1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đã đặt con người vào
vị trí trung tâm, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển.
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI với sự
thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế hình thành và phát triển mạnh mẽ.
Thêm vào đó, với chính sách mở cửa, đã thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm thỏa mãn nhu
cầu của con người và xã hội. Thực tế đó đã thu hút một nguồn nhân lực lớn
tham gia vào lực lượng sản xuất trong các DN, đời sống vật chất của người
lao động ngày càng nâng cao. Đồng thời, với quá trình tăng trưởng kinh tế thì
quản lý nhà nước đối với MTLĐ còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết, đó là
mức độ ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, tình trạng sức khỏe người lao
động có xu hướng giảm.
Vấn đề bảo đảm MTLĐ trong những năm qua đã đạt những thành tựu
đáng kể, nhất là sau khi Quốc hội ban hành Bộ luật lao động, Luật BVMT,
Nghị định 06/CP và 175/CP của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn thi hành Bộ
luật lao động, Luật BVMT và những văn bản hướng dẫn khác nhằm tăng
cường quản lý nhà nước đối với MTLĐ nhằm bảo vệ nguồn lực cho quá trình
phát triển đất nước. Tuy nhiên, NSD và NLĐ có lúc chỉ hiểu đơn thuần vấn đề
MTLĐ chỉ có ý nghĩa về chính trị mà chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của
nó trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị của đất nước
và góp phần hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam. Môi trường lao động
trong sản xuất công nghiệp hàng năm thải ra hàng ngàn tấn bụi, hơi khí độc,
hàng chục ngàn tấn rác thải, nước thải gây nên ô nhiễm môi trường sống của
cùng với tổ chức phát triển của LHQ (UNDP) triển khai dự án VIE 18 về tăng
3
cường năng lực quản lý và thiết bị về an toàn và vệ sinh lao động. Trong giai
đoạn 1990 đến 2000 Chính phủ Việt Nam với tổ chức lao động thế giới (ILO)
triển khai dự án INT/10/DAN với ba giai đoạn (Phase one-Phase three) về
khảo sát đánh giá thực trạng và thông tin, giáo dục, tuyên truyền về an toàn và
vệ sinh lao động cho NLĐ trong các ngành xây dựng và thủy sản. Nhà nước
Việt Nam đã đưa vấn đề MTLĐ vào nghiên cứu trong hai chương trình lớn đó
là KX-07 và KT-02. Để triển khai các chương trình này, các cơ quan nghiên
cứu khoa học cũng đã nghiên cứu đề tài cấp nhà nước KX-07-15: "Một vài
nét về thực trạng làm việc, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tình hình
sức khỏe NLĐ" và Đề tài KT-02-05, Hà Nội 1994:"Đánh giá thực trạng tình
hình MTLĐ không an toàn ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp tổng quát xử
lý ô nhiễm nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho NLĐ", đề tài cấp nhà nước
KHCN-11-07: "Nghiên cứu xây dựng chiến lược và các biện pháp cơ bản để
giám sát,dự phòng và xử lý các nguy cơ ô nhiễm MTLĐ ảnh hưởng đến sức
khỏe NLĐ" và nhiều đề tài cấp bộ, cấp cơ sở khác. Tuy nhiên, hầu hết các đề
tài nghiên cứu chỉ giới hạn ở đánh giá thực trạng vấn đề MTLĐ và các giải
pháp KHKT nhằm cải thiện điều kiện làm việc của NLĐ hay các chế độ chính
sách luật pháp mà chưa có đề tài nào nghiên cứu về góc độ quản lý nhà nước
đối với MTLĐ nhằm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
thực tiễn quản lý nhà nước đối với MTLĐ ở nước ta; đề xuất một số giải pháp
nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước nhằm cải thiện MTLĐ phát triển
nguồn nhân lực, phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình CNH, HĐH.
