DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Ban chấp hành
BCH
Ban giám hiệu
BGH
Cán bộ giáo viên
CBGV
Cán bộ quản lý
CBQL
Cha mẹ học sinh
CMHS
Cơ sở vật chất
CSVC
Đoàn viên thanh niên
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
TNCSHCM
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1
1.1
1.2
1.3
Chương 2
2.1
2.2
2.3
Chương 3
3.1
3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIÁ
TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
Các khái niệm cơ bản
Nội dung quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh
trung học phổ thông
Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục giá trị sống và
42
45
50
62
62
65
85
92
95
99
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục quyết định tương lai của mỗi con người và của cả đất nước,
dân tộc, do vậy, giáo dục luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội và là
mối quan tâm hàng đầu của các cấp lãnh đạo, của mỗi gia đình và của cả cộng
đồng xã hội.
Nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của giáo dục, trong quá trình
lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến phát triển
giáo dục. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII) khẳng định: “Giáo
dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội”[17,
tr. 2] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh:
“Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền
giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ
hóa và hội nhập quốc tế…” [18, tr. 2] Mục tiêu của giáo dục Việt Nam là đào
tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ
và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
trường THPT ở thị xã Phúc Yên nói riêng, một bộ phận không nhỏ thanh,
thiếu niên học sinh hiện nay chưa được định hướng đúng đắn về các giá trị
sống của bản thân, không xác định được vai trò trách nhiệm của mình đến gia
đình, xã hội, và cuộc sống bản thân. Nhiều thanh niên, học sinh có những biểu
hiện hành vi, đạo đức xa rời lối sống, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc.
Tình trạng bạo lực, lạm dụng, sống buông thả, ứng xử thiếu văn hóa, thiếu tôn
trọng người khác cũng như thiếu ý thức bảo vệ môi sinh ngày càng đáng báo
động …nguyên nhân chính cũng từ sự thiếu hụt các giá trị sống của học sinh.
Mặt khác, ở nước ta hiện nay nhận thức về giá trị sống và kỹ năng
sống, cũng như việc thể chế hóa giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống trong
giáo dục phổ thông chưa thật cụ thể. Hoạt động giáo dục trong nhà trường còn
nặng về dạy “chữ”, chủ yếu dạy kiến thức, thi cử, nhẹ về “dạy người”, chưa
thực sự đầu tư cho việc giáo dục thái độ, hành vi, hình thành nhân cách, định
5
hướng các giá trị, kĩ năng cần thiết cho học sinh. Các nhà trường luôn bị giới
hạn bởi sự quá tải của chương trình chính khóa, sức ép của các con số đánh
giá về trí dục, …Trang bị cho học sinh “ Học để làm” là chính, chưa chuẩn bị
để các em “ Học làm người”, nên các chương trình giáo dục giá trị sống và kĩ
năng sống chưa được thực hiện triệt để.
Học sinh trường THPT trên địa bàn Phúc Yên cũng không ngoài thực
trạng trên. Các em đang rất cần được trang bị những giá trị sống căn bản, một
nền tảng đạo đức cốt lõi, có lối sống lành mạnh, văn hóa, tiến bộ và nhân bản.
Trở thành công dân có nhân cách hoàn thiện, vững vàng bước vào cuộc sống.
Xuất phát từ những lý do trên đây, tác giả chọn đề tài “Quản lý giáo
dục giá trị sống cho học sinh trung học phổ thông thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh
Phúc” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
* Những nghiên cứu ở nước ngoài
Ủy ban Giáo dục quốc tế thế kỉ XXI (Viết tắt là ICDE) xuất bản cuốn
sách “Tôi tin tôi có thể làm được” (I Believe I Could Do It) giới thiệu cho các
trường học trong thế kỉ XXI. ICDE có trọng trách đưa ra những xu hướng lớn
ảnh hưởng đến sự phát triển của giáo dục trên toàn cầu. Nội dung chính đề
cập đến “Học cách làm người, Học cách ứng xử”
Những nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy, giáo dục nhân cách con
người với những giá trị sống căn bản và nền tảng đạo đức cốt lõi được xem là
vấn đề quan trọng, luôn được các nhà giáo dục trên thế giới đặc biệt quan tâm.
* Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trên nền tảng của văn hoá bản địa, Việt Nam còn tiếp thu được những
tinh hoa văn hoá nhân loại. Chính đặc điểm hình thành và phát triển của xã
hội Việt Nam đã làm cho các giá trị đạo đức được bồi đắp thường xuyên trong
suốt chiều dài lịch sử. Cùng với thời gian, những giá trị này trở nên ổn định và
được lưu truyền qua ca dao, tục ngữ và trở thành động lực, sức mạnh, bản sắc
của nhân cách con người Việt Nam. Lòng thương người của dân tộc Việt Nam
7
xuất phát từ tình cảm trân trọng, yêu quý con người, coi "người là hoa của
đất"; "thương người như thể thương thân" và vì lẽ đó, trong quan hệ đối xử
hàng ngày, người Việt Nam coi trọng tình nghĩa "vì tình vì nghĩa ai vì đĩa xôi
đầy". Tình cảm vợ chồng "đầu gối tay ấp"; tình anh em "như thể tay chân";
tình cảm đối với bố mẹ: "Công cha như núi Thái sơn. Nghĩa mẹ như nước
trong nguồn chảy ra"; tình cảm, trách nhiệm đối với làng xóm: "Sớm khuya tối
lửa tắt đèn có nhau”; tình yêu đất nước, tinh thần đoàn kết: "Nhiễu điều phủ
lấy giá gương. Người trong một nước thì thương nhau cùng"... [ 47, tr.15]
Tác giả Hà Nhật Thăng, trong cuốn sách: “Giáo dục hệ thống giá trị
đạo đức nhân văn” (1998) đã nghiên cứu, đề xuất trang bị cho học sinh, sinh
viên hệ thống giá trị cốt lõi, cơ sở cơ bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ
trẻ có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi,
huấn giáo viên chủ nhiệm với công tác tư vấn tâm lí - giáo dục cho học sinh
trung học”. Nhằm trang bị cho giáo viên quy trình, công cụ tư vấn và các loại
hình tư vấn học sinh một số vấn đề tâm lí mà học sinh có thể gặp phải, cách
giúp đỡ các em phòng ngừa, đối mặt và giải quyết trong các quan hệ xã hội.
Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành tài liệu tập huấn
“Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống
và giao tiếp ứng xử trong quản lí” do các tác giả Lục Thị Nga và Nguyễn
Thanh Bình biên soạn để triển khai trong ngành giáo dục.
Từ năm 2010 đến nay, nhiều tác giả đã chọn các đề tài có liên quan đến
quản lí giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh làm luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành quản lý giáo dục.
Tác giả Nguyễn Hữu Đức, với đề tài luận văn quản lý giáo dục:“Quản
lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông Trần Hưng
Đạo - Nam Định trong giai đoạn hiện nay” (2010), đã luận giải những vấn đề
lý luận về kỹ năng sống và đề xuất những giải pháp quản lý giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh trung học phổ thông Trần Hưng Đạo thành phố Nam Định.
Tác giả Lương Thị Hằng với đề tài luận văn quản lý giáo dục:“Biện
pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống ở trường trung
9
học phổ thông Nam Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên” (2010) đã đề cập khá rộng, cả
những hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống, trên cơ sở đó đề xuất
những biện pháp khả thi để quản lý hoạt động này phù hợp với những đặc
điểm, thực tiễn của học sinh và nhà trường Nam Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
Tác giả Trần Thị Hải Yến với đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục
“Những biện pháp quản lý nhằm "xây dựng trường học thân thiện" tại trường
trung học phổ thông Việt Bắc - thành phố Lạng Sơn” (2010), tác giả Lê Anh
Tuấn với đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục “Biện pháp quản lý giáo dục
giá trị sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông huyện Thạch Thất, Hà
bách của thực tiễn là làm thế nào để giáo dục kỹ năng sống và quản lý giáo
dục kỹ năng sống một cách có hiệu quả, hình thành kĩ năng sống tốt, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, xây dựng học sinh trở thành
con ngoan trò giỏi.
