MỤC LỤC
Tran
g
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
3
14
GIẢNG VIÊN
1.1. Các khái niệm của luận văn
1.2. Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên
1.3. Những yếu tố tác động đến phát triển đội ngũ giảng viên
15
24
31
ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
38
GIẢNG VIÊN Ở HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ
TUYÊN TRUYỀN
2.1. Khái quát chung Học viện Báo chí và Tuyên truyền
2.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên và phát triển đội ngũ
38
41
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhà giáo có vai trò quan trọng trong sự nghiệp GD&ĐT. Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta luôn tôn vinh; đồng thời yêu cầu mọi nhà giáo phải: “Giữ
gìn phẩm chất, uy tín, danh dự; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử
công bằng với người học; không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm
chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ,…”[35, tr.57]. Mặt
khác, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo là một trong những nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu của các cấp, các ngành để phát triển đội ngũ nhà giáo
có phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ
cấu, chuẩn hoá về chất lượng.
Chỉ thị 40/2004/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng chỉ rõ: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được
chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt
chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay
nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có
hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực,
đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước”[1, tr.4].
Gần đây, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá XI xác định: Phát
triển ĐNGV và CBQL giáo dục là khâu đột phá để thực hiện chủ trương đổi
mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục và đào
tạo đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập
quốc tế. Muốn vậy, phải thường xuyên quan tâm “Xây dựng quy hoạch, kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục gắn với nhu
cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc
tế”[18, tr.136].
Học viện Báo chí và Tuyên truyền là đơn vị trực thuộc Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, là cơ sở giáo dục đại học có nhiệm vụ đào tạo, bồi
3
4
Đảng của Nhà nước. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài
“Phát triển đội ngũ giảng viên ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền” để
nghiên cứu là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong sự nghiệp giáo dục, đội ngũ giáo viên và CBQL có vai trò quan
trọng; là lực lượng chủ đạo, then chốt; là nhân tố quyết định đến chất lượng
và hiệu quả của quá trình giáo dục. Để có ĐNGV đủ mạnh, đáp ứng được nhu
cầu đổi mới giáo dục hiện nay, vấn đề bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên
môn cho ĐNGV là công việc hết sức quan trọng và cần thiết. Nghị quyết số
27 NQ-TW của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ VII khóa X về
xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước đã chỉ rõ: Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã
hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Ngày
nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công
nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo
nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển [16].
Trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế; đội ngũ giáo viên và CBQL
giáo dục còn có những hạn chế, bất cập. Tình hình trên đòi hỏi phải tăng
cường xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục một cách
toàn diện. Một số tác giả đã nghiên cứu những vấn đề chung về phát triển đội
ngũ giáo viên của hệ thống giáo dục quốc dân như: Các tác giả Bùi Minh
Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo trong tài liệu “Quản lý giáo dục”, đã
dành riêng một chương bàn về nội dung “Xây dựng đội ngũ giáo viên và
CBQL giáo dục” của hệ thống giáo dục Việt Nam. Những vấn đề chung nhất
về xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục đã được các tác
giả chỉ ra dưới góc độ nghiên cứu của khoa học quản lý giáo dục.
thống giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ĐNGV khoa học xã hội nhân văn
ở nhà trường quân đội hiện nay. Cùng hướng nghiên cứu này có đề tài khoa
6
học: “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên khoa học xã hội và
nhân văn ở Học viện Chính trị thời kỳ mới” do tác giả Mai Văn Hóa làm chủ
nhiệm đã quan tâm nghiên cứu đến việc đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo
giáo viên ở Học viện Chính trị. Tác giả Trần Đình Tuấn nghiên cứu, đề xuất
các giải pháp “Chuẩn hóa chất lượng đội ngũ nhà giáo quân đội”.
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Xoan: “Những giải pháp phát triển
ĐNGV trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng yêu
cầu trong giai đoạn hiện nay”. Tác giả đã đưa ra các giải pháp phát triển
ĐNGV trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội như: Xây dựng
kế hoạch tổng thể phát triển ĐNGV; cụ thể hoá quy trình tuyển dụng giảng
viên; có chính sách thu hút giảng viên giỏi; đào tạo bồi dưỡng chuyên
môn nghiệp vụ trong và ngoài nước; đào tạo sinh viên giỏi bồi dưỡng thành
đội ngũ kế cận.
