TÀI NGUYÊN NĂNG LƯỢNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM - Pdf 42

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI
HỌC SƯ PHẠM

MÔI TRƯỜNG
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG
ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CON NGƯỜI
ĐỀ TÀI: TÀI NGUYÊN NĂNG LƯỢNG - CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

NĂNG LƯỢNG THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................................ 1
A. TÀI NGUYÊN NĂNG LƯỢNG .................................................................. 3
I.

Tình hình sử dụng năng lượng thế giới và Việt Nam ................................... 3
1. Bạn biết gì về năng lượng?........................................................................ 3
2. Chuyện gì đang xảy ra với năng lượng chúng ta đang sử dụng? .............. 4
3. Những ảnh hưởng của việc khai thác quá mức tài nguyên năng lượng .... 7
4. Giải pháp cấp thiết hiện nay ...................................................................... 9

II. Tài nguyên năng lượng ............................................................................... 11
1. Năng lượng không tái tạo ........................................................................ 11
2. Năng lượng tái tạo ................................................................................... 19
B. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG- NĂNG LƯỢNG TÁI
TẠO ...................................................................................................................... 32
I.

Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo trên thế giới ................................ 32


PNAS)
Biến động hàm lượng điôxít cacbon trong thời gian 400.000 năm
gần đây cho thấy sự gia tăng của nó kể từ khi bắt đầu cách mạng
công nghiệp.
Biểu đồ cơ cấu sản xuất năng lượng Việt Nam 2010 (%)
Công suất lắp đặt và phát điện từ năng lượng hạt nhân, 1980 2011 (EIA).

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NLHT

Nhiên liệu hóa thạch

kWh
NLTT
GDP
PW
MW

Kilowatt giờ
Nhiên liệu tái tạo
Tổng sản phảm quốc nội
Petawatts
Megawatts


ĐẶT VẤN ĐỀ
Chủ đề an ninh năng lượng không còn mới lạ đối với chúng ta vì nhu cầu sử
dụng điện, gas, xăng dầu hàng ngày của mỗi người. Năng lượng là điện từ thắp
bóng đèn, là gas đun nấu và xăng chạy xe hàng ngày và cả thức ăn. Đây là số liệu
dự báo về dự trữ năng lượng cho Việt Nam đến cuối năm 2013 theo BP*, những

đốt nhà mình vậy, và bình cứu hỏa trong tay chính là năng lượng tái tạo” ( Hermann
Scheer- chủ tịch Hội đồng Năng lượng Tái tạo Thế giới)
trong cuốn Tuyên Ngôn Mặt Trời (The Solar Manifesto) Hermann Scheer có
viết : “Để có thể thảo luận về năng lượng như một vấn đề riêng rẽ là một ảo tưởng
đầu óc. Phát thải CO2 không phải là vấn đề duy nhất của nhiên liệu hóa thạch. Ô
nhiễm phóng xạ không phải là vấn đề duy nhất của năng lượng hạt nhân. Nhiều mối
nguy hiểm khác được tạo ra bởi việc sử dụng năng lượng hạt nhân và hóa thạch: từ
các đô thị ô nhiễm tới sự xói mòn đất ở vùng nông thôn; từ ô nhiễm nước tới sa mạc
hóa; từ di cư hàng loạt tới các khu định cư quá tải và việc suy giảm an toàn cá nhân
lẫn an ninh quốc gia. Do hệ thống năng lượng hiện tại là gốc rễ của các vấn đề này,
năng lượng tái tạo là giải pháp cho chúng”.
Để hiểu rõ hơn về tài nguyên năng lượng và chiến lược phát triển tài nguyên
năng lượng ở thế giới và Việt Nam như thế nào tôi xin trình bày trong bài tiểu luận
khoa học môi trường với những nội dung sau đây:
-

Phần 1: Tài nguyên năng lượng ( tìm hiểu sơ lược về tài nguyên năng lượng,
đưa ra khái niệm, nguồn gốc, lợi ích, ảnh hưởng tới môi trường và các số liệu
thống kê và hình ảnh về các loại tài nguyên năng lượng trên thế giới)..

