ra đời trên thế giới là cái mốc đánh dấu sự quyết định cho sự ra
đời của khoa học tâm lý với tư cách là một khoa học độc lập. Đây là những cơ
sở quan trọng cho việc nghiên cứu những hiện tượng tâm hồn con người sau
này.
2.1 Tâm sinh lý học giác quan
Giai đoạn này hiện tượng thuộc đời sống tậm linh của con người đã đựợc
tập trung nghiên cứu cụ thể hơn, trong đó những vấn đề như: hình ảnh cảm
giác của con người xuất hiện như thế nào? nguyên nhân do đâu? mối quan hệ
giữa các hiện tượng và hình ảnh tâm lý xuất hiện trong não người xa sao?...v.v
đã được dòng tâm sinh lý học giác quan tập trung nghiện cứu và lý giải. Đại
biểu tâm lý học người Đức: F.Helraholtz (1821 - 1894). Bằng thực nghiệm ;về
sự táp động của yếu tố bên ngoài tới các giáp quan ông khẳng định: Hoạt động
của các giác quan con người giữ vai trò quyết định của quá trình nhận biết sự
vật hiện tượng, không có các giác quan thì mọi hiên tượng của thế giới bên
ngoài con người sẽ không thể nhận biết đươc, đồng thời khẳng định chỉ có hai
hiện tượng tâm lý chủ yếu ở con người là cảm giác và tri giác. Hai hiện tượng
tâm lý này phản ánh thế giới tự nhiên bên ngoài thông qua hoạt động của não
người, điều này đồng nghĩa với việc cho rằng cảm giác, tri giác là hình ảnh
chủ quan về những hiên tượng khách quan có thể nói tập sinh lý học giác quan
ngay từ đầu đã đặt ra vấn đề có ý nghĩa to lớn trong việc xác định, đối tựơng
nghiên cứu của tâm lý học mà bấy lây nay chưa có một môn học nào đề cập,
đó chính là hoạt động của cáp giác quan khi có sự tác động của thế giới bên
ngoài vào các giác quan và tạo ra xung động thần kinh trong não người và bản
thân giác qụan phải là một cái gì đó thì mới có thể có một hình ảnh tương ứng
các giác quan con người tạo ra những xung động thần kinh trong các giác quan,
đây là nguyên nhân làm xuất hiện hình ảnh cảm tính của con người. Đồng thời
nhờ hoạt động của các giác quan mà con người có được nhhũng hình ảnh tương
ứng với sự vật hiện tượng khách quan, theo phương hướng nghiên cứu thực
nghiệm này mà về sau đã xuất hiện một phương hướng duy vật đã lôi kéo nhiều
nhà khoa học đi vào nghiên cứu sự phối hợp của các giác quan trong quá trình
tạo ra hình ảnh cảm tính. Khi nghiên cứu tri giác không gian. F.Helmholtz cho
rằng kinh nghiệm giữ vai trò quyết định trong việc hình thành sự nhận thức của
con ngưòri. Tức nhận thức của con người phụ thuộc vào hình ảnh khách quan
của sự vật hiện tượng và kinh nghiệm của cá nhân. Có thể nói giai đoạn này các
nhà nghiên cứu theo quan điểm tâm sinh lý học giác quan khẳng định rằng có
một loại hiện tượng tinh thần mà từ trước tới nay chưa có một khoa học nào
thực sự chuyên tâm nghiên cứu chúng, đó là hiện tượng tinh thần, tâm lý gắn
với đời sống hàng ngày của con người, đó là một hiện tượng tâm lý có thật tồn
tại một cách khách quan. Cùng với các kết quả nghiên cứu của F.Helmholtz,
nhiều nhà khoa học đã để ý đến những vấn đề lớn hơn đó là xác định đối tượng
nghiên cứu của khoa học tâm lý. Đây là một trong những cơ sở quan trọng cho
việc thúc đẩy sự ra đời của khoa học tâm lý với tư cách là một khọa học độc
lập. Đó là vinh quang của F.Helmholtz là người đã có bước tiến mới trong lĩnh
vực tâm lý học. Các phát hiện của ông hoàn toàn đúng và được kiểm chứng
bằng thực nghiệm, tuy nhiên khi giải thích nguyên do của sự kiện đó, ông đã
mắc sai lầm là quay về với luận điểm duy tâm của “thuyết năng lượng chuyên
biệt’’, và cho rằng khi có một tác động vật lý vào một giác quan nào đó thì kích