Nhiệm vụ của luận án bao gồm:
địa bàn NTB-TN. Thời gian khảo sát thực trạng từ năm 1990 đến 2001 và đề
xuất quan điểm, giải pháp đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu được áp dụng
trong sản xuất công nghiệp và vận dụng cho các khu vực khác trong cả nước.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với các phương pháp đặc thù trong
nghiên cứu quản lý kinh tế như:
•
Phương pháp thống kê: Luận án thống kê tất cả số liệu về các kết
quả đo đạc MTLĐ, phiếu khám sức khỏe định kỳ của NLĐ trong các DN, kế
thừa các số liệu phục vụ nghiên cứu ở các đề tài KX-07-15, KHCN-11,VJCP
của Viện BHLĐ và Viện Y học lao động - vệ sinh môi trường
•
Phương pháp điều tra xã hội học, luận án xây dựng mẫu điều tra xã
hội học cho các đối tượng nghiên cứu cụ thể là:
Mẫu phiếu M1 với nội dung chủ yếu là phản ảnh trình độ lao động,
tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, thực trạng thực hiện các chế
độ chính sách, tình trạng sức khỏe NLĐ thông qua kết quả khám sức khỏe
định kỳ theo luật định trong sản xuất công nghiệp.
5
Mẫu phiếu M2 xây dựng bản câu hỏi "đóng" và "mở" phỏng vấn trực
tiếp NLĐ về tình trạng sức khỏe, tâm lý trong quá trình lao động, về việc thực
hiện chế độ chính sách của NSD, về nhận thức của NLĐ đối với MTLĐ...
•
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận quản lý nhà nước đối với MTLĐ,
xác định tầm quan trọng và nội dung của quản lý nhà nước nhằm bảo vệ và
cải thiện MTLĐ trong quá trình sản xuất.
6
•
Làm rõ những vấn đề cơ bản về MTLĐ góp phần hoàn thiện khái
niệm MTLĐ trong nền kinh tế thị trường
•
Làm rõ thực trạng các mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản
lý trong quản lý MTLĐ và thực trạng MTLĐ trên địa bàn NTB-TN.
•
Xác định các chỉ tiêu cơ bản và ứng dụng để đánh giá hiệu quả quản
lý nhà nước đối với MTLĐ có thể áp dụng trong cả nước.
•
Xây dựng quan điểm và đề xuất các giải pháp đổi mới quản lý nhà
nước đối với MTLĐ trong các DN sản xuất công nghiệp.
bản trên thế giới cũng như trong nước. Tùy theo mục đích nghiên cứu mà khái
niệm "môi trường" được phân chia thành những khái niệm khác nhau như
"môi trường tự nhiên", "môi trường sống", "môi trường xã hội" v.v..
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố tự nhiên và phi tự nhiên vận
động và phát triển trong một cơ thể thống nhất có ảnh hưởng trực tiếp hay
8
gián tiếp đến con người, và chính con người cũng là một yếu tố quan trọng tác
động đến quá trình vận động và phát triển của môi trường tự nhiên.
"Môi trường sống" là tổng các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới
sự sống và sự phát triển của các cơ thể sống. Môi trường sống của con người
là tập hợp các điều kiện vật lý, hóa học sinh học, xã hội bao quanh con người
và có ảnh hưởng tới sự sống của từng cá nhân và toàn bộ cộng đồng người.
Luật môi trường đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993, định
nghĩa như sau: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân
tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời
sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên" [83, tr. 5-6].
Từ định nghĩa đó chúng ta hiểu môi trường là một hệ thống trong đó
có nhiều phân hệ liên quan mật thiết và tác động lẫn nhau tạo nên một môi
trường chung. Nếu chúng ta quan niệm môi trường chung là một hệ thống
gồm nhiều phân hệ thì MTLĐ là phân hệ trong hệ thống đó.
1.1.1.2. Khái niệm MTLĐ
• MTLĐ theo quan điểm của các tổ chức trên thế giới và Việt Nam
MTLĐ là nơi diễn ra các mối quan hệ giữa con người với con người,
con người với công cụ lao động, con người với tự nhiên được giới hạn trong
phạm trù lao động. Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa hoặc khái niệm
về MTLĐ khác nhau tùy theo quan niệm của từng nước nhưng đều thống nhất
Định nghĩa này thừa nhận MTLĐ bao gồm ý nghĩa về khoa học tự
nhiên và xã hội nhưng được giới hạn trong một số lĩnh vực, trong một khoảng
không gian nhất định.