Ba là, đã có một số công trình nghiên cứu, hướng dẫn của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và quản lý giáo dục giá trị
sống, kỹ năng sống cho các cấp học nói chung của ngành giáo dục. Tuy nhiên
còn có rất ít những công trình quan tâm giải quyết vấn đề giáo dục giá trị
sống và quản lý giáo dục giá trị sống ở một bậc học cụ thể, trên một địa bàn
cụ thể. Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu về giáo
dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học phổ
thông thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Do vậy, đề tài: “Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học
phổ thông thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” là một nội dung mới, đáp ứng
những đòi hỏi cấp thiết từ thực tế giáo dục đào tạo của các nhà trường trung
học phổ thông thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
*Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục giá trị sống cho
học sinh trung học phổ thông, đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục giá trị
sống cho học sinh trung học phổ thông thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
11
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý giáo dục giá trị sống cho
học sinh trung học phổ thông.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục giá trị sống và quản lý giáo
dục giá trị sống cho học sinh trung học phổ thông thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc
- Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung
nhận thức, kiến thức, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống cho các
lực lượng giáo dục và đội ngũ học sinh; tổ chức các lực lượng giáo dục thực
hiện hoạt động giáo dục giá trị sống; hoàn thiện cơ chế quản lý, xây dựng và
ban hành các văn bản pháp quy quản lý giáo dục giá trị sống; quản lý việc
phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội trong giáo dục giá trị
sống cho học sinh; thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục giá trị
sống thì sẽ quản lý có hiệu quả giáo dục giá trị sống của nhà trường, góp phần
phát triển toàn diện nhân cách của học sinh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giáo
dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Trong quá trình nghiên cứu tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận
duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ
Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, quản lý giáo
dục; dựa trên các quan điểm, nguyên tắc, phương pháp của khoa học quản lý
giáo dục, lý luận về giáo dục giá trị sống cho học sinh trong các nhà trường.
* Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng kết hợp
các phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn, cụ thể là:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Hệ thống hoá, khái quát hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng về giáo dục giá trị sống và quản lý
giáo dục giá trị sống cho học sinh.
13
Nghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp các số
liệu, các báo cáo về giáo dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị sống
của nhà trường.
Nghiên cứu các giáo trình, sách tham khảo, tài liệu về khoa học quản lý
phổ thông, đóng góp những luận cứ khoa học cho lãnh đạo, giáo viên, các lực
lượng tham gia giáo dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị sống cho học
sinh trung học phổ thông thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong giáo dục giá trị
sống và quản lý giáo dục giá trị sống ở các trường trung học phổ thông nói
chung và ở thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục ở các nhà trường.
8. Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương (9 tiết); kết luận và kiến
nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục.
15
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.Khái niệm giá trị sống
Để nghiên cứu khái niệm giá trị sống cần phải làm rõ khái niệm giá trị.
Ngay từ thời cổ đại, con người đã biết đến những giá trị chân, thiện,
mỹ. Các dấu ấn của nền văn hóa phương Đông cũng như phương Tây đã xuất
hiện nhiều tác phẩm của các nhà triết học, các nhà khoa học, trong đó đề cập
đến những giá trị văn hóa và tinh thần. Mỗi một xã hội, một dân tộc, một thời
đại đều có những giá trị khác nhau, phổ cập nhất là 2 hệ giá trị: giá trị vật
chất, giá trị tinh thần. Từ hai hệ giá trị này được phát triển thành nhiều giá trị
quy định, định hướng cho sự phát triển của xã hội và của cả nhân loại trong
cuộc sống. Mỗi dân tộc, đất nước, giai cấp có những giá trị riêng, đồng thời
tiếp thu các giá trị chung của nhân loại làm cho hệ giá trị phong phú, đa dạng
theo thời gian.
Theo quan niệm chung nhất thì giá trị là những thành tựu mà con người
cảm và yếu tố hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật mang giá trị
được thể hiện ở sự lựa chọn, đánh giá của chủ thể.
Trong hệ thống giá trị thì giá trị sống được đánh giá là giá trị cốt lõi,
định hướng và quyết định sự phát triển của nhân cách.
Khi đề cập giá trị sống là muốn nói đến những giá trị thiết thực cho cuộc
sống của từng cá nhân con người đang sống, hoạt động, gắn liền với kỹ năng
sống, giúp người ta sống và làm việc hiệu quả hơn cho cá nhân và xã hội.
Giá trị sống cũng có nguồn gốc hình thành, biến đổi, duy trì... theo
những quy luật xã hội như các giá trị nói chung. Nhưng khi giáo dục hay đánh
giá giá trị sống người ta chủ yếu hướng vào bình diện cá nhân.
