LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý xã hội hóa GIÁO dục mầm NON NGOÀI CÔNG lập TRÊN địa bàn QUẬN hà ĐÔNG, THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 42

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI HOÁ
GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP
12
1.1.
Những khái niệm cơ bản của đề tài
12
1.2.
Đặc điểm và nguyên tắc chỉ đạo thực hiện quản lý xã hội
hóa giáo dục mầm non và giáo dục mầm non ngoài công lập 33
1.3.
Nội dung quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non
36
1.4.
Những yếu tố tác động đến quản lý xã hội hóa giáo dục
mầm non ngoài công lập
38
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ XÃ HỘI HOÁ
GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI 43
2.1.
Tình hình giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn
quận Hà Đông thành phố Hà Nội
43
2.2.
Thực trạng quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non ngoài
công lập trên địa bàn quận Hà Đông thành phố Hà Nội
51

viên mầm non: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ cũng như trồng
cây non, trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này
các cháu thành người tốt. Anh,chị em giáo viên mẫu giáo cần luôn luôn
gương mẫu về đạo đức để các cháu noi theo”.
Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam tại Đại hội lần thứ VIII đã khẳng định: “Các vấn đề chính sách xã hội
đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng
thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá
nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội”.
Mục đích cuối cùng của quá trình xã hội hóa sự nghiệp giáo dục là
nâng cao thêm mức hưởng thụ về giáo dục của nhân dân, nâng cao chất lượng
cuộc sống tinh thần và vật chất của từng người dân.Trẻ em hôm nay sẽ là chủ
nhân đất nước ngày mai, vì thế cần phải bắt đầu từ việc chăm sóc, giáo dục trẻ
em tuổi mầm non. Trách nhiệm này không chỉ thuộc về các nhà giáo dục mầm
non mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Chăm lo
phát triển mầm non”, thực hiện “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”. Xã hội
hóa sự nghiệp giáo dục mầm non là một quy luật và khâu then chốt để thực
hiện “chuẩn hóa”, “hiện đại hóa”, thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước
ta xác định đến năm 2020 là: “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học
mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ
cho các gia đình”.


4
Thực tế xã hội hóa giáo dục mầm non trên địa bàn quận Hà Đông trong
thời gian qua có nhiều chuyển biến đáng kể, đã đóng góp không nhỏ cho sự
nghiệp giáo dục trên địa bàn quận. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trên
thực tế công tác xã hội hóa giáo dục mầm non chưa được nhận thức đúng đầy
đủ, chưa phát huy được thế mạnh của nó, bởi vì trong xã hội còn tồn tại nhiều

huy động các nguồn lực để phát triển các trường mầm non luôn được coi
trọng, là mối quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội, các nhà khoa
học và là đề tài nghiên cứu của nhiều tác giả. Thực hiện chủ trương xã hội hoá
giáo dục nói chung và phổ cập giáo dục mầm non nói riêng, vấn đề này đang
được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn.
Nghiên cứu xã hội hóa giáo dục mầm non đã được nghiên cứu trên hai
phương diện lí luận và thực tiễn.
Năm 1998, trong khuôn khổ của “Đề án xã hội hóa giáo dục và đào
tạo”, Vụ g iaos dục mầm non, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đánh giá những
thành tựu và hạn chế, thiếu sót của hơn mười năm qua và xác định mục tiêu,
nhiệm vụ xã hội hóa đối với giáo dục mầm non.
Đứng trước những yêu cầu và thách thức của việc thực hiện chiến lược
phát triển giáo dục mầm non, nhằm phát triển giáo dục mầm non theo tinh
thần Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX. Ngày 25/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị
bàn về công tác giáo dục mầm non. Hội nghị đã đề ra những giải pháp cơ bản,
trong đó nhấn mạnh: “Tiếp tục đẩy mạnh biện pháp xã hội hóa giáo dục mầm
non, đa dạng hóa các loại hình giáo dục mầm non”.
Quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa giáo dục
trên bình diện chung, ngành giáo dục mầm non đã có những văn bản, chỉ thị
nêu rõ tầm quan trọng của hoạt động này trong công tác chung của ngành.
Văn bản 05/2003/TTLT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ
Tài chính ban hành ngày 24/2/2003 nêu lên trách nhiệm chung của xã hội đối
với sự nghiệp giáo dục mầm non từ cấp cơ sở đến cấp Trung ương.
Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với tổ chức UNESCO đã tổ chức nghiên
cứu “Dự án phát triển trẻ thơ dựa vào cộng đồng cho trẻ em nghèo vùng nông