Tác giả Nguyễn Sơn Thành nghiên cứu “Một số giải pháp quản lý
nhằm phát triển ĐNGV trường Đại học Hải Phòng đến năm 2010” (Luận văn
thạc sĩ QLGD, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2004). Ngoài việc luận giải
những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan, tác giả đã đưa ra những dự báo
và đề xuất biện pháp quản lý phát triển ĐNGV phù hợp với sự phát triển của
Nhà trường trong những năm trước mắt và đến năm 2010.
Đề tài luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hồng Sinh nghiên cứu “Các giải
pháp phát triển ĐNGV nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cấp trường Cao đẳng văn
hóa nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh”. Đề tài đã đề ra những giải pháp cụ
thể, thiết thực để phát triển ĐNGV nhằm chuẩn hóa đội ngũ, đáp ứng các yêu
cầu nâng cấp từ một trường Trung học chuyên nghiệp lên cao đẳng.
Đề tài luận văn thạc sĩ “Những biện pháp xây dựng và phát triển
nhân những bất cập của ĐNGV và đưa ra được các biện pháp phát triển
ĐNGV phù hợp với đặc điểm của trường Đại học Đại Nam.
Đề tài “Phát triển ĐNGV trường Cao đẳng Xây dựng công trình đô thị
- Bộ xây dựng: Thực trạng và giải pháp” của Mai Xuân Trường nêu ra những
8
vấn đề cần thiết phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó có những giải
pháp đột phá về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ chính sách đối với
ĐNGV. Từ đó, đề tài đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện các hoạt động đào
tạo và bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực ĐNGV trường Cao đẳng Xây dựng
công trình đô thị trong bối cảnh hội nhập.
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tiến Thành “Biện pháp phát triển ĐNGV
ở trường Cao đẳng Cơ khí - Luyện kim Thái Nguyên trong giai đoạn 2011 2020” đã đưa ra được các biện pháp quản lý phát triển ĐNGV ở Trường
cao đẳng Cơ khí - Luyện kim Thái Nguyên đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát
triển và nâng cấp Nhà trứờng trong giai đoạn 2011 - 2020 như lập quy hoạch,
kế hoạch phát triển ĐNGV; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ cho ĐNGV; sử dụng hợp lý ĐNGV hiện có trong nhà trường;
xây dựng và hoàn thiện các chế độ, chính sách ưu đãi đối với ĐNGV; tăng
cường các điều kiện bảo đảm cho giảng viên thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và
nghiên cứu khoa học.
Đề tài luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Thu Hiền: “Những giải pháp phát
triển ĐNGV trường Cao đẳng Bách khoa Hưng Yên” đã đề ra những giải
pháp cụ thể, thiết thực để phát triển ĐNGV của nhà trường nhằm chuẩn hóa
đội ngũ góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo của Trường Cao
đẳng Bách khoa Hưng Yên.
Từ sự tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu chúng tôi nhận thấy:
Các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò quan trọng của nhà
giáo đối với sự nghiệp phát triển GD&ĐT; phát triển ĐNGV là một trong
Phân tích, đánh giá thực trạng ĐNGV và phát triển ĐNGV ở Học viện
Báo chí và Tuyên truyền.
Đề xuất biện pháp phát triển ĐNGV ở Học viện Báo chí và Tuyên
truyền; khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
10
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Phát triển nguồn nhân lực ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển ĐNGV ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp phát triển
ĐNGV cơ hữu của Học viện Báo chí và Tuyên truyền theo các quan điểm,
chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển ĐNGV trong thực hiện chủ
trương đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT hiện nay.
Về đối tượng khảo sát: Bao gồm ĐNGV, CBQL Học viện Báo chí và
Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Phạm vi về thời gian: Số liệu sử dụng để nghiên cứu từ năm 2010 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Phát triển ĐNGV đủ về số lượng, có chất lượng cao và cơ cấu hợp lý
có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Đối
với Học viện Báo chí và Tuyên truyền, nếu các chủ thể quản lý thường xuyên
nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các lực lượng liên quan; đổi mới công
tác tuyển dụng, quy hoạch và sử dụng ĐNGV; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao chất lượng gắn với thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá, rút kinh
nghiệm và tạo môi trường thuận lợi thì ĐNGV ở Học viện sẽ có sự phát triển
về mọi mặt, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, góp phần
Mục đích, nhằm thu thập số liệu, thông tin để minh chứng cho những
nhận định, đánh giá về thực trạng ĐNGV và phát triển ĐNGV ở Học viện.