-

phần 2: chiến lược phát triển năng lượng thế giới và Việt Nam.
Bài tiểu luận được thực hiện lần đầu không tránh khỏi những hạn chế và

thiếu sót, tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của giảng viên bộ môn và các
cán bộ chấm thi để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

2

phóng xạ uranium) cũng là năng lượng không tái tạo vì trữ lượng uranium
trên trái đất là hữu hạn.
• Năng lượng tái tạo: là các nguồn năng lượng được tạo ra và bổ sung trong
một thời gian ngắn. Chúng có thể không bao giờ cạn kiệt trong vòng vài tỉ
3


năm nữa. Một số nguồn năng lượng tái tạo: từ mặt trời( quang điện), từ
nước( thủy điện), từ gió( phong điện), từ các dòng nước nóng và magma
trong lòng đất( địa nhiệt), từ thủy triều và ngay cả từ chất thải chăn nuôi và
trồng trọt( như biogas)...

2.

Chuyện gì đang xảy ra với năng lượng chúng ta đang sử dụng?
Việt Nam và thế giơi đang đứng trước nguy cơ không đảm bảo về an ninh

năng lượng khi mà nhu cầu tăng nhanh và những nguồn cung truyền thống đang cạn
kiệt dần với tốc độ nhanh chóng. Bên cạnh đó, việc sản xuất và sử dụng nhiên liệu
hóa thạch( NLHT) tạo ra tác động tiêu cực đến sức khỏe, môi trường và xã hội. An
ninh năng lượng là sự đảm bảo năng lượng luôn có sẵn, đầy đủ, dưới nhiều dạng
khác nhau, sạch và rẻ
Thế giới hiện đang phụ thuộc rất nhiều vào nhiên liệu hóa thạch. Năm
2013, dầu mỏ, than đá và khí đốt cung cấp tới 87% tổng năng lượng tiêu thụ trên
toàn cầu. Còn ở Việt Nam, tỷ trọng các loại hình sản xuất điện sử dụng nhiên liệu
hóa thạch chiếm gần một nửa trong hệ thống điện quốc gia( xem hình 1).

Hình 1: tỷ trọng các loại hình sản xuất điện năng trong hệ thống điện Việt Nam( nguồn
Trung tâm Điều độ Hệ thống diện Quốc gia, 2012)


5


Nhu cầu năng lượng đang không ngừng tăng lên trên thế giới và tại Việt
Nam. Cùng với quá trình tăng dân số, đô thị hóa và phát triển kinh tế, nhu cầu sử
dụng năng lượng đã gia tăng mạnh mẽ trong những năm vừa qua. Trên thế giới, dự
báo trong vòng 25 năm( 2010- 2035) nhu cầu năng lượng sẽ tăng lên 1,35 lần ( xem
hình 3). Còn ở Việt Nam, riêng về điện năng, nhu cầu sẽ tăng lên 7- 8 lần trong
vòng 20 năm( từ 100 tỉ kWh năm 2010 đến 695- 834 tỉ kWh vào năm 2030) ( xem
hình 4).

Hình 3. Nhu cầu năng lượng thế giới( nguồn: Cơ quan Năng lượng Quốc tế( IEA), 2012)

6


Hình 4. Các lĩnh vực sử dụng năng lượng của Việt Nam giai đọa 2010-2030( nguồn: MPI,
UND nghiên cứu, định hướng các mục tiêu giảm thải khí gây hiệu ứng nhà kính trong năng
lượng và phát triển Việt Nam giai đoạn 2010-2030)

Tình trạng cung không đủ cầu đe dọa an ninh năng lượng tại nhiều khu
vực trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nguồn than nước không còn đủ cho sản
xuất điện; ước tính cần nhập khẩu khoảng 10- 20 triệu tấn vào năm 2020, 30-32
triệu tấn vào năm 2025 và khoảng 50-65 triệu tấn vào năm 2030. Như vậy Việt Nam
sẽ bị phụ thuộc vào nguồn cung cấp nhiên liệu của nước ngoài. Trong khi đó, giá
nhiên liệu trên thị trường quốc tế liên tục biến động bởi tình hình kinh tế, chính trị,
công nghệ... hệ quả là vấn đề an ninh năng lượng quốc gia sẽ không còn được đảm
bảo.

