i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ DUY VĨNH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC Ở CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
THƯỜNG XUÂN – TỈNH THANH HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN BÁ MINH
NGHỆ AN – 2013
LỜI CẢM ƠN
ii
Lời đầu tiên, Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới Trường Đại học Vinh, Khoa
Giáo dục, phòng đào tạo sau đại học, các giảng viên, các nhà khoa học đã tham
gia giảng dạy, quản lý và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện,
LĐLĐ huyện, PGD&ĐT, CBQL, CBGV, NV các nhà trường, lãnh đạo địa
Cán bộ giáo viên
CMHS
Cha mẹ học sinh
CNH
Công nghiệp hoá
ĐT
Đào tạo
GD&ĐT
Giáo dục và Đào tạo
GD
Giáo dục
GV
Giáo viên
HĐH
Hiện đại hoá
Phụ huynh học sinh
QL
Quản lý
QLGD
Quản lý giáo dục
TW
Trung ương
TH
Tiểu học
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
UBND
Uỷ ban nhân dân
1. Lý do chọn đề tài
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI nêu: “GD&ĐT có sứ
mệnh nâng cao dân trí phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần
quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam.
Phát triển GD&ĐT cùng với phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng
đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản toàn diện
GD&ĐT theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội
nhập Quốc tế phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”[16]. Con
người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của mọi sự phát triển. Vì vậy muốn phát
triển xã hội phải phát triển GD&ĐT để phát triển con người. Tuy nhiên để GD
góp phần phát triển xã hội có nhiều giải pháp và động lực khác nhau trong đó
XHHGD là một giải pháp có ý nghĩa, tác dụng về nhiều phương diện.
Để GD&ĐT góp phần phát triển xã hội, Đảng và Nhà nước đã đề ra các
chủ trương, chỉ thị, nghị quyết về GD, huy động toàn xã hội vào cuộc. Nghị
quyết Trung ương 4 (khoá VII) ngày 14/01/1993 về “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp
GD&ĐT” nhấn mạnh: “Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho GD, nhưng vấn đề
rất quan trọng là phải quán triệt sâu sắc và tiến hành tốt việc XHH các nguồn
đầu tư, mở rộng phong trào xây dựng, phát triển GD trong nhân dân, coi GD là
sự nghiệp của toàn xã hội” [16].
Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) ngày 24/12/1996 về “Định hướng
chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ đến năm
2000” khẳng định rõ “GD&ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của
toàn dân. Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời. Mọi gia đình và cá
nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp GD&ĐT, đóng
góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho GD&ĐT. Kết hợp GD nhà trường, GD
gia đình và GD xã hội, tạo nên môi trường GD lành mạnh ở mọi nơi, trong từng
cộng đồng, từng tập thể...” [16].
Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết
Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển GD&ĐT đến năm 2020 lại
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
3
Công tác xã hội hóa giáo dục tại các trường Tiểu học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý nâng cao chất lượng XHHGD ở các trường Tiểu học
huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được một hệ thống giải quản lý nâng cao chất lượng công tác
XHHGD ở các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh
Hoá có tính khoa học, thực tiễn và có cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục
Tiểu học trên địa bàn huyện.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về XHHGD và quan điểm chỉ
đạo, QL thực hiện của Nhà nước, của Tỉnh Thanh Hóa về công tác này.
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng QL thực hiện công tác XHHGD ở
các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Thường Xuân và chỉ ra những nguyên
nhân của những thành công hay thiếu sót, làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản
lý nâng cao chất lượng công tác XHHGD.
Đề xuất các giải pháp QL nâng cao chất lượng thực hiện XHH GD ở các
trường Tiểu học trên địa bàn huyện Thường Xuân trong giai đoạn hiện nay.
6. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng XHHGD ở
các trường Tiểu học huyện Thường Xuân trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở đó
đề xuất các giải pháp QL nâng cao chất lượng thực hiện XHHGD ở các trường
Tiểu học trên địa bàn huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
7. Phương pháp nghiên cứu
cứu.
