LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ, CHUYỂN DỊCH cơ cấu KINH tế THEO NGÀNH TRÊN địa bàn TỈNH hà NAM - Pdf 42

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ
Cơ cấu lao động
Công nghiệp
Công nhân kỹ thuật
Cụm công nghiệp
Dịch vụ
Khu công nghiệp
Lâm nghiệp
Năng suất lao động
Nhà xuất bản
Nông nghiệp
So sánh
Thuỷ sản

Chữ viết tắt
CCLĐ
CN
CNKT
CCN
DV
KCN
LN
NSLĐ
Nxb
NN
SS
TS

Chuyển dịch

Quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến

10
10

chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành trên địa bàn tỉnh
Hà Nam
Chương 2

THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG
THEO NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM

2.1
2.2

Một vài nét về đặc điểm của tỉnh Hà Nam
Thành tựu và hạn chế, nguyên nhân trong chuyển dịch cơ
cấu lao động theo ngành trên địa bàn tỉnh Hà Nam

Chương 3

20
28
28
34

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU LAO ĐỘNG THEO NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
HÀ NAM ĐẾN NĂM 2020


điểm, điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi khu vực và
mỗi tỉnh, thành phố là quan trọng nhất. Nước ta phấn đấu đến năm 2020 cơ
bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại để đạt được mục
tiêu đó thì nhiệm vụ cấp bách nhất hiện nay là phải đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Mà cơ
cấu lao động và cơ cấu kinh tế lại có mối liên hệ mật thiết với nhau. Để
chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công nhất thiết phải có sự chuyển dịch cơ
cấu lao động phù hợp. Do đó vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động để đẩy
nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng hướng là một vấn đề quan trọng
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, cần được nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay.
Tỉnh Hà Nam nằm ở Tây Nam châu thổ sông Hồng, trong vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ, là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội với diện tích đất tự nhiên
84.952 ha; có thị xã Phủ Lý là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá của tỉnh,
cách Hà Nội 58 km, tương lai không xa sẽ trở thành Thành phố vệ tinh của Hà
Nội. Hà Nam có mạng lưới giao thông rất thuận lợi, là tỉnh nằm trên trục
đường sắt Bắc Nam và quốc lộ 1A - huyết mạch giao thông quan trọng của cả
nước, tạo điều kiện thuận lợi để giao lưu hợp tác kinh tế với các tỉnh, thành
phố và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước cũng như từ đó tới các cảng
biển, sân bay ra nước ngoài. Bên cạnh đó Tỉnh còn có địa hình đa dạng vừa có
đồng bằng, có vùng bán sơn địa, vừa có vùng trũng. Vùng đồi núi phía Tây có
nhiều tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là đá vôi, để phát triển công nghiệp sản
3


xuất vật liệu xây dựng, nhất là xi măng. Vùng đồng bằng có diện tích đất đai
màu mỡ, bãi bồi ven sông Hồng, sông Châu, là tiền đề để phát triển sản xuất
nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm và du lịch
sinh thái. Địa hình đó là điều kiện để phát triển kinh tế đa dạng, với hướng kết
hợp kinh tế vùng đồng bằng với kinh tế vùng đồi núi. Bên cạnh những thế
mạnh về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, về nguồn lực lao động để phát

ngành trên địa bàn tỉnh Hà Nam” làm luận văn cao học kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có quan hệ biện chứng với CDCCLĐ,
nhằm khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực lao động và các nguồn lực
khác của Tỉnh. Vấn đề CDCCLĐ đã được Đảng, Nhà nước ta đề cập trong
nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, cho đến nay đã có
nhiều tác giả và nhiều công trình nghiên cứu phân tích vấn đề này ở nhiều góc
độ khác nhau như:
- “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc
dân” của GS, TS Ngô Đình Giao, Nxb CTQG, năm 1994. Trong cuốn sách
này tác giả đã phân tích luận giải những nhân tố tác động đến việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, từ đó đề ra một số giải pháp
cơ bản để thực hiện sự chuyển dịch đó, tác giả đã tập trung vào luận giải cơ
chế, chính sách của Đảng, Nhà nước là nhân tố cơ bản quyết định đến việc
chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
-“ Chuyển dịch cơ cấu lao động Việt Nam trogn thời kỳ đổi mới (từ
1986 đến nay)- Phạm Đức Thành – Tạp chí Kinh tế và phát triển .2006.-số
112-tháng 10.-Tr43-46
Bài viết đánh giá những thành tựu đạt được, các mặt còn tồn tại chủ
yếu của quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động của Việt Nam trong 20 năm
qua (1986-2005); Nêu khái quát mục tiêu và giải pháp cơ bản để thực hiện
chuyển dịch cơ cấu lao động của nước ta đến năm 2010.

