MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
3
12
1.1. Những vấn đề chung về hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp
1.2. Quan niệm, nội dung và yếu tố tác động đến hiệu quả
12
sử dụng đất nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng
19
Chương 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
29
2.1. Thành tựu, hạn chế về hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp ở thành phố Hải Phòng
2.2. Nguyên nhân và vấn đề đặt ra từ thực trạng hiệu quả
sử dụng đất ở thành phố Hải Phòng
29
sử dụng đất nông nghiệp hiện nay là làm cho nguồn lực có hạn này mang lại
hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội cao nhất, đảm bảo lợi ích trước mắt và lâu
dài của con người. Ở nước ta, nhận thức rõ yêu cầu sử dụng hiệu quả, bền
vững đất nông nghiệp hiện nay, Đảng ta xác định, phải: Đổi mới công tác lập
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai; thúc đẩy
sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả; kết hợp bảo vệ diện tích, độ phì
nhiêu của đất canh tác nông nghiệp.
Trong những năm qua, Hải Phòng là một trong những địa phương luôn
đi đầu trong cả nước về phát triển kinh tế - xã hội, đời sống người dân không
ngừng được nâng cao, đảm bảo tốt an ninh lương thực trên địa bàn thành phố.
Thực tế cho thấy, mặc dù thành phố Hải Phòng đã có nhiều biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng đất như: giao quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định
cho người sử dụng đất; hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi; chuyển đổi cơ cấu cây
trồng; áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp, nhưng nhìn chung
cho đến nay, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của địa phương còn thấp.
Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa của thành phố gây
ra những áp lực không nhỏ đối với đất nông nghiệp đặc biệt là đất trồng lúa.
Diện tích đất lúa của thành phố ngày càng thu hẹp và có xu hướng giảm
nhanh trong những năm gần đây do chuyển sang đất phi nông nghiệp. Dự báo
đến năm 2020 dân số thành phố Hải Phòng ước 2,1 triệu người, trong đó 80 85% dân số đô thị [42]. Trong bối cảnh dân số tăng, diện tích đất nông nghiệp
giảm, công tác quản lý và sử dụng đất trồng lúa không thực hiện tốt sẽ gây
mất cân đối cung - cầu, kéo theo một số hệ lụy về môi trường, xã hội, tác
3
động trực tiếp đến an ninh lương thực trên địa bàn thành phố nói riêng và
quốc gia nói chung. Do đó việc ổn định quỹ đất sản xuất nông nghiệp, đặc
biệt là đất trồng lúa trên địa bàn thành phố có tính chất quan trọng hàng đầu.
Trước yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới, đòi hỏi thành phố phải có
chính sách, biện pháp sử dụng hiệu quả hơn quỹ đất nông nghiệp hiện có; bảo
phì nhiêu của đất; thiết thực góp phần nâng cao HQSD đất nông nghiệp [6].
Trần Thị Thu Lương (2008), Quản lý và sử dụng đất đô thị ở thành phố
Hồ Chí Minh, thực trạng và giải pháp, Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành
phố Hồ Chí Minh. Trong cuốn sách này, tác giả khảo sát thực trạng sử dụng
và quản lý đất đô thị tại các quận mới nói riêng, thành phố Hồ Chí Minh nói
chung trong giai đoạn 2000 - 2005, đánh giá các tồn tại và phân tích các thách
thức từ các tồn tại đó đối với yêu cầu phát triển bền vững. Đồng thời, phân
tích, chỉ ra các nguyên nhân, giới thiệu các kinh nghiệm và bài học quản lý
đất đô thị ở một số quốc gia Đông Nam Á. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý đất đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh [17].
Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản, Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Tài
nguyên và Môi trường (2014), Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Nâng cao hiệu quả
quản lý và sử dụng đất đai trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa”. Kỷ yếu tập hợp tham luận của các nhà khoa học, làm rõ nhiều vấn đề
lý luận và thực tiễn về các vấn đề sở hữu, quản lý, sử dụng đất đai; góp phần
vào quá trình thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai 2013; tạo tiền
đề phát triển và hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính sách của Nhà nước ta về
đất đai, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực đặc biệt quý
giá này của quốc gia, đẩy nhanh quá trình phát triển bền vững đất nước [2].