Đối với nước ta, khái niệm MTLĐ tại nơi làm việc đã được nói đến ở
rất nhiều công trình khoa học và ngay cả trong các nghị định của Chính phủ,
tuy còn nhiều cách diễn giải khác nhau nhưng đều thống nhất như sau:
"MTLĐ là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học và các mối quan hệ
xung quanh, được tạo nên dưới tác động của công cụ lao động, đối tượng lao
10
động và quy trình công nghệ" [125, tr. 12]. Theo Từ điển bách khoa Việt
Nam, MTLĐ được xem là thành phần của điều kiện lao động thể hiện trong định
nghĩa:
Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố tự nhiên, xã hội,
kinh tế, kỹ thuật được thể hiện bằng các công cụ; phương tiện lao
động, đối tượng lao động, MTLĐ, quá trình công nghệ ở một không
gian nhất định và việc bố trí, sắp xếp, tác động qua lại giữa các
yếu tố đó đối với con người tạo nên một điều kiện nhất định cho
con người trong quá trình lao động [148, tr. 807].
Định nghĩa về MTLĐ ở nước ta xuất hiện đầu những năm 80 của thế
kỷ XX, khi mà nền kinh tế của đất nước tồn tại dưới hai hình thức sở hữu là
sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Các DNNN sản xuất theo phương thức kế
hoạch hóa, mọi người đều làm công ăn lương bình đẳng như nhau, chưa xuất
hiện mối quan hệ giữa chủ và thợ, do vậy với định nghĩa như trên là hoàn toàn
xác đáng.
Theo định nghĩa của ILO và các nhà khoa học Việt Nam thừa nhận,
MTLĐ bao gồm các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học và các mối quan hệ xung
quanh xảy ra tại nơi làm việc của NLĐ. "Quan hệ xung quanh" theo ILO đó là
động của mình con người phải biết chấp nhận mức độ ô nhiễm môi trường
nhất định để tăng trưởng kinh tế và đồng thời con người phải biết tác động
ngược lại để khống chế mức độ ô nhiễm ở mức độ cho phép mà con người có
thể chịu đựng được. MTLĐ khác với môi trường nhân tạo ở chỗ, môi trường
nhân tạo cũng do con người tạo ra nhưng có thể có ý thức hoặc vô thức, vô
thức là ở chỗ con người khai phá tự nhiên nhưng không có ý thức bảo vệ tự
nhiên. Hay nói cách khác, MTLĐ có khả năng dùng yếu tố nội sinh (chủ
quan) tác động cải tạo yếu tố khách quan bằng các cơ chế chính sách công cụ
do con người tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình.
Lao động là "thiên nhiên thứ hai" mà trong đó con người tồn tại và
phát triển. Qua lao động, con người mới hình thành nhân cách, lối sống riêng
12
và tự hoàn thiện mình. Từ bản chất của môi trường và lao động chúng ta có
thể xác định MTLĐ là chỉ sự tổng hòa của các mối quan hệ giữa con người
với con người, giữa con người với tự nhiên trong hoàn cảnh lao động theo sự
phân công của xã hội có ảnh hưởng và tác động đến phát triển năng lực bản
chất của con người để tạo ra nền tảng tinh thần, hình thành nhân cách của mỗi
con người và tạo ra nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Phạm trù MTLĐ gắn liền với quá trình lao động của con người (bao
gồm mọi tầng lớp trong xã hội trên mọi lĩnh vực). Vì vậy, nó sẽ là một trong
những nhân tố tác động trực tiếp đến quá trình phát triển của xã hội loài
người. Trong quá trình lao động con người đã sử dụng các công cụ tác động
vào đối tượng lao động sản xuất ra của cải vật chất cho mình và làm giàu cho
xã hội, bản thân con người lại tạo ra các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học bổ
sung cho tự nhiên làm cho môi trường tự nhiên bị ô nhiễm và chính môi
trường đó tác động trở lại con người. Không những thế, trong lao động con
người lại chịu tác động của môi trường văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội.
mà con người sử dụng công cụ lao động, vận hành quy trình công nghệ tạo ra
sản phẩm có thể đạt chất lượng cao đồng thời tạo ra MTLĐ an toàn và hợp vệ
sinh, nếu diễn biến tâm lý theo hướng tích cực và ngược lại nếu diễn biến tâm
lý theo hướng tiêu cực. Chỉ có phát huy quyền làm chủ tập thể của NLĐ mới
phần nào hiểu được tâm lý của họ thông qua các tổ chức đoàn thể và theo đó
có những bước cải tiến điều chỉnh mới tạo ra một MTLĐ an toàn và hợp vệ sinh.
Mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình lao động được cụ thể
hóa bằng các chương, điều trong Bộ luật lao động, Luật BVMT, Luật bảo vệ
sức khỏe nhân dân, Luật hình sự v.v... của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Hai nhóm yếu tố cơ bản là vật thể và phi vật thể, liên quan, tồn tại và
tác động với nhau tạo nên một MTLĐ được xem như một hệ thống mang tính
chỉnh thể.
• Môi trường lao động là một hệ thống
15
Trong thời đại văn minh công nghiệp cùng với sự tiến bộ vượt bậc
của KHKT, công nghệ hiện đại, môi trường cần được hiểu như là một hệ
thống [134, tr. 9-11]. Vì MTLĐ được cấu tạo bởi những thành phần khác
nhau liên quan mật thiết và tác động lẫn nhau, nó có đầy đủ đặc trưng của một hệ
thống.
Thứ nhất, tính cấu trúc phức tạp, hệ thống MTLĐ bao gồm nhiều
thành phần hợp thành, các thành phần đó có bản chất cơ bản khác nhau (tự
nhiên, kỹ thuật, xã hội) và bị chi phối bởi các quy luật khác nhau.
Thứ hai, hệ thống MTLĐ là một hệ thống "động". Hệ thống MTLĐ
không phải là một hệ thống tĩnh, luôn luôn thay đổi trong cấu trúc của Nó.
Bất kỳ một sự thay đổi nào của hệ thống đều dẫn đến hệ thống lệch khỏi trạng
thái cân bằng và có xu hướng điều chỉnh để lập lại hệ thống cân bằng mới.
- MTLĐ không an toàn và hợp vệ sinh là MTLĐ mà trong đó có
những yếu tố nguy hiểm và độc hại dễ gây nên bệnh nghề nghiệp và suy giảm
sức khỏe NLĐ trong quá trình sản xuất mà chưa được loại trừ.
• MTLĐ trong sản xuất công nghiệp
MTLĐ trong công nghiệp về kết cấu cũng giống như MTLĐ trong các
ngành nghề khác tuy nhiên quy mô và phạm vi tác động lớn hơn nhiều.
Một là, các yếu tố nguy hiểm độc hại trong sản xuất công nghiệp tác
động đến NLĐ đa dạng hơn, nguy hiểm hơn. Bởi lẽ, đối tượng lao động trong
sản xuất công nghiệp đa dạng (chế biến nông lâm hải sản, hóa chất, phân bón,
vật liệu, da giày...), do đó các yếu tố nguy hiểm độc hại phát sinh trong quá
trình sản xuất đa dạng hơn.
Hai là, hàm lượng các chất độc hại lớn hơn nhiều so với các ngành
khác như diêm nghiệp và lâm nghiệp. Trong sản xuất công nghiệp khối lượng
các chất thải (khí, nước và chất thải rắn) thải ra trong quá trình sản xuất có
hàm lượng lớn.
Ba là, tác động gây ô nhiễm đến môi trường xung quanh lớn hơn so
với các hoạt động sản xuất kinh doanh khác.
Bốn là, trong sản xuất công nghiệp mật độ NLĐ lớn hơn nhiều so với
diêm nghiệp, lâm nghiệp và các ngành nghề khác.
Năm là, do đặc thù của sản xuất (sản xuất theo dây chuyền, sản xuất
theo ca) mà khả năng tự phòng vệ của NLĐ luôn luôn bị động chỉ trong chờ
19
vào vai trò quản lý của Nhà nước khi xuất hiện nguy cơ các yếu tố nguy hiểm
độc hại xâm nhập vào cơ thể.
Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước với cơ cấu nhiều
thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu, nếu không có luật chặt chẽ, không
có những tổ chức quản lý thích hợp đối với MTLĐ trong sản xuất công
1.1.2. Vai trò môi trường lao động
1.1.2.1. MTLĐ với phát triển nguồn nhân lực
Lịch sử tiến hóa của loài người phát triển từ cộng sản nguyên thủy cho
tới ngày nay đều thông qua hoạt động lao động sản xuất, MTLĐ hình thành
cùng với quá trình sản xuất và tác động trở lại con người trong quá trình đó.
Vì vậy, MTLĐ không an toàn và thiếu vệ sinh là một yếu tố tác động tiêu cực
đối với con người trong quá trình hình thành và phát triển. Ô nhiễm môi
trường trong sản xuất công nghiệp đối với con người mà họ phải chịu đựng
ngay bây giờ hoặc ở một thời điểm nào đó trong tương lai chủ yếu là tổn thất
về sức khỏe. Sức khỏe - hạnh phúc của con người có thể bị đe dọa do ốm đau
và chết non mà một trong những nguyên nhân là do MTLĐ bị ô nhiễm. Mỗi
khi nền công nghiệp phát triển sẽ thải ra không gian các loại bụi, hơi khí độc,
các bức xạ có hại dẫn đến ô nhiễm môi trường không khí, nguồn nước gây
nên bệnh tật và tử vong cho nhiều người. Theo Liver và Seskin đã thu thập và
xử lý số liệu thống kê ở 114 khu công nghiệp thuộc nước Mỹ đã tìm thấy tỷ lệ
người chết và ô nhiễm MTLĐ có liên quan với nhau. Ở Mỹ cứ giảm 10%
nồng độ bụi thì giảm tỷ lệ chết chung là 0,5%, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh là
0,7%, tỷ lệ thai nhi là 0,9%, giảm 10% nồng độ SO 2 thì giảm tỷ lệ chết chung
là 0,4%, thai nhi là 0,5% [87, tr. 92]. C. Mac - Ph. Ăngghen và V.I Lênin
trong các tác phẩm của mình đều đã phân tích sức khỏe của những NLĐ phụ
thuộc vào phương thức sản xuất của mỗi xã hội. Phương thức sản xuất bao
gồm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. MTLĐ quan hệ và tác động trực
tiếp đến lực lượng sản xuất. Hay nói cách khác MTLĐ là nhân tố tác động
đến phương thức sản xuất. Quản lý nhà nước đối với MTLĐ nhằm hạn chế ô
21
nhiễm môi trường do con người tạo ra trong quá trình lao động, phát triển
kinh tế, nâng cao sức khỏe cộng đồng và NLĐ. Nền kinh tế phát triển tạo điều
hơn có sự khác nhau. Tỷ lệ mắc bệnh đường ruột, hô hấp, nhiễm trùng... ở các
nước phát triển thấp hơn so với các nước đang phát triển.
Ngày nay trên thế giới người ta dùng trên 600.000 loại hóa chất trong
công nghiệp, các loại hóa chất như chì, thủy ngân, benzen, toluen... xâm nhập
vào cơ thể con người, thấm sâu vào máu gây tác hại nguy hiểm đến các cơ
quan nội tạng gây nên tình trạng ốm đau bệnh tật [4]. Chất độc truyền theo
đường hô hấp là nguy hiểm nhất và thường gặp nhất trong nhiễm độc nghề
nghiệp, chiếm tới 95%. Hầu hết các chất độc thể khí, hơi, bụi đều có thể qua
đường hô hấp, xâm nhập qua các phế quản và bảy triệu phế bào (rải rác có
diện tích chừng 120-150 m2) đi thẳng vào máu đến khắp các cơ quan, ngoài ra
còn truyền theo con đường tiêu hóa thường do thức ăn, uống, hút thuốc trong
khi làm việc, nuốt phải chất độc đọng lại ở đường hô hấp hoặc các chất độc
thấm qua da (chủ yếu là do các chất có thể hòa tan trong mỡ và trong nước)
vào máu như bezen, rượu etylic. Các chất độc khác còn trực tiếp qua lỗ
tuyến bã, tuyến mồ hôi, lỗ chân lông đi vào máu. Có một số chất độc không