6
thôn”. Dự án này đã thu được nhiều kết quả và được Hội nghị tổng kết tại Hà

"Biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục mầm non ở quận Thanh
Xuân thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay", (năm 2007). Công trình đã
đề xuất các biện pháp quản lý công tác xã hội hóa GDMN ở quận Thanh
Xuân, Hà Nội.
Công trình luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của Nguyễn Thị Bẩy
(2008), Các biện pháp thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục ở các trường
mầm non Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay. Công trình đã đề xuất các biện
pháp thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục ở các trường mầm non Hải
Phòng trong giai đoạn hiện nay.
Công trình luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của Đỗ Thị Thúy Nga
(2009), Quản lý công tác xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm non ở huyện
Thạch Thất, Thành phố Hà Nội trong bối cảnh phát triển hiện nay. Công trình
đã đề xuất các biện pháp quản lý công tác xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm
non ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Công trình luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Thái Thị Loan
( 2013), “Biện pháp ngăn ngừa và khắc phục tình trạng bỏ việc của giáo viên
mầm non huyện Tân phú, thành phố Hồ Chí Minh”. Công trình đã đề xuất các
biện pháp ngăn ngừa và khắc phục tình trạng bỏ việc của giáo viên mầm non
huyện Tân phú, thành phố Hồ Chí Minh có giá trị thực tiễn cao.
Các đề tài của các tác giả nêu trên đều mang tính riêng của mỗi địa
phương nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục cấp mầm non ở địa
phương. Tuy nhiên, những nghiên cứu dành cho cấp học này còn khá khiêm
tốn, các nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu những khía cạnh như việc đánh
giá thực trạng và đề xuất các giải pháp để xây dựng quy hoạch phát triển
GDMN quản lý bồi dưỡng GV, bồi dưỡng chuẩn hóa GV, phát triển đội ngũ
GV ở vùng đặc thù.


8
Các luận văn tuy không trực diện bàn vào vấn đề xã hội hóa giáo dục

Hà Đông thành phố Hà Nội .
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non ngoài
công lập.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non
ngoài công lập trên địa bàn quận Hà Đông thành phố Hà Nội và xác định rõ
nguyên nhân của những ưu, khuyết điểm đó.
- Đề xuất biện pháp quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non ngoài công
lập trên địa bàn quận Hà Đông thành phố Hà Nội; khảo nghiệm tính cần thiết
và tính khả thi của các biện pháp.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Xã hội hóa giáo dục mầm non trên địa bàn quận Hà Đông thành phố Hà Nội.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn quận
Hà Đông thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu xã hội hóa giáo dục mầm
non ngoài công lập theo góc độ quản lý, huy động các nguồn lực của xã hội
tham gia vào giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn quận Hà Đông
thành phố Hà Nội.
- Về khách thể: chỉ nghiên cứu các trường và các cơ sở giáo dục mầm
non ngoài công lập trên địa bàn quận Hà Đông thành phố Hà Nội.
- Về thời gian: các số liệu, tư liệu sử dụng trong đề tài được tổng hợp từ
năm 2010 đến nay.