17
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Phạm trù giá trị sống được tạo nên
bởi kĩ năng sống thành thạo trên nền tảng quan điểm sống đúng đắn. Đất nước
nào xây dựng và giúp cho thế hệ trẻ thực hiện được hệ giá trị bản thân đúng
đắn và hợp thời, thì đất nước đó sẽ có các giờ học tốt, nhà trường tốt, hệ thống
giáo dục và nền giáo dục tiên tiến không lạc hậu, lạc điệu với thời đại”
Giá trị cuộc sống (hay giá trị sống) là những điều chúng ta cho là quý
giá, là quan trọng, là có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người. Giá trị sống
trở thành động lực để người ta nỗ lực phấn đấu để có được nó. Giá trị sống
mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của mọi người đều giống nhau. Có
người cho rằng tài sản vật chất là trên hết. Có người cho rằng tình yêu thương
mới là điều quý giá nhất trên đời. Có người coi trọng lòng trung thực, hay sự
bình yên…
Tác giả cho rằng: Giá trị sống là một hình thái ý thức xã hội, là hệ
thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con
người với con người. Giá trị sống về bản chất là những quy tắc, những chuẩn
mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống,
được cả xã hội thừa nhận.
Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc. Ở Việt Nam, chúng ta có
thể thấy rằng, chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức cao quý nhất của dân tộc
Việt Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong thang bậc giá trị
truyền thống, và là hằng số trong mỗi người Việt Nam, "là tiêu điểm của mọi
tiêu điểm". Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích
cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước, có ý thức giữ gìn và phát
triển bản sắc dân tộc, luôn tự hào về dân tộc.
Lòng thương người của dân tộc Việt Nam xuất phát từ tình cảm yêu
quý con người "Một mặt người bằng mười mặt của” Tinh thần thương yêu
con người còn biểu hiện trong sự tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau "lá lành đùm
lá rách", "chị ngã em nâng", "một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ"... Ở tình
cảm bao dung, vị tha: "đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại".[ 47, tr.15]
Tóm lại, tình thương yêu con người là giá trị đạo đức đặc trưng của dân tộc ta,
một giá trị rất đáng tự hào. Nó gắn liền với tình yêu thương đồng loại và là
"cái gốc của đạo đức. Không có lòng nhân ái thì không thể có lòng yêu nước,
thương nhân dân được".
Tinh thần đoàn kết là sản phẩm đặc thù của một hoàn cảnh thiên nhiên
khắc nghiệt và điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam. Đây là một trong những
nhân tố cốt lõi trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam “Một cây
làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
20
Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm cũng là một giá trị đạo đức nổi bật trong
hệ giá trị của dân tộc Việt Nam. Người Việt luôn nhắc nhở với nhau rằng, "năng
nhặt chặt bị", "kiến tha lâu đầy tổ”. Lao động cần cù của người Việt Nam luôn gắn
với tiết kiệm, bởi lẽ, "buôn tàu buôn bè không bằng ăn dè hà tiện" [47, tr. 16]
Ngoài những giá trị nói trên, dân tộc Việt Nam còn có nhiều giá trị đạo
đức khác tạo nên cốt cách con người Việt Nam, như đức tính khiêm tốn, lòng
thuỷ chung, tính trung thực... Những đức tính này liên quan đến nhau, đức
* Giá trị Hạnh phúc
* Giá trị Trách nhiệm
* Giá trị Giản dị
* Giá trị Tự do
* Giá trị Đoàn kết
Những giá trị sống trên đây là những giá trị tinh thần không đề cập đến
giá trị tiền bạc, giàu sang, sức khoẻ... và chủ yếu hướng vào các bình diện:
- Những giá trị phẩm chất nhân cách, đạo đức bản thân (khoan dung,
khiêm tốn, giản dị, trung thực, yêu thương, hạnh phúc)
- Những giá trị quan hệ liên nhân cách, quan hệ với nhóm, với cộng
đồng... (tôn trọng, hợp tác, đoàn kết, trách nhiệm)
- Đồng thời cũng quan tâm đến một số giá trị chung (hoà bình, tự do ...)
Những giá trị trên là giá trị phổ quát nhất, tuy nhiên, mỗi một lứa tuổi ở
mỗi quốc gia, dân tộc lại có những giá trị sống khác nhau. Ở tuổi vị thành
niên (9 - 10 tuổi đến 17 - 18 tuổi) là giai đoạn quan trọng nhất trong sự hình
thành, phát triển nhân cách. Những giá trị sống được tiếp nhận và hình thành
ở lứa tuổi này quyết định thiên hướng nghề nghiệp và cuộc sống tương lai của
họ. Nhà trường cần giúp cho học sinh phát triển hệ giá trị của từng người.
