BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN HỒNG ANH
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN HỒNG ANH
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ MAI THỊ ANH
HÀ NỘI, NĂM 2017
LỜI CẢM ƠN
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2017
HỌC VIÊN THỰC HIỆN
Nguyễn Hồng Anh
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................
LỜI CAM ĐOAN ..............................................................................................
MỤC LỤC ..........................................................................................................
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ........................................................................
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài. ........................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu. ......................................................... 2
3.1. Khách thể nghiên cứu......................................................................... 2
3.2. Đối tượng nghiên cứu. ....................................................................... 2
4. Giả thuyết khoa học. ................................................................................. 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu. ............................................................................... 3
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận. .................................................................. 3
5.2. Nghiên cứu thực trạng. ....................................................................... 3
5.3. Đề xuất các giải pháp. ........................................................................ 3
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu. ................................................................... 3
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu........................................ 4
7.1. Phương pháp luận............................................................................... 4
7.2. Phương pháp nghiên cứu.................................................................... 4
8. Cấu trúc luận văn. ..................................................................................... 4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN DI SẢN
VĂN HÓA QUAN HỌ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội .............................................................. 23
2.1.3. Giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh ............................................... 26
2.1.4. Văn hóa tỉnh Bắc Ninh. ................................................................. 27
2.2. Thực trạng công tác bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh
trong những năm vừa qua. .......................................................................... 29
2.2.1. Nhận thức của các cấp, các ngành về công tác bảo tồn di sản văn
hóa Quan họ ............................................................................................ 29
2.2.2. Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa Quan họ .................................. 30
2.2.2.1. Về công tác sưu tầm, nghiên cứu ........................................... 31
2.2.2.2. Công tác khôi phục di sản văn hóa Quan họ.......................... 32
2.2.2.3. Hoạt động của Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh. .............. 34
2.2.2.4. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng tài năng của Trường Trung cấp
Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Bắc Ninh........................................... 36
2.2.2.5. Công tác chăm lo, xây dựng đội ngũ nghệ nhân, cán bộ quản
lý bảo tồn di sản văn hóa Quan họ. ..................................................... 36
2.2.2.6. Công tác tuyên truyền quảng bá............................................. 38
2.2.2.7. Những tác động của quá trình toàn cầu hóa, thương mại hóa,
đô thị hóa và vấn đề du lịch văn hóa. .................................................. 40
2.2.3. Đầu tư các nguồn lực, cơ sở vật chất – kỹ thuật bảo tồn di sản văn
hóa Quan họ. ........................................................................................... 41
2.2.4. Công tác kiểm tra giám sát, động viên khen thưởng, xử lý các vi
phạm bảo tồn di sản văn hóa Quan họ. ................................................... 42
2.3. Đánh giá chung thực trạng về bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh
Bắc Ninh trong những năm vừa qua. .......................................................... 44
2.3.1. Những mặt mạnh .......................................................................... 44
2.3.2. Những mặt yếu .............................................................................. 44
2.3.3. Nguyên nhân của thực trạng. ....................................................... 45
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 73
1. KẾT LUẬN ............................................................................................. 73
2. KIẾN NGHỊ ............................................................................................ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 77
PHỤ LỤC PHIẾU ĐIỀU TRA..................................................................... 80
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
NỘI DUNG
BCHTW
Ban chấp hành Trung ương
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
KT-XH
Kinh tế - xã hội
UBND
Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
Với quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta về bảo tồn di sản Văn hóa
dân tộc. Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã đưa ra nhiều biện pháp,
giải pháp tổ chức thực hiện, tạo sự đồng thuận của nhân dân và xã hội. Nhiều
di sản Văn hóa phi vật thể, không những khắc phục được nguy cơ bị thất
truyền mà còn được bảo tồn, gìn giữ.