* Nhóm công trình nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Vũ Thị Thương (2015), Nghiên cứu sử dụng bền vững đất nông nghiệp
huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, Luận án tiến sĩ, chuyên ngành quản lý đất
đai, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Luận án đã đánh giá thực trạng sử dụng
và tiềm năng đất nông nghiệp của huyện Lục Ngạn. Đề xuất sử dụng bền
5
vững đất nông nghiệp huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng đất và bảo vệ môi trường sinh thái. Kết quả nghiên cứu làm rõ
đặc tính và tính chất đất đai đồng thời đề xuất được hướng sử dụng bền vững
qua đó thấy được một bức tranh tổng thể về hiện trạng phân mảnh cũng như
xu hướng tích tụ tập trung đất đai trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là
trong đất trồng lúa. Xác định và đánh giá các yếu tố tác động đến quá trình
tích tụ tập trung đất nông nghiệp và ảnh hưởng của quá trình này đến phân
phối thu nhập ở khu vực nông thôn Việt Nam. Đánh giá tác động của quá
trình tích tụ tập trung đất đai tới hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất, năng
suất lao động, khả năng cơ giới hóa cũng như bất bình đẳng nông thôn. Các
kết quả nghiên cứu có thể đóng góp vào việc xây dựng chính sách nhằm đẩy
nhanh hoạt động tích tụ và tập trung ruộng đất, từng bước tạo dựng một nền
nông nghiệp có quy mô hiện đại, tập trung, phát triển một cách bền vững và
nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai [9].
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2013), Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau
dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; luận văn thạc sĩ kinh tế
chính trị, Học viện Chính trị. Luận văn đã luận giải một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong và sau quá trình “dồn
điền đổi thửa” ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất một
số phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện trong những năm tiếp theo [14].
Nguyễn Minh Tuấn (2016), Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức được nhà nước giao đất, cho thuê
đất trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ
chuyên ngành quản lý đất đai, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội.
Đề tài đã đánh giá thực trạng công tác quản lý và tình hình sử dụng đất của
các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn quận Hoàng
Mai, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế trong quản lý
công tác giao đất, cho thuê đất. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng
7
cao hiệu quả sử dụng đất và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện, khắc
Tạ Tuyết Thái, Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Đình Bồng (2014),
“Thực trạng chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp sau chuyển đổi ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên”, Tạp
chí Khoa học và Phát triển, số 8 năm 2014. Kết quả nghiên cứu chỉ ra thực
trạng của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất công nghiệp của huyện
Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đồng thời cũng chỉ ra được hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp còn lại sau chuyển đổi và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng đất [5].
Tiến sĩ Phạm Phương Nam (2015), Khoa Quản lý đất đai, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam, “Nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất nông
nghiệp”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường điện tử, 26/02/2015. Theo tác
giả, vấn đề quản lý, sử dụng đất nông nghiệp được Đảng, Nhà nước và người
dân đặc biệt quan tâm, vì hàng chục triệu người dân đang tham gia sản xuất
nông nghiệp và đời sống của họ gắn với nông nghiệp, nông thôn. Mặc dù vậy,
quản lý, sử dụng đất nông nghiệp hiện nay vẫn còn những tồn tại nhất định
cần xem xét, đánh giá, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục
nhằm quản lý, sử dụng hiệu quả hơn [18].
Như vậy, các công trình nghiên cứu đã được công bố trên, tiếp cận
nghiên cứu từ nhiều chuyên ngành kinh tế khác nhau, với mục đích, nhiệm vụ
và không gian nghiên cứu khác nhau (cả nước, vùng miền, địa phương hay lĩnh
vực khác nhau), song chưa có công trình nào nghiên cứu về hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng, dưới góc độ luận văn thạc sĩ kinh tế
chính trị. Vì vậy, nghiên cứu “Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở thành
phố Hải Phòng” là nội dung mới, không trùng lặp với các công trình khoa học
đã công bố gần đây mà tác giả tiếp cận tìm hiểu.