3.

của nhiều sinh vật. khai thác than bằng phương pháp hầm lò còn gây lún đất, ô
nhiễm nước và nguy cơ xảy ra tai nạn hầm lò.
Còn việc khai thác dầu khí đang tạo ra nhiều vấn đề về môi trường như
ô nhiễm dầu với đất, không khí và nước, rò rỉ giếng khoan, dầu loang, đắm tàu và
các sự cố tràn dầu, nguy cơ lún đất khi khai thác trên thềm lục địa. Ô nhiễm dầu gây
tác hại nghiêm trọng và lâu dài đến hệ sinh thái, làm gián đoạn và ảnh hưởng tới các
hoạt động đánh bắt hải sản, du lịch...năm 2013, vụ loang dầu ở Quy Nhơn, Bình

8


Định đã làm ô nhiễm biển với hơn 50 tấn váng dầu lẫn trong cát được thu gom và
làm chết cá của nhiều hộ nuôi trồng thủy sản trong khu vực.
Ở nhiều nơi, việc quản lý kém tài nguyên như than đá, dầu, khí còn là
nguyên nhân của nghèo đói tham nhũng và xung đột.
Như vậy, đứng trước những nguy cơ không đảm bảo an ninh năng lượng và
các tác động môi trường, xã hội và khí hậu của NLHT chúng ta cần tìm đến những
biện pháp bền vững hơn.

4.

Giải pháp cấp thiết hiện nay

4.1.

Nghị định thư Kyoto về khí hậu
Nhu cầu về năng lượng và cùng với nó là lượng khí thải CO2 và các khí khác

mà ta thường gọi chung là “khí nhà kính” đã và đang tăng lên trong suốt 50 năm
qua. Sự tăng lên của lượng khí nhà kính này sẽ làm cho khí hậu toàn cầu ấm lên và



sulfur

hexafluoride. Hiện nay thì lượng khí CO2 vẫn chiếm thành phần chủ yếu trong các
loại khí nhà kính ở hầu hết các nước Annex I,tiếp theo sau đó là methane và nitrous
oxide.
Nghị định thư Kyoto sẽ có hiệu lực sau 90 ngày kể từ khi có ít nhất 55 nước
trong đó bao gồm cả các nước nằm trong Annex I,tạo ra tổng cộng 55% lượng khí
nhà kính toàn cầu năm 1990, đặt bút phê chuẩn. Đến cuối năm 2003, 119 nước trên
Thế giới và Liên minh Châu Âu đã thông qua Hiệp định, bao gồm cả Canada, Trung
Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Mexico, New Zealand và Nam Triều Tiên. 31 nước trong
Annex I,thải ra 44,2% tổng lượng khí nhà kính năm 1990, đã đặt bút ký vào bản
Hiệp ước.. Theo nguồn tin ngày 28/7/2005 của BBC, Mỹ cùng 5 nước Châu ÁThái Bình Dương đang dự thảo một Hiệp ước về khí hậu mới để cạnh tranh với
Kyoto 1997, trong đó sẽ có mục chuyển giao công nghệ từ những nước công nghiệp
sang những nước đang phát triển, nhưng các chi tiết của dự thảo này vẫn còn đang
được giữ kín.
4.2.

Giải pháp làm giảm ô nhiễm khi sử dụng năng lượng

10


Nitrogen oxide sinh ra trong quá trình đốt cháy ở nhiệt độ cao như trong quá
trình vận hành xe hơi, máy móc và các nhà máy phát điện.. Để giảm lượng khí độc
hại sinh ra trong quá trình vận tải, một số nước áp dụng công nghệ cao để tạo ra
những loại máy móc hay ô tô đạt tiêu chuẩn cũng như hạn chế hàm lượng
sulfurtrong xăng, dầu để đảm bảo hạn chế đến mức tối đa lượng khí thải. Hầu hết
các nước ở châu Phi, Liên Xô cũ, Trung Đông và Mỹ Latin là vẫn còn dùng xăng