5


-“Chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn và tác động
của nó đến củng cố quốc phòng nước ta hiện nay”
Luận án tiến sĩ kinh tế về.“Vấn đề lao động và việc làm” của GS, TS
Đỗ Thế Tùng năm 1996. “Phát triển nguồn nhân lực để công nghiệp hóa,

Bài báo: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam những năm đầu thế
kỷ XXI” của TS Nguyễn Trần Quế : Bài viết đã đi sâu phân tích và đánh
giá một cách tổn quát sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong
những năm 1990-2002, chỉ ra những điểm mạnh, yếu, xu hướng chuyển
dịch và các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh
hơn….Tác giả đã dựng lên một bức tranh tổng quát về chuyển dịch cơ cấu
Kinh tế của Việt Nam trong những năm 1990-2002.
Bài báo: “Thực trạng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động vùng
Đồng bằng sông Hồng” của Nguyễn Sinh Cúc - Tin tham khảo nội bộ kinh
tế-xã hội. - 1995 . - số 11 đã nêu những nguyên nhân, đặc điểm của quá trình
chuyển dịch cơ cấu lao động và đi theo nó là cơ cấu ngành nghề của các tỉnh
Đồng bằng sông Hồng từ năm 1989 trở lại đây và hiệu quả kinh tế - xã hội
của nó.
Bài báo: “Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn: hiện trạng thời
kỳ 1990-2005 và triển vọng đến năm 2015” của Nguyễn Thị Lan Hương,
Tạp chí Nghiên cứu kinh tế. - 2007, số 11,bài báo đã tập trung phân tích
những đặc điểm về quy mô dân số và lao động, trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn kỹ thuật; tình hình chuyển dịch cơ cấu lao động giữa 3 nhóm
ngành: Nông - lâm - ngư, công nghiệp - xây dựng và nhóm ngành dịch vụ;
Vấn đề việc làm và giải quyết thất nghiệp lao động nông thôn Việt Nam
trong giai đoạn 1990-2005; Đồng thời trên cơ sở dự báo quan hệ cung-cầu
lao động nông thôn đến năm 2015 tác giả đưa ra những định hướng cơ bản
về chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn trong những năm tới.
Đề tài: “Chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn và tác
động của nó đến củng cố quốc phòng nước ta hiện nay” của Phạm Anh Tuấn
7


- Luận án tiến sỹ kinh tế - 2004. Luận án nghiên cứu những vấn đề cơ bản của
quá trình chuyển dịch CCLĐ nông nghiệp, nông thôn, đề xuất những giải

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử của chủ
nghĩa Mác-Lênin để nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn CDCCLĐ theo
ngành, đề xuất phương hướng và giải pháp CDCCLĐ theo ngành trên địa bàn
tỉnh Hà Nam.
* Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị MácLênin là trừu tượng hóa khoa học; phương pháp kết hợp lôgíc với lịch sử,
phương pháp khảo sát, điều tra, thống kê, so sánh và phương pháp chuyên
gia...để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đặt ra của luận văn.
6. Ý nghĩa của đề tài
Làm rõ sự tác động của CDCCLĐ theo ngành trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
Đưa ra phương hướng và giải pháp CDCCLĐ theo ngành trên địa bàn
tỉnh Hà Nam thời gian tới.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
xây dựng kế hoạch, qui hoạch phát triển nguồn nhân lực và CDCCLĐ theo
ngành ở tỉnh Hà Nam và các địa phương khác.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo và giảng dạy kinh tế chính
trị trong hệ thống giáo dục và đào tạo trong nước.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.