10
5. Giả thuyết khoa học
Xã hội hoá giáo dục là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm

+ Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến luận văn qua
việc phân tích, tổng hợp, khái quát hóa làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn
quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn quận Hà
Đông thành phố Hà Nội.
+ Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Vận dụng phương pháp xã hội học để nghiên cứu:
Phương pháp quan sát các hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường
mầm non trong quận để thu thập số liệu, phát hiện những vấn đề mới.
Phương pháp điều tra, khảo sát thâm nhập thực tiễn các đối tượng cán
bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ trẻ mầm non để đánh giá thực trạng.
+ Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học. Sử dụng các công
thức thống kê để xử lý các kết quả khảo sát
+ Phương pháp chuyên gia: trao đổi và xin ý kiến của các chuyên gia
quản lý giáo dục một số vấn đề có liên quan đến nội dung của luận văn.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Giúp cho các cấp quản lý, các nhà quản lý giáo dục cấp học mầm non
làm tài liệu tham khảo trong thực hiện quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non
ngoài công lập trên địa bàn quận Hà Đông thành phố Hà Nội.
- Có thể là tài liệu tham khảo trong các trường sư phạm về môn học
quản lý giáo dục và quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non.
8. Kết cấu luận văn
Luận văn có cấu trúc bao gồm phần mở đầu, 3 chương 9 tiết; kết luận
và kiến nghị; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.


12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP

một lần nữa khẳng định: giáo dục mầm non là bộ phận quan trọng cấu thành
hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần đào tạo con người Việt Nam phát triển
toàn diện.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non là ngành học thể
hiện tính xã hội hoá cao hơn hết. Giáo dục mầm non thể hiện sinh động
nguyên tắc nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm. Để đẩy mạnh hơn nữa sự
nghiệp phát triển giáo dục mầm non, Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức hội
nghị bàn về công tác giáo dục mầm non. Hội nghị đã đề ra các giải pháp cơ
bản, trong đó nhấn mạnh: tiếp tục đẩy mạnh biện pháp xã hội hoá sự nghiệp
giáo dục mầm non; đa dạng hoá các loại hình giáo dục mầm non, kiến nghị
cần có chính sách để đầu tư cho giáo dục mầm non; ban hành quyết định số
164/2002/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non.
* Giáo dục mầm non ngoài công lập
Theo điều 3- Điều lệ trường mầm non (Ban hành kèm theo quyết định
số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo) quy định các loại hình của trường mầm non, trường mẫu
giáo, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập:
“ 2.Nhà trường,nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo dân lập do cộng đồng
dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí
hoạt động và được chính quyền địa phương hỗ trợ.
3. Nhà trường,nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo tư thục do tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập,
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng nguồn
vốn ngoài ngân sách nhà nước”.
Theo điều 5- Điều lệ trường mầm non (Ban hành kèm theo quyết định
số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo


14
dục và Đào tạo) quy định tổ chức và hoạt động của nhà trường, nhà trẻ, lớp

vẻ vang ấy tùy theo hoàn cảnh của mỗi giai đoạn cách mạng. Từ khi nắm
quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến nay, trong mọi chủ trương của
mình, Đảng ta luôn luôn lấy dân làm gốc, coi trọng việc thường xuyên bồi
dưỡng sức dân, đồng thời với việc giác ngộ, huy động và tổ chức lực lượng to
lớn của toàn dân vào việc thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng nhằm đem lại
no ấm, hạnh phúc cho nhân dân làm đường lối chính trị quan trọng nhất của
mình. Đường lối dựa vào dân được đúc kết trong câu nói của Hồ Chí Minh:
“Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Trong thực tiễn cách mạng, sự vận động và phát triển của đường lối
này ngày càng đạt tới trình độ cao hơn cả về lý luận và thực tiễn. Tới đại hội
VIII thuật ngữ “Xã hội hóa” đã xuất hiện. Thuật ngữ “ Xã hội hóa” trong bối
cảnh phát triển của nước ta ở thời kỳ đổi mới được dùng để chỉ cách thực hiện
chủ trương của Đảng bằng con đường giác ngộ, vận động và tổ chức sự tham
gia tích cực, tự nguyện của mọi lực lượng xã hội, của toàn dân vào sự nghiệp
chung đồng thời cũng tăng cường trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với
mọi mặt của nhân dân.
Từ các quan điểm trên đã nêu lên nội dung cơ bản của khái niệm xã hội
hóa. Các định nghĩa đó được đề cập ở những mức độ khác nhau nhưng cốt lõi
của vấn đề cho rằng:
Xã hội hóa là quá trình cá nhân nhờ hoạt động, giao lưu, giao tiếp,
tiếp thu giáo dục mà học hỏi được cách sống trong cộng đồng, trong đời sống
xã hội và phát triển được khả năng đảm nhiệm các vai trò xã hội với tư cách
vừa là cá thể vừa là thành viên của xã hội.
Xã hội hóa là quá trình tương tác giữa con người với con người, con
người với xã hội, qua đó con người với tư cách là cá thể học hỏi, lĩnh hội, tiếp
nhận quy tắc văn hóa của xã hội như những hành vi, giá trị chuẩn mực văn hóa
xã hội, kiến thức, kỹ năng, phương pháp để trở thành cá nhân, để đóng góp và
phù hợp với vai trò, vị thế xã hội nhất định của mình, từ đó con người dần dần
hòa nhập vào xã hội.


“Thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục. Huy động nguồn lực vật chất và


17
trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ
giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội
- nghề nghiệp... để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành
viên trong xã hội” [18, tr.97].
Chủ trương xã hội hoá sự nghiệp giáo dục của Đảng được thể chế hoá
vào Hiến pháp 1992( sửa đổi bổ sung năm 2001), tại điều 35: “...Phát triển
các hình thức trường quốc lập, dân lập các hình thức giáo dục khác”. Điều
12 của Luật Giáo dục 2005 khẳng định “Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục để
thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục;
khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự
nghiệp giáo dục” [ 32, tr.35].
Ngày 18/4/2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về
đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, văn hoá, y tế, thể dục thể thao.
Tiếp đó, ngày 24/6/2005 Bộ GD & ĐT đã ban hành Quyết định số
20/2005/QĐ-BGD và ĐT phê duyệt đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hoá
sự nghiệp giáo dục giai đoạn 2005 - 2010”.
Chủ trương XHH giáo dục của Đảng và Nhà nước đã và đang thu hút
sự quan tâm nghiên cứu của các Vụ, Viện, các Ban, Ngành thuộc BGD&ĐT
cũng như các ban, ngành có liên quan. Nhiều chuyên gia giáo dục có tâm
huyết đã có những bài viết nghiên cứu xung quanh vấn đề XHH sự nghiệp
giáo dục; Viện sĩ, giáo sư Phạm Minh Hạc trong cuốn “Giáo dục Việt Nam
ngưỡng cửa thế kỷ XXI” đã khẳng định “Sự nghiệp giáo dục không chỉ của
nhà nước mà là của toàn xã hội, mọi người cùng làm giáo dục, nhà nước và
xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáo dục”[21, tr.331].
Có thể nói, xã hội hoá giáo dục là: huy động toàn xã hội làm giáo dục,
động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân

tuổi, mọi bậc học (cả trẻ em và người lớn) nhưng đối với trẻ em tuổi mầm non
(dưới 6 tuổi) thì việc xã hội hóa như đã hiểu trên đây phải được coi là triệt để
nhất (cao hơn học sinh phổ thông và người lớn) của nhà nước.