Văn hóa Quan họ là di sản văn hóa đặc sắc của vùng Kinh Bắc và là di
sản Văn hóa phi vật thể, truyền khẩu của quê hương Bắc Ninh. Trong xu thế
hội nhập và toàn cầu hóa, Dân ca Quan họ đang chịu nhiều tác động của cơ
chế thị trường, tiềm ẩn nguy cơ bị mai một, cần được bảo tồn và phát triển; do
đó, em chọn để tài: “Bảo tồn di sản Văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở
tỉnh Bắc Ninh”, để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn công tác bảo tồn
di sản Văn hóa dựa vào cộng đồng, đề xuất các giải pháp bảo tồn di sản văn
hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở Tỉnh Bắc Ninh; nhằm góp phần xây dựng
nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững di
sản văn hóa của quê hương Kinh Bắc, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương
9 (Khóa XI).
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu.
Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh trong những
năm qua.
3.2. Đối tượng nghiên cứu.
Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở tỉnh Bắc
Ninh.
2
4. Giả thuyết khoa học.
Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh, được thông
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
7.1. Phương pháp luận.
- Phương pháp tiếp cận Văn hóa học;
- Phương pháp tiếp cận phát triển cộng đồng.
7.2. Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu tài liệu: Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến bảo tồn
di sản văn hóa;
- Nghiên cứu thực trạng: Quan sát, điều tra, khảo sát thu thập thông tin,
xử lý thông tin về bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở tỉnh
Bắc Ninh;.
- Phỏng vấn, xin ý kiến chuyên gia, các nhà quản lý …
8. Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục. Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng
đồng.
- Chương 2: Thực trạng bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh
trong những năm qua.
- Chương 3: Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở tỉnh
Bắc Ninh.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN DI SẢN
VĂN HÓA QUAN HỌ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Cho đến nay đã có 2 luận án Tiến sĩ nghiên cứu về Quan họ và liên quan
tương lại âm nhạc trên toàn thế giới.
+ GS.TS Gisa Jahnichen, Đại học Frankfurt, Cộng hòa liên bang Đức
trong bài tham luận: Truyền thống hát thi và triết học thông tin hiện nay tại
Việt Nam đã thể hiện sự am hiểu sâu sắc về dân ca Việt Nam của ông khi đưa
vào bài viết của mình các loại dân ca nổi tiếng của Việt Nam như Ví giặm,
Trống quân, Bài chòi, hát Đúm, hò Đối đáp, Quan họ để đối chiếu, so sách và
lập luận. Ông nhấn mạnh đặc điểm “ứng tác, ứng ca” của Quan họ theo những
qui tắc đặc điểm riêng. Ông kết luận: cuộc sống của chúng ta được bảo vệ
bằng chính những thể loại âm nhạc truyền thống phù hợp, ngay cả khi xung
quanh chúng ta có những phương tiện thông tin hiện đại. Theo ông, “hát Quan
họ là một kiểu thức cuộc sống rất độc đáo, vì nó có ý nghĩa trong việc duy trì
một nền âm nhạc bản địa vào đầu thể kỷ XXI”.
+ TS. Lauren Meecker, Đại học Columbia, Hoa Kỳ trong bài tham luận
từ bài hát ra đến sân khấu: sinh hoạt Quan học ở Việt Nam hiện nay, bà bàn
về quan hệ giữa Quan họ và nghệ thuật diễn xuất đã thay đổi như thế nào; về
sân khấu trung gian giữa loại Quan họ cổ và Quan họ mới như thế nào. Đây
cũng là một trong những nội dung chính được nghiên cứu trong Luận án tiến
sĩ của bà, như chúng tôi đã nêu ở trên. Đáng chú ý là bà đặt “Quan họ cổ” gắn
với “làng” - sinh hoạt văn hóa Quan họ là, “Quan họ mới” gắn với “hiện đại”.
Đặc biệt, bà đặt khái niệm “sinh hoạt Quan họ” tương ứng với khái niệm
6
“chơi Quan họ” và “biểu diễn Quan họ” tương ứng với “hát Quan họ”. Theo
bà, “chơi Quan họ” gắn với một hệ thống quy ước và hành động xã hội và
cuộc chơi Quan họ không có khán giả như “hát Quan họ” trên sân khấu. Như
thế, “chơi Quan họ” là một hiện tượng văn hóa tổng thể -là văn hóa Quan họ.