9


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG
THEO NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM


Trong đó, nhóm ngành nông nghiệp bao gồm các ngành nông, lâm, ngư
nghiệp; nhóm ngành công nghiệp bao gồm các ngành công nghiệp nặng,
công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, công nghiệp khai thác; nhóm
ngành dịch vụ và du lịch bao gồm thương mại, du lịch, dịch vụ…
Cơ cấu kinh tế ngành còn biểu hiện số lượng và tỷ trọng của các nhóm
ngành. Theo đó, cơ cấu kinh tế ngành chỉ rõ số lượng các ngành, mối tương
quan giữa các ngành, vị trí, vai trò của các ngành trong nền kinh tế.
Như vậy, khi nền kinh tế hình thành nên các nhóm ngành, các mối quan
hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành cũng được hình thành, các mối
quan hệ tương tác này hướng vào các mục tiêu đã xác định. Cơ cấu kinh tế
nói chung, cơ cấu kinh tế ngành nói riêng là một phạm trù trừu tượng, liên tục
biến đổi theo sự phát triển của lực lượng sản xuất, muốn nắm vững bản chất
của cơ cấu kinh tế ngành và thực thi các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành một cách có hiệu quả cần xem xét từng loại cơ cấu cụ thể của
nền kinh tế quốc dân.
* Chuyển dịch cơ cấu lao động
Theo Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực, trường Đại học Kinh tế quốc
dân: "Chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình thay đổi tỷ trọng và chất
lượng lao động vào các ngành và các vùng khác nhau. Chuyển dịch cơ cấu lao
động theo hướng tiến bộ là quá trình thay đổi tỷ trọng và chất lượng lao động
vào các ngành, các vùng theo xu hướng hợp lý nhằm sử dụng đầy đủ và có
hiệu quả cao các nguồn nhân lực để tăng trưởng và phát triển kinh tế" [20,73].
Theo PGS.TS Nguyễn Tiệp, "Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay
đổi trong quan hệ tỷ lệ, cũng như xu hướng vận động của các bộ phận cấu
thành nên nguồn nhân lực, được diễn ra trong một không gian, thời gian và
theo một chiều hướng nhất định. Đó là quá trình tổ chức và phân công lại lực
11


lượng lao động, qua đó làm thay đổi quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phận của nguồn


động theo ngành là sự thay đổi cấu trúc lao động trong nội bộ mỗi ngành. Hơn
nữa, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành còn làm thay đổi chất
lượng lao động trong từng ngành. Mỗi ngành đều có những đặc tính riêng,
do đó đặc điểm lao động của các ngành khác nhau thể hiện trước hết là
trình độ của lao động. Do vậy, quá trình chuyển dịch dẫn đến sự di chuyển
lao động không chỉ về lượng, mà còn là di chuyển về chất lượng lao động
của từng ngành.
* Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành trong nền kinh
tế và trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Quá trình CDCCLĐ theo ngành trong nền kinh tế và trên địa bàn ở tỉnh
Hà Nam là hết sức cần thiết. Điều đó bắt nguồn từ những lý do cơ bản sau:
Một là, do yêu cầu phát huy vai trò của lao động trong nền
sản xuất xã hội
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh vai trò
to lớn của lao động. Mác viết “lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa
con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động chính mình,
con người làm trung gian điều tiết và kiểm soát sự trao đổi chất giữa họ và tự
nhiên”. Ông còn cho rằng “con người không chỉ làm biến đổi hình thái những
cái do tự nhiên cung cấp... Con người cũng đồng thời thực hiện các mục đích
tự giác của mình mục đích ấy quyết định phương thức hành động của họ
giống như một quy luật và bắt ý chí của họ phải phục tùng nó” . Trong bộ tư
bản, Mác còn phân tích một cách khoa học vai trò của tư bản khả biến đối với
việc tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Lênin cũng đánh giá cao vai trò của lao
động, Ông cho rằng “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là
công nhân, là người lao động”.
Kế thừa và phát huy những di sản quý báu của các nhà kinh điển chủ
nghĩa Mác-Lênin và chọn lọc những kiến thức, những thành quả của kinh tế
học hiện đại, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn nước ta. Đảng và Nhà nước ta
14