19
Bản chất của xã hội hóa giáo dục mầm non là tăng cường sự tham gia
của các cá nhân, các gia đình, các nhóm, các tổ chức và các cộng đồng xã hội
vào thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục mầm non.Trong những năm gần
đây, xã hội hóa giáo dục mầm non đang diễn ra rất mạnh mẽ trên phạm vi cả
nước. Xã hội hóa giáo dục mầm non thể hiện ở việc xây dựng và phát triển hệ
thống các trường, các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập.
Trước năm 1945, dưới thời Pháp thuộc ở Việt Nam không có nền GD
trước tuổi đi học. Trong cả nước chỉ có vài trạm y tế bần nuôi trẻ mồ côi. Sau
cách mạng Tháng 8, cùng với việc hình thành chế độ mới, lần đầu tiên ở Việt
Nam có bậc giáo dục trước tuổi đi học chính thức ra đời.
Từ chỗ hầu như chưa có gì, trải qua những năm tháng khó khăn, gian
khổ của hai cuộc kháng chiến, vượt qua thời kỳ chao đảo trong sự chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, nhờ thực hiện chủ trương
XHH, nền GDMN đã khắc phục được tình trạng suy giảm, giữ được sự ổn
định trên diện rộng, phát triển ở những khu vực có điều kiện tạo nên sự
chuyển biến rõ rệt.
Từ thực tế các hình thức giáo dục mầm non có thể khẳng định rằng:
đây là bậc học được xã hội hóa cao hơn bất kỳ bậc học nào. Giáo dục mầm
non là sự thể hiện sinh động nguyên tắc nhà nước, xã hội và nhân dân cùng
làm. Song việc nghiên cứu xã hội hóa giáo dục mầm non còn có những hạn
chế nhất định.
Nhiều công trình nghiên cứu giáo dục trẻ em tuổi mầm non đã chứng
minh rằng, sự hình thành cơ sở đầu tiên cho sự phát triển trí tuệ của con người
đã được đặt ra ở độ tuổi này và nó có vị trí đặc biệt quan trọng: 50% của sự

toàn xã hội. “...Trẻ em bố mẹ khỏi lo / Dạy nuôi, chính phủ giúp cho đủ đầy”.
Thứ ba, khi nước ta giành được độc lập, trong thư gửi học sinh nhân
ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
(tháng 9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt hy vọng to lớn vào trẻ em:
“... Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt
Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu
được hay không, chính là nhờ một phần lớn công lao học tập của các em”.


21
Người khẳng định rằng, giáo dục thế hệ trẻ là trách nhiệm của toàn dân:
“...Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà, vì vậy chăm
sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”.
Thứ tư, Bác Hồ luôn căn dặn thiếu niên, nhi đồng rằng trẻ em phải làm
mọi việc vừa sức mình đề có ích cho bản thân và xã hội. Trong Thư trung
thu (1952) gửi thiếu niên, nhi đồng toàn quốc, Người viết: “...Mong các cháu
cố gắng / Thi đua học và hành / Tuổi nhỏ làm việc nhỏ / Tuỳ theo sức của
mình / Để tham gia kháng chiến / Để gìn giữ hoà bình / Các cháu hãy xứng
đáng / Cháu Bác Hồ Chí Minh”.
Thứ năm, trong Di chúc để lại trước lúc đi xa, Người căn dặn: “...Bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”.
Tư tưởng xã hội hóa công tác GDMN của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở
thành đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, ngày càng cần
hiểu đúng hơn nội hàm của khái niệm và đưa nó vào cuộc sống.
Đứng trước những yêu cầu và thách thức của việc thực hiện chiến lược
phát triển GDMN, nhằm phát triển GDMN theo tinh thần Nghị quyết Trung
ương II( khoá 8) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ngày
25/6/2002, Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức hội nghị bàn về công tác GDMN.
Hội nghị đã đề ra giải pháp cơ bản trong đó nhấn mạnh: tiếp tục đẩy mạnh
biện pháp XHH sự nghiệp GDMN, đa dạng hoá các loại hình GDMN. Ngày

trông chờ ở sự phát triển hàng ngày ở lứa tuổi măng non này. Chính vì vậy,
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 2 khoá VIII đặt ra mục tiêu đến
năm 2020 phải“Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu
hết trẻ em trong độ tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình”.
Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục mầm non
Điều 21, 22, Luật Giáo dục 2005 ( sửa đổi bổ sung năm 2009) đã xác
định nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục mầm non “Giáo dục mầm non thực hiện
việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến sáu tuổi”, "Mục