Bà nhận định “sinh hoạt xã hội rất quan trọng đối với cách chơi Quan họ”. Ở
đây, trong tham luận này, bà cũng sử dụng khái niệm “Quan họ làng” gắn với
xã hội làng.
dạy, hệ thống bài bản, lịch sử lưu truyền. Tuy nhiên, trên các mặt kể trên, ông
cho rằng nét tương đồng nhiều hơn dị biệt.
Như vậy, nghiên cứu về Quan họ của các tác giả nước ngoài chưa nhiều,
nhưng cũng cho thấy văn hóa Quan họ độc đáo ở chỗ “một kiểu thức cuộc
sống” mà dường như là một “tiểu văn hóa” chứ không chỉ là một loại hình
dân ca thuần túy.
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước.
1.1.2.1. Tình hình nghiên cứu trước năm 1945
Qua tìm hiểu, nghiên cứu trong khoảng nửa đầu thế kỷ XX đến trước
Cách mạng Tháng Tám (1945), mảng đề tài Văn hóa Quan họ, về căn bản
chưa thật sự được giới khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu. Một số bài báo
đăng tải trong thời kỳ này của các tác giả như: Chu Ngọc Chi, Vũ Bằng,
Dương Quảng Hàm, Việt Sinh, Toan Ánh, Minh Trúc v.v… chỉ tập trung vào
việc giới thiệu một cách khái lược về một loại hình sinh hoạt cụ thể nào đó
của Văn hóa Quan họ. Ví dụ:
- “Hát quan họ” của Chu Ngọc Chi [23].
- “Nghe hát Quan họ một đêm ở Lũng Giang” của Việt Sinh [87].
- “Hát quan họ”, Minh Trúc [109].
- “Hội Lim” của Nguyễn Duy Kiện [61].
8
Trong số ít tác giả kể trên, có phóng sự đăng nhiều kỳ của Minh Trúc
viết khá kỹ về địa bàn và lề lối hát Quan họ trong hát canh, hát hội. Đáng chú
ý ngoài các giọng thông thường của Quan họ như: Bỉ, Sổng, Vặt còn có các
giọng “Trên” mà các tài tử đặt tên là Giọng Đường bạn, Tình tang, Hử la,
Xuống sông, Lê núi… Các giọng “Trên” được sử dụng trong hát đối, khó hát
nhưng không hay bằng giọng “Vặt”. Nhận xét này khi ứng vào tình hình phát
triển văn hóa Quan họ hiện nay ta thấy rất rõ là các bài Quan họ giọng “Vặt”
nghiên cứu và phát triển văn hóa Quan họ với sự tham gia của nhiều nhà
nghiên cứu, quản lý văn hóa trung ương và địa phương. Kết quả, năm 1972
cuốn kỷ yếu về các hội nghị nói trên đã được xuất bản, đánh dấu một bước
tiến triển quan trọng của công tác nghiên cứu Văn hóa Quan họ. Cuốn kỷ yếu:
“Một số vấn đề về dân ca Quan họ” (286 trang) đã trở thành tài liệu có tính
chất công cụ cho các thế hệ, các nhà nghiên cứu Văn hóa Quan họ sau này.
Từ năm 1975 sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống
nhất, công tác nghiên cứu văn hóa Quan họ đã đạt nhiều thành tựu quan trọng,
góp phần khái quát khá toàn diện về dân ca Quan họ Kinh Bắc cả về nghệ
thuật ca hát và sinh hoạt văn hóa phong phú của loại hình dân ca.
Năm 1978, nhóm tác giả Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý đã
công bố cuốn: “Quan họ, nguồn gốc và quá trình phát triển” [65], đây là
công trình nghiên cứu đồ sộ với 527 trang, gồm 6 phần, 12 chương. Công
trình được viết chủ yếu trên một kho tàng tư liệu điền dã công phu, có giá trị.