Nội dung điều tra, về những nội dung liên quan đến số lượng, chất
lượng, cơ cấu ĐNGV; việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế
hoạch phát triển ĐNGV, về công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng
ĐNGV ở Học viện;…
Đối tượng khảo sát, thực hiện điều tra bằng phiếu an-két đối với 150
CBQL, giảng viên về các nội dung có liên quan đến phát triển ĐNGV Học
viện Báo chí và Tuyên truyền.
12
Phương pháp trao đổi, phỏng vấn
Tổ chức trao đổi, phỏng vấn đối với CBQL các cấp, giảng viên, sinh
viên của Học viện.
Phương pháp dự báo
Trên cơ sở nghiên cứu những chủ trương, chính sách phát triển giáo
dục và thực tiễn nhiệm vụ GD&ĐT, nghiên cứu khoa học; yêu cầu phát triển
Học viện trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của quốc gia để dự báo
nhu cầu phát triển ĐNGV, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp phát triển ĐNGV
đáp ứng yêu cầu trước mắt và sư phát triển trong tương lai.
Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
Xin ý kiến của các nhà giáo, các nhà khoa học, những người có trình độ
cao, am hiểu sâu về lĩnh vực đội ngũ giảng viên và định hướng phát triển đội
ngũ giảng viên ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
- Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng toán học để thống kê, xử lý số liệu thu thập được và phân tích
kết quả nghiên cứu.
7. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn góp phần và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về phát triển ĐNGV ở
đích nhất định. “Đội ngũ” được cấu thành bởi các yếu tố sau: Là một tập hợp
người; có cùng một lý tưởng, cùng mục đích; làm việc theo kế hoạch; gắn bó
với nhau về quyền lợi vật chất và tinh thần.
Theo đó, Đội ngũ là tập hợp số đông người, hợp thành một lực lượng
để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể họ cùng nghề nghiệp hoặc khác
nghề nhưng đều có chung mục đích; làm việc theo kế hoạch và gắn bó với
nhau về quyền lợi vật chất và tinh thần.
Luật Giáo dục quy định: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy,
giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác;… Nhà giáo giảng dạy trong
các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình
độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên.
Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi là
giảng viên” [35, tr.56].
14
Theo quy định hiện hành, giảng viên các cơ sở giáo dục đại học có các
nhiệm vụ:
Giảng dạy theo mục tiêu, chương trình đào tạo và thực hiện đầy đủ, có
chất lượng chương trình đào tạo. Nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa học
và chuyển giao công nghệ, bảo đảm chất lượng đào tạo. Định kỳ học tập, bồi
dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và phương
pháp giảng dạy. Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của giảng viên. Tôn trọng
nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền,
lợi ích chính đáng của người học. Tham gia quản lý và giám sát cơ sở giáo
dục đại học, tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác. Được ký
hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học với các cơ sở giáo dục đại học,
cơ sở nghiên cứu khoa học theo quy định của pháp luật. Được bổ nhiệm chức
danh của giảng viên, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo
ưu tú và được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
thích ứng nhanh chóng, cập nhật nhanh các kỹ thuật công nghệ mới. Đội ngũ
sẽ góp phần không nhỏ vào việc tạo ra sự thay đổi kỹ năng, cách tiếp cận với
kỹ thuật, công nghệ mới tạo ra chất lượng giáo dục, đào tạo tốt hơn đáp ứng
nhu cầu của sự phát triển kinh tế ngày một cao hơn.
Từ cách tiếp cận trên cho thấy, ĐNGV ở Học viện Báo chí và Tuyên
truyền là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa
học ở Học viện, được tổ chức thành một lực lượng gắn kết với nhau về quyền
lợi vật chất và tinh thần, cùng trực tiếp giảng dạy và giáo dục sinh viên và học
viên, theo sự ràng buộc của những nguyên tắc có tính chất hành chính của của
Nhà nước, ngành Giáo dục và của Học viện.