8. Đóng góp của luận văn
Đề xuất các giải pháp quản lý nâng cao chất lượng công tác XHHGD ở
các trường Tiểu học trên đại bàn huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
9. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 3 chương:
5
Chương 1. Cơ sở lý luận của giải pháp quản lý nâng cao chất lượng xã
hội hoá giáo dục ở các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Thường Xuân, tỉnh
Thanh Hoá.
Chương 2. Cơ sở thực tiễn của giải pháp quản lý nâng cao chất lượng xã
hội hoá giáo dục ở các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Thường Xuân, tỉnh
Thanh Hoá.
Chương 3. Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng xã hội hoá giáo
dục ở các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
6
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC Ở CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
XHHGD không phải là vấn đề hoàn toàn mới. Đó là bước phát triển của
một chủ trương GD được thực thi qua nhiều năm. Ở một số nước, công tác
XHHGD đã được quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm như: Singapo, Trung
Quốc, Ấn Độ,… đều khẳng định GD là vấn đề sinh mệnh, xây dựng xã hội học
đương đầu với nhiều thứ giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, tuy vậy nền
GD Việt Nam do Bác Hồ khởi xướng đã phát triển một bước khá dài và mạnh
mẽ, huy động được sự đóng góp lớn của toàn xã hội.
Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi (1975), nước nhà độc lập,
thống nhất, Đảng và Chính phủ đã có nhiều nỗ lực đầu tư phát triển GD nhưng
do quy chế tập trung, quan liêu bao cấp, tổ chức thực hiện còn máy móc nên
chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có để phát triển mạnh. Chúng ta thay vì thực
hiện sự QLGD của Nhà nước, đã hành chính hóa GD, Nhà nước hóa GD làm
cho GD mất khả năng chủ động và thiếu tính sáng tạo. Nhận thức được tình hình
này, Đảng và Chính phủ đã thực hiện được nhiều đợt cải cách GD nhưng vẫn
còn mang tính chắp vá, chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội, nhất là trong thời điểm hiện tại, khi nhân loại đang bước sang thời kỳ
“Khoa học công nghệ”, xu hướng hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa, đa phương hóa
là quy luật tất yếu để phát triển đất nước.
Hội nghị lần thứ VI của Ban Chấp hành TW Đảng khóa VII tiếp tục
đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển nền GD Việt
Nam, đặc biệt nhấn mạnh tới công tác XHH. Cũng từ sau hội nghị này, các
văn kiện của Đảng và Nhà nước, các tài liệu khoa học GD, trên sách báo,
chúng ta bắt đầu bắt gặp các thuật ngữ “XHH” đối với các lĩnh vực hoạt động
như chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, dân số - kế hoạch hóa gia đình,
thể dục thể thao, GD&ĐT…
Kể từ sau Hội nghị lần thứ VI của Ban Chấp hành TW Đảng khóa VII,
Đảng và Chính phủ liên tiếp ban hành các văn kiện đề cập đến công tác
XHHGD như:
8
+ Nghị quyết 90/NQ-CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ nêu rõ “phương
hướng và chủ trương XHH các hoạt động GD, y tế và văn hóa”. Được Chính
Trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục”, tác giả Phạm Tất Dong đã
làm rõ nội hàm khái niệm XHHGD, coi công tác XHHGD là một khái niệm đã
vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam qua mỗi giai đoạn.
Tư tưởng XHHGD được thừa nhận là một nhân tố mới trong sự phát triển GD
hiện nay. Hơn nữa, với tư cách là nhân tố mới của sự phát triển GD, tư tưởng
“XHH công tác GD lại tạo ra những điều kiện để xuất hiện những nhân tố mới
khác trong quá trình vận động đi lên của các phong trào GD. Những điều kiện
đó chính là những kinh nghiệm rút ra từ thực tế sinh động của GD, trên cơ sở tư
duy GD trở nên xuất xắc, nhờ đó nhiều bài toán của GD&ĐT đã được giải một
cách hợp lý” [32].