Trong số 3 tác giả của cuốn sách, Trần Linh Quý và Hồng Thao là các nhà
nghiên cứu tại Sở Văn hóa Thông tin (VHTT) Hà Bắc. Họ sống trên mảnh đất
của quê hương Quan họ, gắn bó cả đời với sự nghiệp nghiên cứu loại hình dân
ca. Cuốn sách đề cập tương đối toàn diện đến văn hóa Quan họ từ nguồn gốc
đến quá trình phát triển. Đây là công trình đầu tiên cho thấy xu hướng nghiên
cứu đa ngành, liên ngành về Quan họ với tư cách là hiện tượng văn hóa tổng
10
thể, trong đó bản thân sinh hoạt ca hát là một thành tố cốt lõi. Đặc biệt, đến
công trình tập thể này, hầu hết các nhà nghiên cứu đã sử dụng khái niệm “Văn
hóa Quan họ” như một sự mặc nhiên, khẳng định văn hóa Quan họ là một
hiện tượng văn hóa tổng thể chứ không đơn thuần chỉ là nghệ thuật ca hát.
Nhạc sỹ Hồng Thao là một trong số ít các nhà nghiên cứu chuyên sâu về
văn hóa Quan họ và cũng là tác giả để lại các công trình có giá trị nhiều mặt
về dân ca Quan họ, không chỉ về phương diện âm nhạc. Ngoài các công trình
gian văn hóa Quan họ để phục vụ cho công tác tra cứu tìm hiểu về văn hóa
Quan họ, vùng văn hóa Bắc Ninh - cái nôi của dân ca Quan họ. Thư mục này
được bố cục trong cuốn sách như một nội dung quan trọng, gồm 2 phần:
- Phần: Quan họ (gồm 579 công trình và bài viết).
- Phần: Vùng văn hóa Bắc Ninh (gồm 319 công trình và bài viết).
Năm 2006, để chuẩn bị hồ sơ cho việc trình UNESCO công nhận dân ca
Quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Bộ văn
hóa thông tin (nay là Bộ văn hóa, thể thao và du lịch) đã phối hợp với UBND
tỉnh Bắc Ninh tổ chức hội thảo Quốc tế: “Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã
hội đương đại (qua trường hợp Quan họ Bắc Ninh ở Việt Nam” [20] có sự
tham gia của gần 100 nhà khoa học, nhà quản lý văn hóa trong nước và quốc
tế. Với số lượng 64 bài tham luận (53 tham luận của các nhà khoa học trong
nước, 11 tham luận của các nhà khoa học quốc tế) và với một chủ đề như tên
của hội thảo, đã cho thấy đây là một hội thảo lớn nhất từ trước đến nay về
Quan họ Bắc Ninh (tính từ 1965 đến nay đã có khoảng 10 hội nghị, hội thảo
về Quan họ được tổ chức). Kết quả hội thảo là cuốn kỷ yếu dày 867 trang
được Viện VHTT (nay là Viện văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt nam) và Sở
VHTT (nay là sở VHTTDL) Bắc Ninh xuất bản năm 2006. Nội dung của
Hội thảo tập trung vào các vấn đề: Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ trong xã
hội hiện đại; tác động của quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa; công tác trao
12
truyền, bảo lưu, tuyên truyền các giá trị văn hóa Quan họ; cơ chế chính sách
tôn vinh nghệ nhân - báu vật sống của dân ca Quan họ; chất lượng đội ngũ
cán bộ quản lý v.v… Có một điểm đáng chú ý là cuốn sách của nhiều tác giả
này được lấy tên: Không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh - Bảo tồn và phát
huy. Đây là lần đầu tiên, khái niệm Không gian Văn hóa Quan họ được sử
dụng rộng rãi trong một diễn đàn khoa học lớn là hội thảo lần này. Quan niệm
“không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh” được thể hiện trong bài Tổng kết
tồn văn hóa Quan họ cả trước mắt và lâu dài.