ĐNGV Học viện Báo chí và Tuyên truyền là những người làm nhiệm
vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo ở trung ương và địa phương từ trình
độ sơ cấp trở lên về lý luận và nghiệp vụ; đào tạo giảng viên lý luận Mác-Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phóng viên, biên tập viên, cán bộ tuyên truyền,
đội ngũ những người làm công tác tư tưởng văn hóa của đất nước. Bên cạnh
16
việc giảng dạy, các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ... còn tham gia đào tạo trình
độ sau đại học tại Học viện và tham gia Hội đồng chấm luận án tiến sĩ, luận
văn cao học ở các cơ sở giáo dục đại học khác.
ĐNGV ở Học viện Báo chí & Tuyên truyền đã và đang không ngừng
đổi mới từng bước khắc phục những hạn chế về số lượng, chất lượng dạy và
học. Bên cạnh lớp giảng viên có trình độ, kinh nghiệm thì lớp giảng viên mới
đang từng bước trưởng thành, trong điều kiện hội nhập quốc tế đang thể hiện
sự năng động, giàu sức sáng tạo, nhanh chóng tiếp cận tri thức, hiện đại có
khả năng hội nhập quốc tế.
Theo Thông tư liên tịch số 06/2011/TTLT-BNV-BGDĐT ngày
06/6/2011 của Bộ Nội vụ và Bộ GD&ĐT quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, chế
độ làm việc, chính sách đối với giảng viên tại cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của
dụng có hiệu quả; có trình độ cao cấp lý luận chính trị - hành chính hoặc cao
cấp lý luận chính trị và chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo
quy định.
* Nhiệm vụ của ĐNGV ở Học viện:
Nhiệm vụ giảng dạy: Nghiên cứu để nắm vững mục tiêu, nội dung,
chương trình, phương pháp giảng dạy, vị trí, yêu cầu của môn học và các
chuyên đề được phân công giảng dạy, các quy chế kiểm tra, thi, đánh giá kết
quả học tập của học viên; xây dựng kế hoạch giảng dạy, đề cương môn học,
bài giảng và thiết kế các tài liệu, cơ sở dữ liệu phục vụ cho giảng dạy.
Giảng bài, hướng dẫn học viên kỹ năng tự học tập, nghiên cứu, thảo
luận khoa học, tham gia các hoạt động thực tế, viết tiểu luận, thực tập tốt
nghiệp, xây dựng đề cương và viết khóa luận tốt nghiệp.
Tìm hiểu trình độ, kiến thức và hiểu biết của học viên; thường xuyên
cập nhật thông tin để xử lý, bổ sung, hoàn chỉnh, cải tiến nội dung, kế hoạch,
phương pháp giảng dạy và cơ sở dữ liệu phục vụ cho giảng dạy.
Thực hiện quá trình đánh giá kết quả học tập của học viên và hướng
dẫn học viên đánh giá hoạt động giảng dạy. Dự giờ và tham gia đánh giá
18
hoạt động giảng dạy của các giảng viên khác theo quy định của cơ sở đào
tạo, bồi dưỡng.
Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ: Chủ trì hoặc tham gia
thực hiện các chương trình, đề án, đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công
nghệ được phân công và có kết quả cụ thể được Hội đồng khoa học đánh giá
đạt yêu cầu trở lên.
Nghiên cứu khoa học và công nghệ để xây dựng chương trình đào tạo,
bồi dưỡng; tham gia xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu giảng dạy, tài
liệu tham khảo phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng; cải tiến phương pháp
giảng dạy và kiểm tra, đánh giá môn học, chuyên đề thuộc nội dung, chương
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Dưới góc độ Triết học, phát triển là nguyên lý phổ biến của mọi sự vật,
hiện tượng trong xã hội và tự nhiên. Phép biện chứng duy vật cho rằng, phát
triển là khái niệm dùng để khái quát quá trình vận động của mọi sự vật, hiện
tượng từ thấp đến cao từ đơn giản đến phức tạp, từ hoàn thiện đến hoàn thiện
hơn. Đặc trưng nổi bật của phát triển là hình thức xoáy trôn ốc theo các chu
kỳ, việc hoàn thành một chu kỳ lại là cố hữu, là nền tảng cho một chu kỳ mới
trong đó có sự lặp lại một số đặc điểm của chu kỳ trước đó. Mọi sự vật, hiện
tượng, con người, xã hội có sự biến đổi tăng tiến về mặt số lượng, chất lượng
dưới sự tác động của bên ngoài đều được coi là sự phát triển.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “phát triển” có nghĩa là “Biến đổi hoặc làm
cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức
tạp” [48, tr.769].