11


• Than đá: Than đá có nguồn gốc sinh hóa từ quá trình trầm tích thực vật
trong những đầm lầy cổ cách đây hàng trăm triệu năm. Khi các lớp trầm tích
bị chôn vùi, do sự gia tăng nhiệt độ, áp suất, cộng với điều kiện thiếu oxy
nên thực vật (thực vật chứa một lượng lớn cellulose, hợp chất chứa C, O, H)
chỉ bị phân hủy một phần nào. Dần dần, hydro và oxy tách ra dưới dạng khí,
để lại khối chất giàu cacbon là than.
Than là dạng nhiên liệu hóa thạch có trữ lượng phong phú nhất, được tìm
thấy chủ yếu ở Bắc Bán Cầu. Các mỏ than lớn nhất hiện nay nằm ở Mĩ, Nga,
Trung Quốc và Ấn Độ. Các mỏ tương đối lớn ở Canada, Đức, Balan, Nam
Phi, Úc, Mông Cổ, Brazil...Trữ lượng than ở Mĩ chiếm khoảng 23,6% của cả
thế giới.
• Dầu và khí thiên nhiên: có nguồn gốc từ các trầm tích biển giàu xác bã
động thực vật cách đây khoảng 200 triệu năm. Các trầm tích hữu cơ ở điều
kiện chôn vùi thiếu oxy, dưới nhiệt độ 50-250 độ C, áp suất ở độ sâu 2-7 km
theo thời gian tạo nên hỗn hợp hydrocacbob là dầu và khí (ở dãy nhiệt độ cao
hơn và độ sâu sâu hơn dầu).
Phân bố dầu và khí thiên nhiên trên thế giới :Trữ lượng khổng lồ đến 63,2%
lượng dầu của cả thế giới tập trung ở Vịnh Ba Tư, nhất là Ảrập Saudi (thành
viên số 1 của OPEC :Organization of Petroleum Exporting Countries). Các
mỏ dầu quan trọng còn lại khác nằm ở vịnhư Venezuela, Mehico, Nga, Libi
và Mỹ (Alaska và vịnh Mehico).Gần 1/2 (49%) trữ lượng khí thiên nhiên của
thế giới nằm ở 2 nước Nga và Iran. Các mỏ khí thiên nhiên quan trọng khác
nằm ở Các Tiểu Vương Quốc Arap thống nhất, Arap Saudi, Mỹ và
Venezuela.

12


bay hơi và các kim loại
Hình 8. Biến động hàm lượng điôxít cacbon trong thời
gian 400.000 năm gần đây cho thấy sự gia tăng của
nó kể từ khi bắt đầu cách mạng công nghiệp.
Canada:"Ngành điện là duy

nặng.Theo Bộ Môi trường

nhất trong số những ngành
công nghiệp trong đóng góp rất lớn của nó vào các phát thải liên quan đến hầu
hết các vấn đề về không khí. Sản xuất điện thải ra một lượng lớn các ôxít nitơ và
điôxít lưu huỳnh tại Canada, tạo ra sương mù và mưa axít và hình thành vật chất
hạt mịn. Nó là nguồn thải thủy ngân công nghiệp lớn nhất không thể kiểm soát
được tại Canada. Các nhà máy phát điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch cũng phát
thải vào môi trường điôxít cacbon, một trong những chất tham gia vào quá trình
biến đổi khí hậu. Thêm vào đó, ngành này có những tác động quan trọng đến
nước, môi trường sống và các loài. Cụ thể, các đập nước và các đường truyền tải
cũng tác động đáng kể đến nước và đa dạng sinh học."
c) Tại việt nam
Tình hình khai thác: Tính đến 1/1/2005 tổng trữ lượng than đã tìm kiếm thăm dò
khoảng 6,14 tỷ tấn. Mỗi chu kỳ kế hoạch 5 năm tổng sản lượng khai thác than tăng
khoảng 1-5 triệu tấn nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Tổng trữ lượng dầu khí có thể đưa vào khai thác ở nước ta khoảng 3,8-4,2 tỷ tấn
quy đổi (TOE), trong đó trữ lượng đã được xác định khoảng 60% (1,05 - 1,14
TOE).Khả năng khai thác dầu thô so với năm 2010 dự báo đến năm 2020 sẽ sụt
giảm, còn 16-17 triệu tấn/năm. Đối với khí đốt, khả năng khai thác sẽ tăng, giai
đoạn 2011-2015 sẽ đạt mức từ 10,7 tỷ m3 lên 19 tỷ m3.
14



lượnghữu ích từ hạt nhân nguyên tửthông qua các lò phản ứng hạt nhân có kiểm
soát. Phương pháp duy nhất được sử dụng hiện nay làphân hạch hạt nhân, mặc dù
các phương pháp khác có thể bao gồm tổng hợp hạt nhân và phân rã phóng xạ. Tất
cả các lò phản ứng với nhiều kích thước và mục đích sử dụng khác nhau đều dùng
nước được nung nóng để tạo ra hơi nước và sau đó được chuyển thành cơ năng để

