Nho giáo với tư cách là một tôn giáo - Pdf 61

Nho giáo với tư cách là một tôn giáo
I - Nho giáo có phải là tôn giáo?
1. Nho giáo có phải là tôn giáo hay không đã là vấn đề tranh cãi hàng thế kỷ
nay ở Trung Quốc. ngoài ý nghĩa học thuật còn là vấn đề tình cảm. Khi bắt buộc phải
đối diện với phương Tây văn minh và nền văn minh đó được coi là gắn liền với Ki tô
giáo, một tôn giáo ; người ta đưa Nho giáo ra để đối lập và nói Nho giáo cũng là một
tôn giáo. Khi vai trò của tôn giáo trong sự phát triển xã hội bị chối bỏ : tôn giáo là
thuốc phiện, người ta lại chứng minh Nho giáo là tư tưởng triết học, không phải là
tôn giáo. Đằng sau sự khác nhau đó là một thái độ dựa tuổi tác và tình cảm : lòng tự
hào về truyền thống văn hoá phương Đông. Thực ra những quan niệm về triết học,
khoa học, tôn giáo trong hệ thống tư tưởng phương Đông và phương Tây không phải
là đồng nhất. Nói Nho giáo là tôn giáo hay không là tôn giáo cũng phải chiếu cố đến
thực tế không giống nhau đó. Và hơn thế cũng cần phải vượt ra ngoài tình cảm chủ
quan của tầng lớp Nho sĩ.
2. Nho giáo từ khi ra đời cho đến trong suốt thời gian tồn tại là một học
thuyết, học thuyết chính trị - đạo đức. Ra đời vào thời Xuân thu - Chiến quốc cực
loạn ly, Nho giáo là một học thuyết chống loạn cứu đời, mang nội dung nhân đạo chủ
nghĩa của thời đại.
Loạn ly theo Khổng Tử là do con người ham muốn giàu sang, không bằng lòng với cái
mình có, muốn ngoi lên giành giật cho nhiều hơn, cho nên sẵn sàng giết cha, giết
vua để chiếm đoạt. Lòng tham, dục vọng dẫn đến tranh giành, kiện tụng, chiến
tranh, phá hoại sự hoà mục, sự ổn định và trật tự, hình ảnh một xã hội lý tưởng.
Muốn chống loạn cứu đời, Nho giáo đề xuất phương án tổ chức xã hội va cai trị tốt,
đồng thời chăm lo giáo hoá con người chu đáo.
Muốn cai trị tốt, cần thiết lập một xã hội có trật tự trên dưới phân minh, sống hoà
mục ổn định, an cư lạc nghiệp và ít xáo trộn. Nước hay thiên hạ phải quy về một
mối, có người cầm đầu. Ra đời ở một đất nước có tổ chức, tôn tộc phát triển thành
truyền thống lâu đời, Nho giáo lấy mẫu hình gia đình để hình dung thế giới và coi sự
êm ấm gia đình (cha từ, con hiếu, anh em, vợ chồng hào thuận) là mẫu mực của xã
hội lý tưởng. Cho nên, Nho giáo chủ trương một ông vua toàn quyền, làm chủ mọi
mặt kinh tế, chính trị, quân sự, tư pháp, tôn giáo. Vua là cha của cả nước (và quan

sử, lịch sử thời Ân - Chu. Khổng Tử tự hào là có ham thích cổ (hiếu cổ) và coi việc
làm của mình là nói lại chứ không sáng tác cái mới (thuật nhi bất tác). Vì lẽ đó, trong
thời Xuân thu – Chiến quốc là thời đại đổi thay kịch liệt, Nho giáo thất thế. Nhưng từ
khi Hán Vũ Đế (140 - 87 trước Công nguyên) xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế
và nghe lời Đổng Trọng Thư (197 - 107 trước Công nguyên) "bài truất bách gia, độc
tôn Nho thuật" thì Nho giáo thành công cụ ý thức hệ của chế độ chuyên chế, kéo dài
từ đời Hán cho mãi đến đầu thế kỷ XX, không chỉ ở Trung Quốc mà còn được cả các
nước Đông á học theo nữa. Gắn bó với chế độ chuyên chế, Nho giáo không mất đi
nội dung là học thuyết chính trị - đạo đức, nhưng mang thêm hình thức tôn giáo.