23
tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí
tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho
trẻ vào học lớp một”.
* Vị trí, vai trò của xã hội hoá giáo dục mầm non, giáo dục mầm non
ngoài công lập trong giai đoạn hiện nay
Xã hội hóa sự nghiệp GDMN là một bài học thành công trong quá trình
xây dựng và phát triển hệ thống GDMN của nước ta. Đây cũng là một tư
tưởng giáo dục lớn của Đảng và chủ trương của Nhà nước nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để giáo dục tạo ra lớp người lao
động mới phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo, đáp ứng đòi hỏi của nền
công nghiệp hóa nước ta vào năm 2020 vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VIII và IX đã nêu ra.
Những năm qua, xã hội hóa công tác GDMN đã trở thành quan niệm
phổ biến và rộng rãi trong toàn xã hội, nhất là những ai làm công tác quản lý
trực tiếp giáo dục trẻ thơ. Song trong thực tế, vẫn còn nhiều điều phải bàn để
làm sáng tỏ phạm trù khái niệm và cách tiếp cận thực tiễn cho đúng nhằm
biến chủ trương này của Đảng và Nhà nước thành hiện thực.
Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục được đặt ra cho mọi độ tuổi, mọi bậc

Hai là, huy động được các nguồn lực, tiềm năng của xã hội, khắc phục
những khó khăn của quá trình phát triển cơ sở giáo dục mầm non.
Ba là,tạo ra sự công bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây
dựng giáo dục mầm non.
Bốn là, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy truyền
thống giáo dục của dân tộc.
Thực hiện xã hội hoá GDMN sẽ góp phần khắc phục được những khó khăn
giải quyết những mâu thuẫn cơ bản trong quá trình phát triển giáo dục mầm non.
Qua đó càng thấy rõ vai trò, tầm quan trọng của việc thực hiện xã hội hoá sự
nghiệp GDMN trong giai đoạn hiện nay.


25
Thực tiễn GDMN và những công trình nghiên cứu khoa học trong
những năm gần đây đã làm sáng tỏ những vấn đề cốt lõi nhất về xã hội hóa
GDMN. Để xã hội hóa GDMN tiến triển tốt cần phải:
- Nhận thức đầy đủ và đúng đắn về khái niệm xã hội hóa GDMN. Xã
hội hóa GDMN không chỉ là một tư tưởng GD, một xu thế GD của thời đại
mà còn là phương thức để phát triển GD ở mọi nền kinh tế - xã hội khác nhau.
- Xã hội hóa giáo dục mầm non phải được đặt ra triệt để nhất so với
các bậc học khác.
Thực tiễn thành công của các điển hình tiên tiến giáo dục mầm non về
xã hội hóa GDMN đã chứng tỏ rằng, để xã hội hóa GDMN phải quán triệt
đầy đủ hai mặt của một vấn đề, thiên lệch về một mặt nào đều là xa lạ với
khái niệm này. Nhiều trường mầm non và nhiều cô giáo đã biết lấy chất lượng
và hiệu quả chăm sóc - giáo dục trẻ thơ của nhà trường để làm căn cứ thực
tiễn mà thuyết phục và huy động lãnh đạo địa phương, các ban ngành và phụ
huynh làm công tác phát triển sự nghiệp GDMN ở địa phương.
1.1.3. Quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non
* Quản lý giáo dục

thế giới khách quan, về lý tưởng, đạo đức, thái độ thẩm mỹ. Trên cơ sở đó
hình thành nhân sinh quan, phát triển đạo đức, trí, thể, mỹ của từng con người
cụ thể. Giáo dục có sứ mệnh cao cả rèn luyện nhân cách cho từng cá nhân ở
từng đối tượng cụ thể, làm cho mỗi con người trở thành những chủ thể của
bản thân. Như vậy, theo nghĩa chung nhất:“Giáo dục là quá trình truyền đạt
và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và những kinh nghiệm nhằm
chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống lao động và sinh hoạt xã hội; là
một nhu cầu tất yếu của xã hội loài người, đảm bảo cho sự tồn tại của con
người và xã hội”.
Trong thời đại ngày nay, các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam
ghi nhận và thừa nhận vị trí và vai trò to lớn của giáo dục đối với sự phát triển
của xã hội loài người, đối với việc hình thành và phát triển nhân cách và phẩm
giá của con người. Đảng ta, với quan điểm đổi mới từ đại hội lần thứ VI đến đại



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status