15


phátđiện hoặc tạo lực đẩy. Năm 2007, 14% lượng điện trên Thế giới được sản xuất
từ năng lượng hạt nhân.
a) Nguồn gốc
Phản ứng phân hạch hạt nhân được Enrico Fermi thực hiện hành công vào năm
1934 khi nhóm của ông dùng nơtron bắn phá hạt nhân uranium. Năm 1938, các nhà
hóa học người Đức làOtto Hahn và Fritz Strassmann, cùng với các nhà vật l{ người
Úc Lise Meitner và Otto Robert Frisch đã thực hiện các thí nghiệm tạo ra các sản
phẩm của uranisau khi bị nơtron bắn phá.. Các nhà khoa học tâm đắc điều này ở
một số quốc gia (như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Pháp, Đức và Liên Xô) đã đề nghị
với chính phủ của họ ủng hộ việc nghiên cứu phản ứng phân hạch hạt nhân. Điện
được sản xuất đầu tiên từ lò phản ứng hạt nhân thực nghiệm EBR-I vào ngày 20
tháng 12 năm 1951 tại Arco, Idaho, với công suất ban đầu đạt khoảng 100 kW (lò
phản ứng Arco cũng là lò đầu tiên thí nghiệm về làm lạnh từng phần năm 1955).
b) Sử dụng
Đến năm 2005, năng lượng hạt nhân cung cấp 2,1% nhu cầu năng lượng của Thế
giới và chiếm khoảng 15% sản lượng điện Thế giới, trong khi đó chỉ tính riêngHoa
Kz, Pháp, vàNhật Bản sản lượng điện từ hạt nhân chiếm 56,5% tổng nhu cầu điện
của ba nước này. Đến năm 2007, theo báo cáo của Cơ quan Năng lượng Nguyên
tửQuốc tế (IAEA) có 439 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động trên Thế giới, thuộc
31 quốc gia.


Cũng giống như một số trạm năng lượng nhiệt phát điện bằng nhiệt năng từ việc
đốt nhiên liệu hóa thạch, các nhà máy năng lượng hạt nhân biến đổi năng lượng giải
phóng từ hạt nhân nguyên tử thông qua phản ứng phân hạch. Khi một hạt nhân
nguyên tử dùng để phân hạch tương đối lớn (thường làurani 235 hoặc plutoni-239)
hấp thụ nơtron sẽ tạo ra sự phân hạch nguyên tử.. Một phần nơtron tự do này sau đó
được hấp thụ bởi các nguyên tử phân hạch khác và tiếp tục tạo ra nhiều nơtron hơn.
Đây là phản ứng tạo ra nơtron theo cấp số nhân. Phản ứng dây chuyền hạt nhân này
có thể được kiểm soát bằng cách sử dụng chất hấp thụ nơtron và bộ đều hòa nơtron
để thay đổi tỷ lệ nơtron tham gia vào các phản ứng phân hạch tiếp theo. Các lò phản
ứng hạt nhân hầu hết có các hệ thống vận hành bằng tay và tự động để tắt phản ứng
phân hạch khi phát hiện các điều kiện không an toàn.
e) Những sự cố đã xảy ra
Ngày 26 tháng 4 năm 1986, lò phản ứng số 4 của nhà máy điện nguyên
tửChernobylphát nổ, gây ra một loạt vụ nổờ các lò phản ứng khác, làm tan chảy lõi
lò phản ứng hạt nhân. Đây là sự cố hạt nhân trầm trọng nhất trong lịch sử. Do không
có tường chắn nên các đám mây bụi phóng xạ bay lên bầu trời và lan rộng ra nhiều
khu vực phía tây Liên bang Xô Viết, một số nướcĐông Âu và Tây Âu, Anh và phía
đông Hoa Kz. Thảm hoạnày phát ra lượng phóng xạ lớn gấp bốn trăm lần so với quả
bom nguyên tử được ném xuốngHiroshima. Sau thảm họa, hàng loạt các vấn đề về
ô nhiễm môi trường cũng như về sức khỏe đe dọa người dân.
Gần đây nhất, ngày 11 tháng 3, 2011, sau trận thảm họa động đất và sóng
thần Sendai 2011, nhà máy điện hạt nhân Fukushima gặp hàng loạt các vấn đề đối
với các lò phản ứng và rò rỉ phóng xạ gây ra sự cố nhà máy điện Fukushima I. Tình
trạng ô nhiễm phóng xạngày càng cao. Tuy không có người tửvong tại chỗ, nhưng
nó gây nhiều lo ngại về sức khỏe của con người trong khu vực bị ảnh hưởng sau
18