Tiếp cận dưới góc độ xã hội học, tác giả David C.Korten - nhà hoạt
động xã hội người Mỹ cho rằng: “Phát triển là một tiến trình, qua đó các
thành viên của xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế
của mình để huy động và quản lý các nguồn lực, tạo ra những thành quả bền
vững nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của
họ”[19]. Theo quan niệm này thì phát triển là sự tăng trưởng hoàn thiện được
20
khả năng, tạo ra sự phù hợp của bản thân bằng cách sử dụng mọi nguồn lực có
thể có được; tiến trình đó không của riêng ai mà của các thành viên xã hội.
ĐNGV là nguồn lực cơ bản của các trường cao đẳng, đại học. Phát triển
ĐNGV chính là phát triển nguồn lực trong nhà trường, là tạo ra sự tăng
trưởng cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu.
Theo Menges J.R, mục tiêu của công tác phát triển ĐNGV là nhằm
tăng cường hơn nữa đến sự phát triển toàn diện của người giảng viên trong
hoạt động nghề nghiệp [15].
lẽ bản chất mỗi giảng viên không thể hòa tan vào tập thể đội ngũ nhưng lại
không thể phát triển cô lập, độc lập hoàn toàn với những giảng viên khác trong
tập thể ĐNGV. Những tập thể ĐNGV đảm bảo về sự ổn định tổ chức, phát triển
trên nguyên tắc kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, bình đẳng, tôn
trọng lẫn nhau, có ý thức trách nhiệm…và quan tâm đến sự phát triển của từng
cá nhân giảng viên thì tập thể ĐNGV đó phát triển bền vững.
Phát triển ĐNGV là phát triển năng lực từng cá nhân giảng viên. Năng
lực khác với tri thức, kỹ năng và kỹ xảo, không phải là khả năng có thể làm
được hoặc không làm được và cũng không phải là tiềm năng mà là cái tồn tại
thật sự ở mỗi các nhân. Tuy nhiên, giữa năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
có quan hệ mật thiết với nhau. Năng lực của một giảng viên không thể phát
triển cao ở người có trình độ học vấn thấp; kỹ năng tổ chức giải quyết các
tình huống trong một hoạt động giáo dục nào đó chưa thể có được ở người
giảng viên nếu chưa có thực tế giảng dạy; thậm chí một giảng viên có trình độ
học vấn cao hoặc có nhiều kinh nghiệm qua nhiều cương vị khác nhau nhưng
vẫn có thể thiếu năng lực cần thiết.
Năng lực cá nhân giảng viên chính là sự thống nhất hài hòa về tri thức,
trí tuệ đạt tới một trình độ cao; có kỹ năng, kỹ xảo trong phương thức hoạt
động; được tôi luyện, trải nghiệm qua thực tế cảm xúc, giá trị, ý chí và trách
nhiệm xã hội.... thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong môi trường GD&ĐT
và cả những điều kiện thực tế đang thay đổi. Phát triển năng lực sáng tạo cho
giảng viên nhằm góp phần phát triển khoa học giáo dục, nâng cao chất lượng
đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Đó
chính là phẩm chất lao động sáng tạo của nhà giáo.
22
Từ cách tiếp cận trên đây cho thấy, Phát triển ĐNGV ở Học viện Báo
chí và Tuyên truyền là tổng thể các cách thức, biện pháp tác động của chủ
Nam giai đoạn 2006 - 2020 của Chính phủ; đảm bảo đến năm 2015 có ít nhất
87% giảng viên có trình độ thạc sĩ, 29% có trình độ tiến sĩ. Đến năm 2020 có
ít nhất 95% giảng viên có trình độ thạc sĩ, và 40% có trình độ tiến sĩ.
Về nghiệp vụ sư phạm: Đảm bảo cân đối, hài hòa, mỗi bộ môn chuyên
môn đều phải có giảng viên có kỹ năng nghiệp vụ sư phạm vững vàng nhằm
tạo điều kiện, giúp đỡ, bồi dưỡng cho lớp giảng viên trẻ còn thiếu kinh
nghiệm và phương pháp sư phạm.