15


nghiệp và dịch vụ; giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp. Tuy nhiên quá trình
chuyển dịch này diễn ra còn chậm, chưa đồng đều so với khả năng thực tế
Có thể nói cho đến nay CCLĐ đang còn mất cân đối giữa các ngành,
các khu vực (giữa sản xuất và phi sản xuất), giữa các vùng (đô thị và nông
thôn) giữa các thành phần kinh tế (Nhà nước, tập thể và tư nhân...) đã gây ra
những khó khăn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và tạo ra sự mất cân
đối về phân bố lao động giữa các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế
trong quá trình CNH, HĐH.
Chuyển dịch CCLĐ theo ngàng là hệ quả tất yếu của chuyển dịch cơ
cấu kinh tế. Hà Nam là một tỉnh hiện đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
với tốc độ nhanh và tích cực, từ ngành nông nghiệp có năng suất lao động
thấp sang ngành công nghiệp và dịch vụ có năng suất lao động cao hơn. Đặc
biệt là sự hình thành và phát triển nhanh các khu công nghiệp tập trung đã,
đang và sẽ thu hút một lực lượng lao động lớn của xã hội.
Ba là, do yêu cầu của việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước trong thời kỳ mới
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển biến toàn diện, lâu
dài được tiến hành trên tất cả của lĩnh vực của đời sống, trong đó trọng tâm là
phát triển kinh tế, muốn làm được điều này thì việc chuyển dịch cơ cấu lao
động theo ngành là rất cần thiết để tạo ra đội ngũ những người lao động có
trình độ tay nghề cao ở những lĩnh vực ngành nghề khác nhau, từ đó tạo ra sự
chuyển dịch lao động theo những ngành đó, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ
của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và của tỉnh Hà
Nam nói riêng. Như vậy, chính yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước mà đặt ra yêu cầu phải chuyển dịch cơ cấu lao động theo
ngành cho phù hợp với từng lĩnh vực mà ở đó đang rất cần đội ngũ có chuyên
môn tạo ra năng xuất lao động ngày càng cao.

phải thực hiện cho được bước nhảy vọt về khoa học công nghệ trong lĩnh vực
17


công nghiệp của tỉnh nhà. Hướng chính là hiện đại hóa từng phần, từng công
đoạn quan trọng trong dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản
phẩm, hạ giá thành, nâng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
Thông qua đầu tư nước ngoài để đi thẳng vào công nghệ hiện đại. Nhập khẩu
công nghệ và thiết bị có cân nhắc loại bỏ ngay từ đầu các công nghệ đã lạc
hậu hoặc sắp lạc hậu. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh, không ngừng tích lũy để tái sản xuất mở
rộng, ưu tiên một phần vốn của Nhà nước để nghiên cứu khoa học và vận
dụng kết quả vào nghiên cứu sản xuất, trước hết là các ngành công nghiệp
then chốt thuộc thế mạnh của địa phương, cho phép các doanh nghiệp khấu
hao tài sản cố định nhanh để thu hồi vốn, thay công nghệ mới, ưu tiên cho các
doanh nghiệp vay vốn để đổi mới công nghệ. Căn cứ vào các chính sách vĩ
mô của Nhà nước về công nghệ, tỉnh cần soạn thảo một chính sách đặc biệt
cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế hàng nhập
khẩu để khuyến khích họ đầu tư đổi mới công nghệ trước. Phát động phong
trào thi đua về sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong các doanh nghiệp, có chế độ
khen thưởng kịp thời và thỏa đáng cho các tổ chức, cá nhân đạt nhiều thành
tích trong phong trào này.
Ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ hiện đại là yêu cầu bức
thiết đặt ra trong giai đoạn hiện nay ở tỉnh Hà Nam. Muốn vậy, điều trước tiên
phải tính đến là đội ngũ lao động trong tỉnh, nhất là đội ngũ lao động đã và sẽ
làm việc trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, kể cả đội ngũ lao động
nông thôn “ly nông bất ly hương”. Họ phải có một trình độ văn hóa, trình độ
chuyên môn kỹ thuật nhất định để kịp thời nắm bắt và ứng dụng khoa học công nghệ mới vào lao động sản xuất trong các doanh nghiệp. Đội ngũ lao
động này có thể đang làm việc trong các nhà máy xí nghiệp, trong các khu
công nghiệp, hoặc chuyển từ các ngành kinh tế khác sang. Vì vậy, họ phải