này. Dự kiến phải mất vài năm để sửa chữa nhà máy và vài tháng để khử sạch
phóng xạ.

và. Ánh sáng mặt trời bị hấp thụ bởi các đại dương và các vùng đất giữbề mặt ở
nhiệt độ trung bình là 14 °C. Bằng cách quang hợp cây xanh chuyển đổi năng lượng
mặt trời vào năng lượng hóa học, trong đó sản xuất thực phẩm, gỗ và sinh khối từ
nhiên liệu có nguồn gốc hóa thạch.
19


a) Có những loại năng lượng nào thu được từ mặt trời?
-

Nhiệt mặt trời: Công nghệ nhiệt mặt trời có thể được sử dụng cho đun nước
nóng, sưởi ấm.

-

Điện mặt trời

-

Hóa học năng lượng mặt trời

-

Xe năng lượng mặt trời

b) Phương pháp lưu trữ năng lượng
Năng lượng mặt trời có thể được lưu trữ ở nhiệt độ cao bằng cách sử dụng muối
nóng chảy. Muối là một phương tiện lưu trữ có hiệu quả bởi vì chúng có chi phí
thấp, có nhiệt dung riêng cao và có thể cung cấp nhiệt ở nhiệt độ tương thích với
các hệ thống điện thông thường. Solar Two sử dụng phương pháp lưu trữ năng

đặc biệt là năng lượng mặt trời. Trải dài từ vĩ độ 23023’ Bắc đến 8027’ Bắc, Việt
Nam nằm trong khu vực có cường độ bức xạ mặt trời tương đối cao. Trong đó,
nhiều nhất phải kể đến thành phốHồ Chí Minh, tiếp đến là các vùng Tây Bắc (Lai
Châu, Sơn La, Lào Cai) và vùng Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh)…
Theo ông Nguyễn Đức Cường – Phụ trách Trung tâm Năng lượng tái tạo và
CDM - Viện Năng lượng (EVN), “rào cản” lớn nhất của vấn đề này bắt nguồn từ
kinh phí. Dù năng lượng mặt trời ở dạng “nguyên liệu thô”, nhưng chi phí đầu tư để
khai thác, sử dụng lại rất cao do công nghệ, thiết bị sản xuất đều nhập từ nước
ngoài. Phần lớn những dự án điện mặt trời đã và đang triển khai đều sử dụng nguồn
vốn tài trợ hoặc vốn vay nước ngoài. Do đó, mới chỉ có một vài tổ chức, viện
nghiên cứu và các trường đại học tham gia, còn phía doanh nghiệp, cá nhân vẫn
chưa “mặn mà” với việc ứng dụng, sản xuất cũng như sử dụng các thiết bị năng
lượng mặt trời.
2.2.

Năng lượng gió
Năng lượng gió là động năng của không khí di chuyển trong bầu khí quyển

Trái Đất. Năng lượng gió là một hình thức gián tiếp của năng lượng mặt trời. Sử
dụng năng lượng gió là một trong các cách lấy năng lượng xa xưa nhất từ môi
trường tự nhiên và đã được biết đến từ thời kz Cổ đại.
a) Sự hình thành năng lượng gió
Bức xạ Mặt Trời chiếu xuống bề mặt Trái Đất không đồng đều làm cho bầu
khí quyển, nước và không khí nóng không đều nhau. Một nửa bề mặt của Trái Đất,
mặt ban đêm, bị che khuất không nhận được bức xạ của Mặt Trời và thêm vào đó là
bức xạ Mặt Trời ở các vùng gần xích đạo nhiều hơn là ở các cực, do đó có sự khác
21


nhau về nhiệt độ và vì thế là khác nhau về áp suất mà không khí giữa xích đạo và 2




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status