Hình thức tôn giáo đó được thể hiện ở ba mặt :
- Sách vở thánh hiền được coi là kinh điển thiêng liêng.
- Nội dung học thuyết được thần học hoá.
- Các nhà tư tưởng Nho giáo được thần hoá, sắp xếp thành đạo thống, được thờ
phụng trong văn miếu.
4. Người làm cho Nho giáo thành có nội dung thần học là Đổng Trọng Thư, bậc
đại nho đời Hán. Ông đề xướng thuyết "thiên nhân hợp nhất", "thiên nhân cảm ứng
(hay tương dữ)" coi con người và Trời giống nhau về hình thể. Trời có 365 ngày,
người có 365 đốt xương. Trời và người giống nhau về tình cảm, giống nhau về quy
luật. Trời là một vũ trụ lớn, người là một vũ trụ nhỏ. Quyền vua là do Trời trao. Vua
là người trung gian, là gạch nối giữa Trời và người. Trời là cha chung, chi phối cõi
người, kiểm soát hành vi của vua. Trời ra những tai dị (bão, lụt, dịch bệnh,…) để
cảnh cáo và những điềm lành để khuyến khích tuỳ theo việc làm tốt hay xấu của
vua. Tam cương ngũ thường được xác định là nền tảng đạo đức, theo Đổng Trọng
Thư là có nguồn gốc từ Trời.
Từ đời Hán, mười ba cuốn sách được coi là "kinh" có đạt chức bác sĩ để dạy. Chữ và
nghĩa của kinh được xác định chính thức. Những chỗ có nghi vấn thì nhà vua đích
thân chủ trì thảo luận để quyết định cách hiểu.
Việc nhà nước thờ cúng Khổng Tử như một vị thánh, một bậc vua chúa không trị vì
cũng bắt đầu từ đời Hán (Hán Cao Tổ năm thứ 12). Coi Nho giáo là do một hệ thống
các vị thánh truyền thừa thì đã có từ Mạnh Tử nhưng đến Hàn Dũ (768 - 824) mới đề

- Thể chế tập trung chuyên chế trên cơ sở làng họ phân tán cùng với truyền thống
tôn tộc lâu đời.
Và trong tình hình đó, nhà nước xã hội đã thần hoá thánh hiền, biến Nho giáo từ là
một học thuyết chính trị đạo đức thành một tôn giáo cũng có đủ kinh điển, thần điện,
thánh địa và mọi nghi thức thờ cúng.
II - Nho giáo là cái chính, biểu hiện văn hoá, chi phối sự phát triển của tam
giáo. một hình thức tôn giáo Đông Á
1. ở Việt Nam cũng như các nước Đông á khác không chỉ có Nho giáo. Bên cạnh
Nho giáo còn có đạo giáo và Phật giáo – cả ba gọi chung là Tam giáo, đối với Trung
Quốc là thổ sản, nhưng đối với Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam là ngoại lai, du nhập
từ Trung Quốc. Phật giáo được Trung Quốc du nhập từ ấn Độ là một tôn giáo lớn ảnh
hưởng toàn thế giới. Khi vào Trung Quốc phải trải qua vài thế kỷ dung hợp với tư
tưởng Lão - Trang, hình thành tông phái mới là Thiền Tông mới bắt rễ được vào đất
mới. Đạo giáo là một tôn giáo hoàn toàn Trung Hoa, bắt nguồn từ triết học Lão -
Trang (cũng gọi là Đạo gia) thành một tôn giáo chống đối của nông dân, có ảnh
hưởng lớn ở Trung Quốc nhưng khi truyền sang Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam thì
biến dạng, mang hình thức dân tộc. Nói là bắt nguồn từ Lão - Trang nhưng quan hệ
giữa Triết học Đạo gia với Đạo giáo là cực mỏng manh, ngoại trừ việc tôn Lão Tử và
Trang Tử thành Thái thượng Lão Quân và Nam Hoa Chân nhân !
Về tư tưởng triết học, Phật giáo và Đạo gia đối nghịch với tư tưởng Nho gia, về tôn
giáo, Phật Đạo cũng có định hướng khác.