9
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Thực tiễn HQSD đất nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng những năm
gần đây, thông qua các báo cáo của UBND, các cơ quan chức năng của thành
phố và nghiên cứu thực tiễn của tác giả. Đồng thời, kế thừa kết quả các công
trình nghiên cứu khoa học có nội dung liên quan đến nội dung của đề tài trên
phạm vi cả nước và tình hình cụ thể của thành phố Hải Phòng.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử để nghiên cứu như: Phương pháp biện chứng, phương pháp trừu
tượng hóa khoa học; phương pháp logic kết hợp với lịch sử; phương pháp
diễn dịch, quy nạp. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp cụ thể khác
như khảo sát, điều tra, phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh…
6. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn góp phần luận giải, làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về HQSD đất nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng. Kết quả nghiên cứu của đề
tài có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy môn Kinh tế
chính trị Mác - Lênin. Đồng thời, là căn cứ khoa học để thành phố Hải Phòng
đề ra chủ trương, chính sách phù hợp nhằm nâng cao HQSD đất nông nghiệp,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương (6 tiết).
11
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
1.1. Những vấn đề chung về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Điều 10, Luật đất đại năm 2013, phân loại đất nông nghiệp thành các
nhóm: a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng
năm khác; b) Đất trồng cây lâu năm; c) Đất rừng sản xuất; d) Đất rừng phòng
hộ; đ) Đất rừng đặc dụng; e) Đất nuôi trồng thủy sản; g) Đất làm muối; h) Đất
nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác
phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp
trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật
khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản
cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con
giống và đất trồng hoa, cây cảnh. [22]
Như vậy, hiện nay đất nông nghiệp được hiểu bao gồm các nhóm sau:
Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản
xuất nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm.
Đất trồng cây hàng năm: Là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian
sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một (01) năm, kể cả
đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên theo chu kỳ, đất cỏ tự
nhiên có cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi; bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ
dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác.
Đất trồng cây lâu năm: Là đất trồng các loại cây có thời gian sinh
trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch, kể cả loại cây có thời
gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm
như thanh long, chuối, dứa, nho,... Đất trồng cây lâu năm bao gồm đất trồng
cây ăn quả lâu năm, đất trồng cây lấy quả chứa dầu, đất trồng cây điều, đất
trồng cây hồ tiêu, đất trồng cây cao su, đất trồng cây cà phê, đất trồng cây chè
và đất trồng cây lâu năm khác.
13
Đất lâm nghiệp: Là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng
đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng,
theo mục đích khác nhau, người ta chia độ phì nhiêu thành các loại khác
nhau. Cụ thể là: Độ phì tự nhiên, được tạo ra do quá trình phong hóa tự nhiên.
Độ phì nhân tạo, do kết quả của sự tác động có ý thức của con người, bằng
cách áp dụng hệ thống canh tác hợp lý, có căn cứ khoa học để thỏa mãn mục
đích của con người (làm đất, chăm sóc, luân canh, xen canh cây trồng và tưới
tiêu). Độ phì tiềm tàng, là hàm lượng các chất dinh dưỡng có trong đất ở một
thời điểm nhất định, là kết quả của sự tác động tổng hợp các nhân tố tự nhiên
và nhân tạo. Độ phì kinh tế, là độ phì nhiêu mà con người đã khai thác sử
dụng cho mục đích kinh tế thông qua sự hấp thụ và chuyển hóa của cây trồng
sau một quá trình sản xuất.
Từ đặc điểm này, trong nông nghiệp cần phải quản lý đất đai một cách
chặt chẽ, theo quy định của Luật đất đai; phân loại đất đai một cách chính
xác; bố trí sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý; thực hiện chế độ canh tác
thích hợp để tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên đất.