- Đảm bảo hợp lý về cơ cấu
Cơ cấu trình độ: Xây dựng cơ cấu trình độ phải đảm bảo hợp lý, mỗi
chuyên ngành đào tạo cần phải có cơ cấu hợp lý giữa các trình độ, giữa các
chức danh để có quy hoạch chuẩn về cơ cấu trình độ, độ tuổi theo quy định
của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục Đại học và Chiến lược phát triển Giáo dục
của nhà nước, tạo động lực cho sự phát triển, phân bố tương đối đồng đều ở
các ngành, chuyên ngành đào tạo, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ GD&ĐT của
Học viện.
Cơ cấu ngành nghề: Xây dựng kế hoạch phát triển ĐNGV phải chú ý
đến đảm bảo cân đối cho cơ cấu ngành nghề đào tạo, đối với từng lĩnh vực cụ
thể, tránh việc chỉ tập trung vào xây dựng đội ngũ cho một số ngành nghề mà
không tính đến sự phát triển bền vững lâu dài.
Cơ cấu độ tuổi, giới tính: Phát triển đội ngũ còn cần phải chú ý đến độ
tuổi và giới tính. Cần phát triển ĐNGV trẻ năng động, nhiệt huyết tận tâm
giảng dạy. Xác định cơ cấu về độ tuổi một cách hợp lý có tỷ lệ độ tuổi một
cách đồng đều tránh hiện tượng “già hoá” đội ngũ, thiếu lực lượng kế cận.
Duy trì và phát triển cơ cấu giới tính hợp lý.
1.2. Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên
1.2.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên
Phát triển ĐNGV là một trong những nội dung quan trọng của việc phát
triển nhân lực trong GD&ĐT. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển
24
Thứ tư, phải xây dựng được các tiêu chí về trình độ, phẩm chất và năng
lực đối với giảng viên trong từng giai đoạn.
Thứ năm, phát huy quyền làm chủ tập thể, ý thức tự giác, trách nhiệm
của ĐNGV tham gia vào phát triển bản thân về mọi mặt.
Thứ sáu, phải xây dựng được ĐNGV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ
cấu, đảm bảo chất lượng, xác định nội dung và số lượng giảng viên đào tạo,
bồi dưỡng từng năm học.
Thứ bảy, các điều kiện để triển khai công tác bồi dưỡng từng năm học.
Thứ tám, các điều kiện để triển khai công tác bồi dưỡng giảng viên.
Việc xây dựng quy hoạch phát triển ĐNGV đáp ứng nhu cầu đào tạo
phải xuất phát từ dự báo về chất lượng, số lượng, cơ cấu trình độ, ngành nghề,
nghiệp vụ sư phạm của ĐNGV để xác định mục tiêu, nhu cầu và lập kế hoạch
phát triển ĐNGV về số lượng, về cơ cấu và chất lượng.
1.2.2. Tuyển chọn, bố trí, sử dụng đội ngũ giảng viên
Tuyển chọn là quá trình sử dụng các phương pháp nhằm thu hút lựa chọn,
quyết định xem trong số những người tham gia dự tuyển, ai là người đủ tiêu
chuẩn. Học viện cần xây dựng các tiêu chuẩn cụ thể, rõ ràng và tổ chức hình
thức tuyển chọn phù hợp với từng vị trí và chuyên môn công tác. Xây dựng tiêu
chuẩn phải vừa có những tiêu chuẩn chung vừa có tiêu chuẩn cụ thể, cá biệt phù
hợp với yêu cầu để có được ĐNGV về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ
về cơ cấu, đáp ứng được mục tiêu kế hoạch đào tạo của Học viện.
Việc tuyển chọn giảng viên trong Học viện phải nhằm hướng đến mục
tiêu sử dụng đúng người, đúng việc, đúng chuyên môn, đảm bảo điều kiện
môi trường chuyên môn để họ dạy tốt, khai thác được tiềm năng, thế mạnh
của từng giảng viên, hỗ trợ bổ sung giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, phát huy thế
mạnh, hạn chế khuyết điểm.
Việc tuyển chọn giảng viên thường tiến hành theo các bước:
Bước 1: Chuẩn bị tổ chức tuyển chọn;