Phật giáo coi cõi đời là bể khổ, chủ trương xuất thế giải thoát, tìm cõi cực lạc Niết
bàn. Niết bàn là Tây phương tịnh thổ, tức là có một cõi nào đó trong thế giới hay chỉ
là ở trong tâm mình thì vẫn là không phải cõi đời này. Cách biện giải con người, cõi
đời, thế giới và con đường giải thoát của Phật giáo là một hệ thống tư tưởng cao sâu,
tinh vi, không cần đến thần linh. Nhưng để tìm đường giải thoát, tín đồ Phật vẫn phải
xuất gia tu hành, phải tụng niệm, phải theo giới luật, phải cúng tế,… Phật giáo từ là
triết học thành một tôn giáo. Và về mặt phương pháp tu dưỡng, tu hành, Phật giáo
cũng để lại một kho tàng kinh nghiệm phong phú.
Tư tưởng Lão - Trang (hay Đạo gia) vốn ra đời để đối lập với tư tưởng Nho gia, đề

Mục đích tu luyện của Đạo giáo là nhằm tăng sức mạnh do "khí, tinh và thần" làm
cho con người trường sinh, thành tiên và bất tử. Họ cũng có hình dung một "tiên
cảnh" rất hấp dẫn. Nhưng cõi tiên không phải ở ngoài thế giới (tuy thế giới không chỉ
chật hẹp là thế giới trước mắt mà Nho gia hình dung là nhà, nước và thiên hạ) và
cũng không phải chờ sau khi chết mới được biết đến.
Vào quãng thế kỷ thứ II, cuối đời Hán ở Trung Quốc đã đủ mặt Tam giáo : Nho, Đạo,
Phật. Ba tôn giáo khác nhau, tồn tại song song cho đến thế kỷ XX, không ngừng tác
động lẫn nhau, thấm vào nhau và gây ra những biến đổi trong từng tôn giáo.
2. Tam giáo tồn tại song song lúc đầu không phải dễ êm thấm. Tâm thức Trung
Hoa và tâm thức ấn Độ không giống nhau. Phật giáo không những xung khắc với Đạo
và Nho, những hệ tư tưởng bản địa mà để truyền bá được cũng phải dựa vào những
khái niệm, phạm trù của Đạo gia và Nho gia mới chuyển dịch được tư tưởng của
mình. Huyền học đã thúc đẩy Phật giáo Trung Quốc hoá. Nhà nước chuyên chế với ý
thức sử dụng tôn giáo để cai trị, đã trọng dụng cả Tam giáo. Nhân dân trong điều
kiện của nền kinh tế nông nghiệp sản xuất tự túc theo hộ gia đình, cư trú theo họ,
theo làng, không dễ lìa bỏ những tín ngưỡng cổ sơ tin Trời, tin thần linh ma quỷ, tin
ở sự phù trợ của tổ tiên. Tiên, Phật cũng phải "thần" hoá cho phù hợp với họ. Sự
tranh chấp giữa Nho, Đạo với Phật và giữa Nho với Phật, Đạo cuối cùng dẫn đến
dung hợp để thích ứng với nhà nước chuyên chế và với tâm thức của cư dân nông
nhiệp, làng họ. Về mặt lý luận, tình hình đó dẫn tới tư tưởng "Tam giáo đồng
nguyên", "Tam giáo hợp nhất". Cuối cùng là sự hình thành Thiền tông trong Phật
giáo, Lý học và Tâm học trong Nho giáo.
3. Tam giáo không phải là đồng nguyên mà cũng không thể hợp nhất. Nhưng
xu hướng dung hợp thì lại là tất yếu. Khi Phật giáo mới được truyền bá, nó bị công
kích vì phá hoại trật tự : bất trung, bất hiếu, trái với tôn ty của xã hội. Dần dần, Phật
giáo và cả Đạo giáo đều thay đổi : khuyến khích trung hiếu và tôn trọng trật tự xã
hội. Người Trung Hoa vốn thiết thực, coi trọng hiện thế, không có nhiều hứng thú với
cái huyền bí, cõi siêu hình. Niết bàn của Phật và Tiên cảnh của đạo cũng hấp dẫn
nhưng quá xa vời, con đường đạt đến quá diệu vợi. Tiêu biểu cho xu hướng thiết
thực, trong hiện thế, tránh xa vời xu khoát chính là tư tưởng Nho giáo. Phật giáo và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status