Diện tích đất nông nghiệp có hạn. Diện tích đất là có hạn do giới hạn
của từng nông trại, từng hộ nông dân, từng vùng và phạm vi lãnh thổ của
từng quốc gia. Sự giới hạn về diện tích đất nông nghiệp còn thể hiện ở khả
năng có hạn của hoạt động khai hoang, khả năng tăng vụ trong từng điều
kiện cụ thể. Quỹ đất nông nghiệp là có hạn và ngày càng trở nên khan hiếm
do nhu cầu ngày càng cao về đất đai của quá trình đô thị hóa, công nghiệp
hóa cũng như đáp ứng nhu cầu đất ở khi dân số ngày một gia tăng. Đặc điểm
này ảnh hưởng đến khả năng duy trì và mở rộng quy mô sản xuất nông
nghiệp.
Diện tích đất đai là có hạn không có nghĩa là mức cung về đất đai trên
thị trường là cố định. Tuy quỹ đất đai là có hạn nhưng đường cung về đất đai
trên thị trường vẫn là một đường dốc lên thể hiện mối quan hệ cùng chiều
giữa giá đất và lượng cung về đất. Đặc điểm này cho thấy cần quy hoạch, và
15
xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp. Nếu không có đất đai
thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành
sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày
nay. Vì vậy, việc quản lý, sử dụng đất đai nói chung cũng như đất nông
nghiệp nói riêng một cách đúng hướng, có hiệu quả, sẽ góp phần làm tăng thu
nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội. Hướng sử dụng đất quy định hướng
sử dụng các tư liệu sản xuất khác và hiệu quả sản xuất. Chỉ có thông qua đất,
các tư liệu sản xuất mới tác động đến hầu hết các cây trồng, vật nuôi. Muốn
làm tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ đất đai để đảm bảo cả lợi ích
trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài, cần sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả,
cần coi việc bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vô cùng
quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia.
Sử dụng đất nông nghiệp là hoạt động có mục đích của các chủ thể tác
động vào đất nông nghiệp nhằm đạt được những lợi ích kinh tế, xã hội, môi
trường, trong một thời gian nhất định. Sử dụng đất nông nghiệp là phạm trù
lịch sử, trong hoạt động kinh tế của nhân loại. Trong mỗi phương thức sản
xuất, việc sử dụng đất nông nghiệp mang những nội dung, đặc điểm khác
nhau. Tuy nhiên, việc sử dụng đất nông nghiệp luôn tuân theo những nguyên
tắc nhất định, đó là:
Sử dụng đầy đủ và hợp lý: Đất nông nghiệp được sử dụng hết và mọi
diện tích đất nông nghiệp đều được bố trí sử dụng phù hợp với đặc điểm kinh
tế - kỹ thuật của từng loại đất, để vừa nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi
vừa duy trì được độ phì nhiêu của đất.
Bảo đảm hiệu quả kinh tế: Đây là kết quả của nguyên tắc thứ nhất
trong sử dụng đất nông nghiệp. Nguyên tắc chung là đầu tư vào đất nông
nghiệp đến khi mức sản phẩm thu thêm trên một đơn vị diện tích bằng mức
chi phí tăng thêm trên một đơn vị diện tích đó.
Quản lý và sử dụng một cách lâu dài: Sự lâu dài, bền vững trong sử
Theo quan niệm trên, những yếu tố cấu thành HQSD đất nông nghiệp
bao gồm kết quả đạt được trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp và những
chi phí mà người sử dụng đất phải bỏ ra trong sản xuất nông nghiệp. Kết quả đạt
18
được trong sử dụng đất nông nghiệp được tính trên cả ba phương diện: kinh tế, xã
hội và môi trường. Chi phí bao gồm lao động sống và lao động quá khứ, trong suốt
quá trình sản xuất nông nghiệp.
HQSD đất nông nghiệp được xem xét cả về định tính và định lượng.