thích này đã làm cho các năng lượng riêng chứa đựng trong các giác quan ấy
phóng ra làm cho ta cảm nhận được các kích thích ấy. F.Helmholtz cũng như
nhiều nhà khoa học thực nghiệm khác ở thời kỳ này đã dẫn đến những kết luận
tất yếu là: Mỗi giác quan không có cái gọi là “năng lượng chuyên biệt” mà ở
đây là mỗi giác quan có liên quan và thích ứng yới một loại kích thích như ánh
2.2 Tâm vật lý học
Tâm vật lý học cũng là một bộ môn khoa học có tư tưởng cho rằng các
hiện tượng tâm lý người có quy luật riêng, các quy luật ấy có thể nghiên cứu
bằng các thực nghiệm khách quan và có thể biểu đạt theo toán học được. Đại
biểu của dòng phái này là các nhà bác học người Đức G.Fechner (18081 1887)
và E.Weber (179511878). Tâm vật lý học là một dòng nghiên cứu đi sâu làm rõ
mối quan hệ giữa cường độ kích thích với hình ảnh tâm lý xuất hiện và biểu thị
bằng công thức toán học. Các nhà bác học nghiên cứu tâm lý học theo hướng
này cho rằng: Các quá trình, các hiện tượng tâm lý cũng giống như các hiện
tượng của quá trình tự nhiên có thể biểu đạt dược bằng công thức toán học, kết
quả nghiên cứu của tâm lý người theo phương pháp này cho thấy có thể tính
toán được các hiện tượng tâm lý đơn giản y hệt như các hiện tượng vật lý vậy
theo công thức: C = K.lgS. Khi nghiên cứu phản ứng của da và cơ bắp, E.
Werber đã tìm ra công thức về sự biểu thị mối tương quan giữa phản ứng cảm
tính và tác nhân kích thích từ bên ngoài vào cơ thể. Chỉ đến đây thôi chúng ta
cũng khẳng định giá trị và ý nghĩa trực tiếp của dòng phái tâm lý học này đối
với việc hình thành một khoa học tâm lý với tư cách là một khoa học độc lập. Vì
điều đó chứng tỏ rằng có một loại hiện tượng tâm lý tồn tại trong con người là
có thật, và như vậy phải có một khoa học ra đời để nghiên cứu nó. Mặt khác
phương pháp nghiên cứu tâm vật lý đã góp phần khẳng định rằng có thể và cần
phải nghiên cứu tâm lý bằng con đường thực nghiệm và có thể cần phải biểu
diễn các kết quả nghiên cứu tâm lý bằng các biểu thức định lượng. Chính đây là
cơ sở khoa học cho việc đưa ngôn ngữ toán học vào nghiên cứu và mô tả cũng
như chứng minh các kết quả nghiên cứu tâm lý người. Thông qua tư tưởng này
cũng cần phải nhấn mạnh rằng phương hướng đưa tâm lý học vào con đường
thực nghiệm và phải chú ý nghiên cứu cả các biẻu thức định lượng của các hiện
tượng tâm lý là một phương hướng duy vật cần được ủng hộ, theo quan niệm
này thì các phương pháp toán học trong tiến hành nghiên cứu tâm lý học từ giai
cho khoa học tâm lý, với tinh thần đó người ta gọi công thức củạ G.Fechner –
E.Weber là một trong những hòn đá tảng của nền tâm lý học mới. Cùng với sự
đóng góp cuă các nhà tâm sinh lý học giác quan, các nhà tâm vật lý học thực sự
là một thành tựu khoa học làm cơ sở tiền đề chọ sự ra đời của khoa học tâm lý,
không những vậy các tư tưởng cơ bản của các dòng phái tâm lý học đó còn là
căn cứ cho.vịệc hình thành và phát triển các quan điểm của tâm lý học Mácxit
như vịêc xây dựng quy luật về tính nhạy cảm của các giác quạn của quá trình
tậm lý nhận thúc. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu sự quan hệ giữa định tính và
định lượng trong các hiện tượng tâm lý người luôn là một vấn đề rất phức tạp
của phương pháp luận khoa học này. Trên thực tế có các kết quả nghiện cứu
khác nhau và các kết quả này có độ tin cậy khác nhau đều do các phương pháp
nghiên cứa đó tiến hành đúng hay sai mà thôi. Mặc dù vậy nếu tuyệt đối hoá
toán học, coi đây là phương pháp duy nhất trong nghịên cứu các hiện tượng tâm