nhiều lao động, nhất là nông nghiệp, nông thôn, song cũng đang có xu hướng
19


giảm dần. Khu vực kinh tế hiện đại (nơi có thị trường sức lao động phát triển)
đang có sự biến động cả về quy mô và tốc độ, ngày càng thu hút nhiều sức lao
động hơn, trước hết là ở các vùng đô thị khu công nghiệp tập trung. Khu vực
kinh tế này, cần sức lao động cũng có những thay đổi lớn và nhanh chóng, đòi
hỏi cần có sự điều chỉnh cơ cấu lao động cho phù hợp.
Thị trường sức lao động giữa các vùng phát triển chưa đồng đều, hệ
thống tổ chức cung ứng sức lao động chưa phát triển và hoạt động chưa có
hiệu quả, nên chưa trở thành cầu nối, gắn kết giữa cung sức lao động và cầu
sức lao động. Điều đó biểu hiện: Việc tuyển dụng chủ yếu qua quan hệ cá
nhân; thông tin thị trường sức lao động còn yếu kém; công tác dự báo chưa
được coi trọng...đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho cung
cầu sức lao động không ăn khớp với nhau trong chuyển dịch cơ cấu lao động
giữa các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế.
Có thể nói, việc tổ chức và phát huy tốt vai trò của thị trường sức lao
động sẽ thúc đẩy việc phân bố và sử dụng sức lao động một cách có hiệu quả,
khắc phục từng bước sự mất cân bằng giữa cung, cầu sức lao động theo
hướng nâng cao chất lượng lao động cho phù hợp với yêu cầu của khoa học
công nghệ hiện đại mà các nước công nghiệp trên thế giới đang hướng tới.
1.2. Quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển
dịch cơ cấu lao động theo ngành trên địa bàn tỉnh Hà Nam
1.2.1. Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành trên
địa bàn tỉnh Hà Nam
Sử dụng kết quả nghiên cứu ở trên về CDCCLĐ theo ngành nói chung
trong nền kinh tế, luận văn khái quát quan niệm về CDCCLĐ theo ngành trên
địa bàn tỉnh Hà Nam như sau: Là hoạt động chủ động của các chủ thể trong
Tỉnh thực hiện quá trình thay đổi về qui mô, số lượng, vị trí, tỷ trọng, chất