Định tính phản ánh sự nỗ lực của các lực lượng, trong từng khâu, từng bước của
sản xuất nông nghiệp; thể hiện qua trình độ tổ chức, quản lý sản xuất; sự gắn kết
quá trình phát triển nông nghiệp với các ngành nghề khác của nền kinh tế và giải
quyết các vấn đề xã hội, môi trường trong phát triển nông nghiệp. Định lượng là sự
so sánh kết quả thu được với chi phí bỏ ra, thường được tính bằng tiền; trong đó, kết
quả thu được càng cao, chi phí bỏ ra càng thấp thì hiệu quả đạt được càng cao.
HQSD đất nông nghiệp là một phạm trù lịch sử, cụ thể; do đó cần xem
xét trong thời gian và không gian cụ thể, gắn với đặc điểm của đất nông nghiệp và
các chính sách phát triển nông nghiệp.
1.2. Quan niệm, nội dung và yếu tố tác động đến hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng
1.2.1. Quan niệm về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở thành phố
Hải Phòng
Từ những nội dung lý luận cơ bản trên, có thể quan niệm: Hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp ở Hải Phòng là một phạm trù kinh tế phản ánh tương
quan giữa kết quả đạt được về kinh tế, xã hội và môi trường với chi phí mà
các chủ thể sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố phải bỏ ra, trên
góp phần tạo điều kiện, tiền đề cho thành phố thực hiện thắng lợi các mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững.
HQSD đất nông nghiệp ở Hải Phòng được tạo nên bởi nhiều cách thức,
biện pháp, như: thông qua quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp; quy hoạch
phát triển vùng chuyên canh nông nghiệp; tăng cường ứng dụng khoa học, kỹ
thuật vào sản xuất nông nghiệp; nâng cao trình độ cho người sử dụng đất; bảo
đảm thị trường tiêu thụ sản phẩm; gắn kết sản xuất nông nghiệp với các ngành
nghề khác trên địa bàn...
20
1.2.2. Tiêu chí đánh giá hiệu qủa sử dụng đất nông nghiệp ở thành
phố Hải Phòng
Từ quan niệm về HQSD đất nông nghiệp ở Hải Phòng cho thấy, khi
xem xét HQSD đất nông nghiệp của thành phố, cần tập trung vào một số tiêu
chí sau:
Một là, hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp được hiểu là mối tương
quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động
sản xuất nông nghiệp, trên một diện tích đất nông nghiệp nhất định. Kết quả đạt
được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá
trị của nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt
đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó. Bản
chất của hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp ở Hải Phòng là “với một
diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất,
với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng về vật chất của xã hội” [24]. Cụ thể, hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất
nông nghiệp ở Hải Phòng được thể hiện trong các tiêu chí: 1) Số lượng sản phẩm
nông nghiệp thu được trên một diện tích đất, trong một thời gian nhất định; có thể
theo chiều hướng khác nhau. Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc
tính, tính chất của đất. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của
các hoạt động sản xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây
trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường.
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm:
hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường.
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh
giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp. Đó là việc
sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo
cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô
nhiễm môi trường. Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác
động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm
giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục
tiêu đề ra. Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng
tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử
22
dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.
Tóm lại, khi đánh giá HQSD đất nông nghiệp ở Hải Phòng cần quan tâm đầy
đủ các nội dung trên. Ba nội dung có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ cho nhau;
trong đó hiệu quả kinh tế là cơ bản, là trung tâm điều hòa hiệu quả xã hội và môi
trường. Hiệu quả xã hội và môi trường giữ vai trò quan trọng, bảo đảm cho hiệu quả
kinh tế lâu dài, bền vững.
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp ở thành phố Hải Phòng
* Nhóm nhân tố tự nhiên
Vị trí địa lý: Vị trí địa lý quy định các yếu tố tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên (địa hình, khí hậu, đất đai, động, thực vật...) Đồng thời, ảnh hưởng đến khả
quả sản xuất nông nghiệp; quy định tính mùa trong sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm nông nghiệp. Nằm trong vùng khí hậu chung của đồng bằng miền Bắc,
có đặc điểm riêng của vùng ven biển, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông
lạnh, ít mưa, Hải Phòng cần chú ý đúng mức đến điều kiện khí hậu để tổ chức
sản xuất nông nghiệp phù hợp, nâng cao HQSD đất.