lý người thì sẽ rơi vào luận điểm duy tâm chủ quan, thiết nghĩ đây chỉ là một
phướng pháp quan trọng, cần thiết trong việc làm sáng tỏ những vấn đề nghiên
cứu của khoa học tâm lý học. Ngày nay, rõ ràng là toán học đã đóng vai trò rất
quan trọng trong việc định hướng các kết quả nghiên cứụ. Cần phải thấy rằng ý
định sử dụng, để biểu thị, lượng hoá các hiện tượng tâm lý đã được đề cập từ
khá lâu và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực nghiên cứu khác
nhau của tâm lý học. Vì trong việc khám phá đối tượng của tâm lý học các nhà
tâm vật lý học đã thể hiện những đóng góp rất lớn đó là: Các kết quả do tâm vật
lý học đem lại - minh chứng cho việc khẳng định các quá trình tâm lý là có thật,
có thể biểu đạt dược nó qua các cồng thức toán học. Đồng thời có thể nghiên
cứu các hiện lượng tâm lý bằng phương pháp thực nghiệm, phương pháp khách
quan, đây là một phương pháp cán được sự ủng hộ và cổ vũ rộng rãi trong các
nghiên cứa của lĩnh vực này
2.3 nghiên cứu thời gian phản ứng
Nghiên cứu thời gian phản ứng của cơ thể trước các kích thích từ bên ngoài
nhanh vô cùng và thậm trí xem nó có vận tốc như vận tốc của ánh sáng. Bằng
thực nghiệm là: Kích thích vào một chỗ nào đó trong dây thần kinh cách cơ gắn
bố với dây thần kinh ấy một khoảng nhất định nào đó, rồi do cử động của cơ, ta
được vận tốc dẫn truyền thần kinh trong dây thần kinh ấy và gọi là t x, hóa ra
vận tốc này không lớn lắm, ví dụ: vận tốc dẫn truyền thần kinh của dây thần
kinh vận động ở người là 60 – 120 m/s, của dây thần kinh cảm ứng thì khá hơn
một chút và của dây thần kinh dẫn truyền cảm giác đau chỉ là 1 – 30 m/s
Khi nghiên cứu thời gian phản ứng là t p, tức là thời gian từ khi cho kích thích
tác động vào giác quan nói chung đến khi có một phản xạ tương ứng. Kết quả
cho thấy là: tp > tx. Vì sao có sự chênh lệch đó xẩy ra? hay nói cách khác là
giữa vận tốc phản xạ và vận tốc dẫn truyền xung động thẩn kinh có sự khác
nhau là vì có quá trình tâm lý tham gia vào đó, mà các nhà khoa học thường gọi
đây là quá trình thần kinh diễn ra một cách phức tạp hơn mỗi khi có các kích
thích tác động vào cơ thể, trong hệ thần kinh có các pha bổ xung làm cho quá
trình phản ứng của cơ thể thường chậm lại. Đây là cơ sở cho việc nghiên cứu
các cung phản xạ cũng như cơ chế hoạt động của hệ thần kinh trung ương. Đặc
biệt vấn đề mà chúng ta quan tâm ở đây là nhờ các công trinh nghiên cứu về
thời gian phản ứng mà một lần nữa khẳng định về sự có thật của các hiện tượng
khác với hiện tựợng sinh lý học trong sinh lý học thần kinh đã nghịên cứu ở
trên. Nhất là sự khác biệt giữa các hiên tượng tham gia vào sự kéo dài vận tốc
xung động thần, kinh với các hiện tượng cơ, lý, hóa của tâm vật lý học. Khi
nghiên cứu công thức: tp > tx, có thể dẫn ra một công thức khác tương tự để
khẳng định sự khách quan chính xác hơn của các kết quả thực nghiệm,này đó
là: tp = tx + tHTK, hoặc biến đổi thành công thức: tHTK = tp – tx, Trong đó: tHTK
chính là thời gian ẩn của phản ứng – thời gian ứng với việc xuất hiện một hiện
tựợng tâm lý tương ứng. Đến đây chúng ta càng khẳng định một cách chắc chắn
về sự tồn tại có thật của hiện tượng tâm lý người. Bằng thực nghiệm của mình,
F.Đonders cũng như các cộng sự của ông đã chia ra ba loại phản ứng tâm lý của
dẫn đến những kết luận rất quan trọng đó là:
Các hiện tượng tâm lý là một hiện thực khách quan có thật, tồn tại theo những
quy luật riêng của nó, cần phải nghiên cứu vấn đề này nhằm tìm ra quy luật hiện
thực của các hiện tượng tâm lý của con người.