21


tế thành ba nhóm ngành lớn: Nhóm I: Bao gồm các ngành nông - lâm - thủy
sản. Nhóm II: Bao gồm các ngành công nghiệp - xây dựng.Nhóm III: Bao
gồm các ngành thương mại - dịch vụ. Trong 3 nhóm ngành lớn, mỗi nhóm
ngành lại là sự kết hợp của các ngành nhỏ hơn có những đặc điểm tương đối
giống nhau và các ngành này đã tạo nên cơ cấu nội bộ ngành. Nhóm ngành
nông nghiệp bao gồm các ngành: ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và
thủy sản; Nhóm ngành công nghiệp và xây dựng bao gồm các ngành: ngành
công nghiệp khai thác, ngành công nghiệp chế biến, các ngành sản xuất - phân
phối điện nước và khí đốt, ngành xây dựng; Nhóm ngành thương mại - dịch
vụ bao gồm các ngành: ngành dịch vụ kinh doanh có tính chất thị trường, dịch
vụ sự nghiệp, dịch vụ hành chính công… Mỗi nhóm ngành là sự kết hợp của
các ngành nhỏ hơn có đặc điểm tương đối giống nhau và chính cơ cấu của các
ngành này được gọi là cơ cấu nội bộ ngành.
Khi thu nhập theo đầu người tăng lên thì tỷ trọng của sản phẩm nông
nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân sẽ giảm xuống, tỷ trọng sản phẩm công
nghiệp sẽ tăng lên. Đó cũng chính là kết quả của quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nền kinh tế. Đến một mức độ nào đó, sẽ có sự chuyển dịch từ
khu vực sản xuất vật chất sang khu vực dịch vụ, và đến một trình độ nhất định
tỷ trọng của dịch vụ sẽ tăng nhanh hơn công nghiệp.
Các ngành kinh tế sẽ tịnh tiến đến ngành có vốn cao; chuyển từ nền
kinh tế với công nghệ cũ, lạc hậu, năng suất lao động thấp, chất lượng sản
phẩm kém sang nền kinh tế cơ giới hoá, hoá học hoá, điện khí hoá, chuyên
môn hoá với công nghệ tiên tiến, kỹ thuật hiện đại, năng suất lao động, chất
lượng sản phẩm cao hơn; từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức với công
nghệ cao, điện tử hoá, tin học hoá, tự động hoá, siêu xa lộ thông tin cùng với
đội ngũ công nhân trí thức đông đảo. Cùng với quá trình phát triển, các ngành

Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội bộ ngành công nghiệp - xây dựng:
Ngành công nghiệp - xây dựng là ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế với
hoạt động chủ yếu là khai thác, chế biến và xây dựng. Cũng như ngành nông

23


nghiệp, chuyển dịch CCLĐ nội bộ ngành công nghiệp - xây dựng thể hiện sự
thay đổi về quy mô và tỷ trọng lao động trong nội bộ các ngành công nghiệp xây dựng trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định. Chuyển dịch CCLĐ trong
nội bộ ngành công nghiệp - xây dựng hiện nay đang diễn ra theo hướng giảm
dần lao động trong các ngành khai thác mỏ, lao động các ngành công nghiệp
chế biến, chế tạo, các ngành công nghệ cao tăng lên. Đây là quá trình chuyển
dịch CCLĐ tất yếu, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế trong điều kiện
khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ và nguồn tài nguyên thiên nhiên
ngày càng cạn kiệt. Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội bộ ngành TM DV: Thương mại - dịch vụ là một ngành kinh tế với những hoạt động lao động
xã hội tạo ra sản phẩm hàng hoá dịch vụ đáp ứng kịp thời, thuận lợi, hiệu quả
cho thị trường kinh tế. Ngành TM - DV gồm nhiều ngành khác nhau, lao động
làm việc trong lĩnh vực TM - DV tương đối đa dạng và phong phú. Chuyển
dịch cơ cấu lao động nội bộ ngành TM - DV thể hiện sự thay đổi qui mô, tỷ
trọng lao động các ngành TM - DV trong mỗi thời kỳ nhất định. Trong điều
kiện đẩy mạnh CNH, HĐH gắn liền với phát triển kinh tế tri thức, hội nhập
kinh tế quốc tế ngày nay, chuyển dịch CCLĐ trong nội bộ ngành TM - DV
diễn ra theo hướng số lượng lao động trong các ngành kinh doanh trên thị
trường, buôn bán, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ KH - CN... ngày càng tăng.
Tỷ trọng dịch vụ chất lượng cao tăng, vì vậy chất lượng lao động dịch vụ
cũng có nhiều chuyển biến.
Thứ hai, chuyển dịch lao động từ sử dụng kỹ thuật thủ công lạc hậu,
năng suất lao động thấp, tạo ra sản phẩm kém chất lượng sang lao động sử
dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến, năng suất lao động cao, tạo ra sản phẩm
có sức cạnh tranh trong nền kinh tế của Tỉnh.

Chính vì thế, CDCCLĐ theo ngành của Tỉnh phải trên cơ sở tăng cường sự nỗ
lực chủ động của các cấp, các ngành trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nguồn
nhân lực ngày càng có chất lượng để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, tăng
cường mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của các ngành công nghiệp, dịch

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status