Tài nguyên đất: các nhóm đất, cơ cấu sử dụng đất, độ phì của đất...có ảnh
hưởng lớn đến quy mô, hướng sản xuất, cơ cấu và sự phân bố cây trồng, vật nuôi,
mức độ thâm canh và năng suất cây trồng. Hiện nay, đất nông nghiệp của Hải
Phòng được phân chia thành nhiều loại, bao gồm: đất cát pha; đất sú vẹt đước; đất
mặn nhiều; đất mặn trung bình và ít; đất phèn; đất phèn mặn; đất phù sa được bồi
hàng năm; đất phù sa không được bồi hàng năm; đất phù sa glây; đất phù sa có tầng
loang lổ đỏ; đất phù sa có tầng loang lổ vàng; đất phù sa úng nước; ngoài ra còn
nhiều loại đất khác. Mỗi loại cây trồng thường thích nghi với một loại đất nhất định,
do đó, trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, thành phố cần tính toán cơ
cấu cây trồng phù hợp với từng loại đất, tạo nên HQSD đất cao.
Tài nguyên nước: Hải Phòng có hệ thống sông ngòi, kênh đào dày
đặc, trong đó có những sông lớn như: Sông Đá Bạc, sông Bạch Đằng, sông
Cấm, sông Lạch Tray, sông Văn Úc, sông Thái Bình... với trữ lượng nước mặt
khoảng 34 triệu m3. Về mùa mưa, do dòng chảy lớn nên hầu hết nước trong
các sông đều thích hợp để lấy nước vào hệ thống thủy lợi, phục vụ sản xuất
nông nghiệp. Về mùa khô, nhiều sông bị nhiễm mặn, chỉ một phần thuộc
24
thượng nguồn các sống mới có khả năng cung cấp nước ngọt. Do đó, để nâng
cao HQSD đất nông nghiệp, thành phố cần lưu ý đến điều kiện này, chủ động
nước tưới tiêu quanh năm cho các loại cây trồng [42].
* Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội
Kỹ thuật, công nghệ. Bản chất của kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào
nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất đất đai và HQSD đất nông
nghiệp. Đổi mới công nghệ trong nông nghiệp có thể hướng vào việc tiết
kiệm các nguồn lực, phát triển các công nghệ đòi hỏi mức đầu tư thấp, ít
sử dụng chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp, phát huy kiến thức cổ
truyền của nông dân và thực hiện mục tiêu đa dạng sinh học. Hiệu quả sử
dụng các nguồn lực trong nông nghiệp nói chung và HQSD đất nông
nghiệp nói riêng phụ thuộc nhiều vào công nghệ áp dụng trong sản xuất.
Có khi cùng chủng loại và số lượng đầu vào nhưng đổi mới cách thức, kỹ
năng sử dụng cũng có thể dẫn đến sự thay đổi lớn trong kết quả cũng như
hiệu quả kinh tế.
Thực tế ở Hải Phòng cho thấy, khi có tác động tích cực của kỹ thuật,
giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả sản xuất nông nghiệp, thì yêu cầu
đối với tổ chức sử dụng đất cũng được đặt ra cao hơn. Ở nhiều địa phương
của thành phố, với việc ứng dụng kỹ thuật, công nghệ tiến bộ, đã thúc đẩy
nông nghiệp tăng trưởng nhanh. Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc
biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và
nâng cao HQSD đất nông nghiệp.
Kiến thức và kỹ năng của nông dân góp phần quan trọng trong việc
nâng cao HQSD đất nông nghiệp. Khả năng tiếp thu kỹ thuật và năng suất cây
trồng, vật nuôi có liên quan chặt chẽ đến kiến thức và kỹ năng canh tác của
nông dân. Trình độ văn hóa và kinh nghiệm có thể được coi là những biến độc
lập quy định đến năng suất và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh
đó, diện tích đất, số lượng lao động, lượng vốn mà hộ nông dân có để phục vụ
26