Hiện tượng tâm lý người khác hẳn với các hiện tượng sinh lý đã nghiên cứu, đã
từng biết đến, cho đến nay chưa có một khoa học nào nghiên cứu.
Muốn phát hiện ra quy luật của các hiện lượng tâm lý phải có các phương pháp
khách quan và phương tiện tương ứng để nghiên cứu nó, đổng thời tiến hành tổ
chức nghiên cứu vấn đề này là mội yêu cầu bức thiết dặt ra nhằm làm sáng tỏ
các hiện tượng của đời sống tâm lý người. Có thể nói những nghiên cứu của
Helmholzt, Fechner, Weber, Đonders... đã thực sự là cơ sở quan trọng cho việc
đưa tâm lý học trở thành một khoa học độc lập. Chính những kết quả nghiên
cứu này đã tạo ra một cuộc cách mạng mới cho sự hình thành và phát triển của
khoa học tâm lý được đánh dấu vào năm 1879 gắn với tôn tuổi của W.Wundt.
2.4 W.Wundt và phòng thực nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới
Có thể những tiền đề cho sự ra đời của một khoa học tâm lý đã được xác định
rõ, song vai trò quyết định của một cá nhân với tư cách một lãnh tụ của một
khoa học ở thời điểm này không ai khác ngoài con người mang tên W.Wundt.
Khẳng định trước hết muốn có khoa học, thì phải có đội ngũ những người làm
công tác nghiên cứu khoa học, đến đây thì thời điểm đã có phương hướng
nghiên cứu cụ thể đồng thời có điều kiện, phương tiện để thực hiện phương
hướng ấy, đây là sự phản ánh khách quan của sự tiến bộ xã hộị nói chung và của
khoa học nói riêng. Vì vậy sự xuất hiện của một nghành khoa học mới được
xem là một tất yếu khách quan.
W.Wunđt (1832 - 1920), ông sinh tại Đức, có nguồn gốc là con một gia đình
mục sư, sau khi tốt nghiệp trung học, ông vào học Khoa y ở Trường Đại học
tổng hợp Đức và tốt nghiệp cử nhân y học tại đây. Ông bảo vệ luận án tịến sĩ
thành công vào năm 1856 khi mới vừa tròn 24 tuổị. Khi làm giảng viên của một
ra dời của tâm lý học với tư cách là một khoa học độc lập.
Vào những năm cuối của thế kỷ XIX thì sự kiện W.Wundt công bố một
cương lĩnh mới về xây dựng một khoa học tâm lý đã mở ra thời kỳ mới cho sự
phát triển của khoa học tâm lý. Trên cơ sở cương lĩnh mới, W.Wundt đã chủ
trương đi vào nghiên cứu và phát triển tâm lý học thực nghiệm và tâm lý học xã
hội.