Những giá trị sống cần thiết không thể thiếu đối với học sinh trung học
phổ thông là:
22
- Ham học hỏi
- Trung thực
- Giàu tình yêu thương
- Biết quan tâm đến người khác
- Cần cù, siêng năng
- Chủ động, tự tin
- Chấp nhận thử thách, sẵn sàng vượt mọi khó khăn
con người phát triển: tạo ra động cơ cho hành động, hành vi; thúc đẩy ham
muốn hướng đến chân, thiện, mỹ; giải quyết tốt những mâu thuẫn của cá nhân
với cộng đồng, với tự nhiên ...
1.1.2. Khái niệm giáo dục giá trị sống
Giáo dục giá trị sống là một quá trình tổ chức tác động có chủ đích của
các lực lượng giáo dục, trong đó giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo, để
tạo ra sự thống nhất tác động giáo dục, phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế
những ảnh hưởng tiêu cực tới học sinh, nhằm phát huy tính tích cực tự giác rèn
luyện, tạo ra động cơ, thái độ đúng đắn trong cuộc sống, học tập và hoạt động
xã hội, để học sinh học tập, làm việc hiệu quả hơn có lối sống nếp sống tốt đẹp
mang lại lợi ích cho chính học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội.
Giáo dục giá trị sống cho học sinh là quá trình giúp học sinh tiếp thu,
lĩnh hội những giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị phổ quát của
nhân loại, biến thành những giá trị đặc trưng của bản thân mỗi học sinh, giúp
cho các em có suy nghĩ, thái độ và hành động tích cực, hiệu quả, phù hợp với
bản thân và đáp ứng mong đợi của gia đình, nhà trường và xã hội.
Từ những cách hiểu trên, có thể đưa ra khái niệm: Giáo dục giá trị
sống cho học sinh trung học phổ thông là quá trình tác động có mục đích, có
tổ chức, có kế hoạch của các lực lượng giáo dục đến học sinh trung học phổ
thông nhằm giúp học sinh tiếp thu, lĩnh hội những giá trị sống phổ quát của
24
nhân loại, xã hội, biến thành những giá trị của cá nhân để có suy nghĩ, thái
độ và hành vi ứng xử đúng mực, tích cực trong cuộc sống, không ngừng phát
triển và hoàn thiện nhân cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và rèn luyện
ở nhà trường.
Mục tiêu giáo dục giá trị sống trong nhà trường phổ thông là trang bị
cho học sinh những tri thức về giá trị sống, giúp học sinh tự giác, tích cực rèn
luyện, học tập tiếp nhận những giá trị chung của nhân loại, của dân tộc thành
biết rằng mỗi cá nhân bao gồm những khía cạnh về thể chất, tinh thần, tình
cảm và trí tuệ.
Giúp các em suy nghĩ, xem xét về các giá trị khác nhau, thể hiện những
giá trị này khi liên hệ với chính mình, với người khác, với cộng đồng và với
một thế giới rộng lớn hơn.
Học sinh có hiểu biết sâu sắc hơn về động cơ và trách nhiệm có liên
quan tới những sự lựa chọn của cá nhân và xã hội một cách tích cực.
Giáo dục giá trị sống trong nhà trường phổ thông cũng giúp gây hứng
thú cho các cá nhân để lựa chọn những giá trị của riêng mình về xã hội, đạo
đức và tinh thần và hiểu biết những phương pháp thực hành để phát triển và
khắc sâu những giá trị này.
Tóm lại, giáo dục giá trị sống là giáo dục từ gốc, là dạy cho học sinh
cách sống với các giá trị và cảm nhận được các giá trị ấy. Nhà trường có vai
trò quyết định sự hình thành và phát triển giá trị sống của học sinh. Vì giá trị
sống là nguyên tắc định hướng đường đi cho mỗi người. Giá trị sống trở
thành động lực giúp con người nỗ lực đạt tới, là điều kiện để con người có
bản lĩnh hành động. Giá trị sống tích cực giúp học sinh tự ổn định, cân bằng
và thích ứng trước biến động của xã hội. Không có giá trị sống đúng, học
sinh sẽ khó thích ứng trước biến đổi của xã hội, dễ bị ảnh hưởng tiêu cực,
suy giảm nhân cách.