gây tác dụng độc ngay khi xâm nhập vào cơ thể, mà nó tích chưa ở một số cơ
quan, dưới dạng các hợp chất không độc như chì, fluo tập trung vào trong
xương, asen tích vào trong da, hoặc lắng đọng vào gan thận. Đến một lúc nào
đó con người chịu ảnh hưởng của điều kiện nội ngoại tố thay đổi, các chất này
được huy động nhanh chóng đưa vào máu gây nhiễm độc phát sinh bệnh tật
ảnh hưởng đến thế hệ tương lai của đất nước. Năm 1970 nhà bác học người
Anh-Hamilton đã nghiên cứu các nguyên tố hóa học trong lớp vỏ trái đất với
não và máu người. Ông đã phát hiện ra tỷ lệ hàm lượng các nguyên tố hóa học
trong máu người trùng lặp kỳ lạ với các nguyên tố hóa học trong lớp vỏ trái
đất. Ví dụ, hàm lượng 4 nguyên tố chủ yếu C, H, O, N, chiếm 99,4% khối lượng
của con người và 50,5 % khối lượng của vỏ trái đất. Các nghiên cứu của các nhà
khoa học trên thế giới cho thấy một số bệnh tật của con người liên quan đến sự
thiếu hay dư thừa nguyên tố hóa học trong đất đá khu vực. Ví dụ, con người
24
định. Sản phẩm xã hội ngày càng dồi dào,việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên
ngày càng nhiều, nguy cơ mất an toàn và ô nhiễm môi trường ngày càng lớn.
Giữa tăng trưởng kinh tế và MTLĐ có mối quan hệ mật thiết với nhau,
chi phối lẫn nhau, vấn đề đặt ra phải làm thế nào vừa tăng trưởng kinh tế vừa
đảm bảo MTLĐ an toàn và hợp vệ sinh, đó là vấn đề mà nhiều nước trên thế
giới quan tâm. Giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ MTLĐ an toàn và hợp vệ
sinh có mối quan hệ không theo chiều thuận, muốn tăng trưởng kinh tế nhanh
nhất thiết phải bỏ qua vấn đề đảm bảo MTLĐ trong một khoảng thời gian
nhất định cho đến khi kinh tế phát triển mới chăm lo đến MTLĐ. Điều đó có
thể cắt nghĩa rằng, muốn tăng trưởng kinh tế thì phải tăng năng suất lao động,
sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên dẫn đến MTLĐ bị ô nhiễm, nguy cơ mất
an toàn lao động ngày càng tăng, việc thực hiện các chế độ chính sách về thời
gian làm việc, nghỉ ngơi, bồi dưỡng độc hại, chế độ lao động nữ, bị hạn chế.
Các nước công nghiệp phát triển trên thế giới đã phải gánh chịu trong một
thời gian dài và ngày nay họ phải trả một chi phí rất đắt cho vấn đề này.
Ở Mỹ các thống kê quốc gia về thương tổn, bệnh tật và tử vong hàng
năm do MTLĐ bị ô nhiễm, nguy cơ tai nạn lao động cao, chỉ tính riêng cho
ngành xây dựng hàng năm phải chi phí từ 5 tỉ đến 10 tỉ đô la. Hơn thế nữa các
tổn phí về ảnh hưởng gián tiếp gây ra từ các yếu tố như sản xuất bị gián đoạn,
tinh thần làm việc giảm sút, năng suất thấp và các nhiễu loạn trong tiến độ thi
công có thể tốn kém hơn rất nhiều lần các chi phí trực tiếp, chi phí bệnh viện,
tiền trợ cấp thương tật, các thiết bị và vật liệu hư hỏng và phí tổn phải xây
dựng lại. Điều đáng quan tâm là tình trạng lao động mất an toàn, MTLĐ ngày
càng ô nhiễm, bệnh nghề nghiệp ngày càng tăng sẽ ảnh hưởng gián tiếp sâu
xa hơn về tâm lý và sự phá vỡ tình cảm đối với các gia đình nạn nhân là thực
sự nghiêm trọng nhưng không dễ dàng định lượng được. Khi xét tới các hậu
quả dài hạn của tàn tật, người ta phải kể đến một tổn thất tiềm năng về sự sinh
tai nạn, bệnh nghề nghiệp thấp so với các nước khác trên thế giới (Phụ lục 14.1).
Trong thời kỳ này, Nhà nước sản xuất theo kế hoạch và tồn tại hai thành phần