Về tâm lý học thực nghiêm ông chủ yếu nghiên cứu các vấn đề tâm sinh lý
học các giác quan và tâm vật lý học, trong đó chuyên nghiên cứu các hiện tượng
tâm lý giản đơn như: cảm giác, tri giác và sau này có nghiên cứu cả tư duy,
cũng như các quy luật tâm lý nhằm ứng dụng vào lĩnh vực điện ảnh, hội hoạ Đây là nội dung ông gọi là phương pháp sinh lý học.
Với tâm lý học xã hội (tâm lý học dân tộc), ông tập trung nghiên cứu tính
dânn tộc, tâm lý học dân tộc, nghiên cứu tinh thẩn dân tộc thông qua các truyện
cổ tích, thuần thoại. Theo W.Wundt nhữmg tư tưởng tâm lý học dân tộc tồn tại
qua các sản phẩm văn hoá như: Truyện cổ tích, truyện dân gian, thuần thoại,
phong tục tập quán của dân tộc... Vì vậy, để hiểu được tâm lý học dân tộc phải
đùng phương pháp thuật lại và suy diễn qua các sản phẩm văn hoá.
Tâm lý học của W.Wundt được thể hiện trên một số quan điểm cơ bản
sau:
Thứ nhất, toàn bộ tâm lý học của ông xuất phát từ quan niệm coi con
người là một thể thống nhất tâm - vật lý. Trong đó có những hiện tượng có thể
thấy được như các cử động, mắt nhìn, tay sờ...Từ các cảm giác ấy nhờ ý chí của
con người mà có những liên kết mới như biểu tượng, sau cảm giác biểu tượng
thì có tình cảm là tổ hợp của những gì thỏa mãn và những gì không thỏa mãn.
Tình cảm ở đây theo ông là kết quả của việc ý thức có phản ứng với các cảm
giác và liên kết các cảm giác.
W.Wundt cho rằng trung tâm tân lý người là một điểm cố định của ý thức được
bao quanh bởi các vòng tròn như: Vòng tiêu cự, Vòng chú ý, Trường ý thức,
Ngưỡng ý thức. Đây là tư tưởng cơ bản mà W.Wundt đề cập trong việc nghiên
mới của lĩnh vực tâm lý người, vấn đề ý thức đựợc xem là nội dung trung tâm
của tâm lý học mà ngày nay khoa học tâm lý vẫn luôn phải tập trung quan tâm
nghiên cứu. Mặt khác, tất cả những vấn đề nghiên cứu về tâm lý học thực
nghiệm của W.Wundt là tâm lý học các giác quan và tâm vật lý học trong đó
những hiện tượng tâm lý như cảm giác, tri giác và tư duy trong tâm lý học đã
thực sự được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống và hoạt động xã hội, nhất là
lĩnh vực điện ảnh, hội hoạ, trang trí. điều đáng quan tâm ở đây là các nội dung
về tâm lý học của ông đều đặt ra không phải chỉ dừng lại ở tư tưởng tâm lý, mà
đều khẳng định: Tâm lý là một hiện tượng tồn tại có thật, phải nghiên cứu nó,
phải có phương pháp nghiên cứu rõ ràng và phải có phượng tiện nghiên cứu
phù hợp. Những kết quả nghiên cứu về các vấn đề này đều có liên quan đến các
môn khọa học khác, đến đây khẳng định tiền đề đầy đủ cho sự ra đời của khoa
học tâm lý với tư cách là rnột khoa học độc lập.
Trên cơ sở sự ra đời phòng thực nghiệm tâm lý học của W.Wundt và cũng
theo sáng kiến của ông, năm 1880 viện tâm lý học đựợc thành lập. Viện này đã
nhanh chóng trở thành trung tâm đào tạo các nhà tâm lý học cho các nựớc trên
thế giới như: Đức, Nga, Pháp, Mỹ... sau sự kiêụ này các phòng thực nghiệm tâm
lý học trên thế giới lần lượt ra đời và tính đến năm 1920 có khoảng 100 phòng
thực nghiệm trên thế giới được thành lập và đưa vào hoạt động. Mặc dù cương
lĩnh của W.Wundt là đúng hay sai, song nó có ý nghĩa to lớn và quyết định đưa