Trong bài tham luận Suy nghĩ về thực trạng và một số kiến nghị về bảo
tồn, phát huy di sản văn hóa Quan họ khi nhận xét về phương hướng và mục
đích của Hội thảo, tác giả Trần Minh Chính đã viết: các nhà tổ chức lại đặt ra
yêu cầu rất hay là bàn về “văn hóa Quan họ”, chứ không chỉ bó hẹp loại hình
dân ca này trong khuôn khổ một sự ca hát thuần túy. Như vậy, đây thực sự là
một hội thảo đòi hỏi những đóng góp liên ngành để bàn về một nền văn hóa
mà bản thân sự ca hát chỉ là một thành tố hạt nhân, cốt lõi. Quan họ lớn và có
thể sẽ trường tồn chính là ở chỗ này. Dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc đã đem
lại cho chúng ta không chỉ những bài ca, những làn điệu mà là cả một nền văn
hóa với biết bao khía cạnh hấp dẫn của nó: Từ môi trường tư nhiên và văn hóa
đến phong tục tập quán, văn hóa ứng xử, giao tiếp, ngôn ngữ và cả cách cảm,
cách nghĩ thấm dẫm tinh thần nhân văn, nhân bản của con người nơi đây.
Như vậy, Quan họ có một nền văn hóa riêng, một hiện tượng văn hóa
tổng thể được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ hữu cơ của rất nhiều loại
hình sinh hoạt văn hóa khác. Về ý kiến này, có thể có nhà nghiên cứu cảm
thấy băn khoăn về cụm từ “nền văn hóa”, nhưng chắc chắn phần lớn giới
nghiên cứu không băn khoăn khi thừa nhận về một hình thái văn hóa Quan họ
gắn liền với dân ca Quan họ mà Quan họ đã bộc lộ sự đặc sắc của nó.
14
Như vậy, qua sơ lược lịch sử nghiên cứu về văn hóa Quan họ, đã cho ta
một cái nhìn sâu và tổng thể về không gian văn hóa Quan họ; quá trình hình
thành tồn tại và phát triển của loại hình văn hóa độc đáo này.
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến bảo tồn di sản văn hóa.
1.2.1. Quan họ và di sản văn hóa Quan họ
1.2.1.1. Khái niệm Quan họ
Từ điển Bách khoa Việt Nam 3 định nghĩa: “Quan họ (tên gọi đầy đủ:
dân ca Quan họ là mặt trọng tâm.
1.2.2. Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng.
1.2.2.1. Khái niệm bảo tồn
Từ điển Tiếng Việt: “Bảo tồn là giữ gìn cho còn lại được lâu các tài liệu
và di tích lịch sử, văn hóa, xã hội, … để chuyển đến các thế hệ mai sau”
[25tr40].
Như vậy, bảo tồn là việc bảo vệ, duy trì, giữ gìn những gì tồn tại trong
thực tế, những gì tồn đọng và có giá trị về mặt lịch sử, mang tính chất tiến hóa,
mang tính chất duy trì, tồn tại và phát triển lâu dài.
1.2.2.2. Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng.
- Mô hình bảo tồn tốt nhất mà UNESCO đề xướng: “là bảo tồn trong
cộng đồng, trong chính môi trường diễn xướng của loại hình nghệ thuật dân
gian đó. Bởi chính cộng đồng sở hữu di sản, phải ý thức được giá trị sản phẩm
văn hóa của mình, để rồi gìn giữ, phát huy nhân rộng nó” [29tr62].
Quan điểm trên cho thấy sự cần thiết phải bảo tồn di sản văn hóa Quan
họ ở chính nơi nó sinh ra. Điều đó hoàn toàn đồng nhất trong chủ trương của
ngành văn hóa là bảo tồn trong môi trường xã hội đương đại không phải là
bảo tồn ở bảo tàng, mà phải ở cộng đồng dân cư, trong môi trường cảnh quan
của chính vùng quan họ. Việc bảo tồn, người trực tiếp thực hiện là nhân dân,
ngành văn hóa chỉ làm nhiệm vụ nghiên cứu định hướng.
16
1.3. Chức năng nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào
cộng đồng.
- Chức năng bảo tồn di sản văn hóa Quan họ (được UNESCO công nhận
là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009): nghiên cứu
giải pháp, bảo tồn các giá trị của di sản dựa vào cộng đồng.
- Nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa dân tộc đến năm 2020 được xác định
là nhiệm vụ then chốt của chiến lược phát triển văn hóa. Tập trung đầu tư toàn