Năm 1999, cuốn sách “Xã hội hóa công tác giáo dục, nhận thức và hành
động” của Viện Khoa học GD do tập thể tác giả Bùi Gia Thịnh phụ trách là một
bước hoàn thiện về nhận thức lý luận và hướng dẫn thực hiện. Bộ GD&ĐT cũng
có “Đề án xã hội hóa giáo dục và đào tạo ”, đánh giá thực trạng và đưa ra những
giải pháp XHHGD ở tầm vĩ mô, nhằm tạo ra những cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước trong những năm đầu thế kỷ XXI. Các nhà nghiên cứu như
GS.TSKH Phạm Mậu Bành, GS.TSKH Thái Duy Tuyên, TS. Nguyễn Thanh
bình cũng có rất nhiều bài viết nghiên cứu về vấn đề này.
Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Viện Khoa học GD (năm 2001), từ góc
độ GD học, cuốn sách “Xã hội hóa giáo dục” do Võ Tấn Quang chủ biên đã
khẳng định: “XHH công tác GD là một phương thức thực sự GD nhằm XHH cá
nhân”[20]. Lần đầu tiên cuốn sách với ý nghĩ là một chuyên khảo đã đề cập đến
đặc trưng XHHGD ở các cấp học, bậc học với địa bàn nông thôn, vấn đề QL
Nhà nước trong việc thực hiện XHHGD để có sự định hướng đúng đắn hoạt
động từ các nhà trường và từng địa phương. Các tài liệu nghiên cứu trên đây về
cơ bản còn mang tính chất phổ quát mà chưa đi sâu vào nghiên cứu từng biện
pháp QL để mang lại hiệu quả công tác XHHGD. Hơn nữa, tùy từng đặc trưng
vùng miền để mỗi địa phương có những phương hướng chỉ đạo và những biện
pháp thực hiện cụ thể để công tác XHHGD đạt hiệu quả cao nhất. Do đó, việc
nội hàm XHHGD nói ở đây thuộc phạm trù phương thức, phương châm, cách
làm GD, thuộc phương thức tổ chức và QL GD đúng với bản chất và nội dung
XHH đã nêu.
Quan niệm phiến diện, sai lệch
Quan niệm toàn diện, đúng đắn
11
Là huy động tiền của trong nhân dân Là cuộc vận động lớn trong xã hội với
nhằm giảm nhẹ gánh nặng cho Nhà sự tham gia đóng góp của các tổ chức,
nước
cá nhân và toàn thể xã hội.
Tập thể, các tổ chức Đảng, Nhà nước,
đoàn thể, cơ quan, đơn vị và quần
Nhà nước và nhân dân cùng làm GD
chúng có sự cồng đồng trách nhiệm
trong công tác GD
Là trách nhiệm chung của toàn Đảng,
Là trách nhiệm của ngành GD, của
toàn dân trong đó ngành GD là nòng
các Nhà trường
cốt.
Là đa dạng hóa các nguồn đầu tư:
Là tăng cường nguồn lực ngân sách
nhân lực, vật lực, tài lực, trí lực cho
Nhà nước cho GD
GD
Là phát triển đa dạng các loại hình GD
kiện tiên quyết để phát triển toàn diện và có hiệu quả sự nghiệp GD thế hệ trẻ
nói riêng và nền GD toàn dân nói chung. Tư tưởng ấy xuyên suốt toàn bộ quá
trình GD nhằm đạt những mục tiêu đã đề ra.
1.2.2. Trường Tiểu học
Căn cứ diều lệ trường Tiểu học Ban hành kèm theo thông tư số
41/2010/TT-BGD&ĐT ngày 30/12/2010 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đạo tào.
Trường Tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân,
có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
Trường Tiểu học tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt
chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ em
đã bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng
đồng. Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lí các hoạt động
giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học
theo sự phân công của cấp có thẩm quyền. Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn
thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và trẻ em trong địa
bàn trường được phân công phụ trách.
Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục và
Đào tạo và nhiệm vụ phát triển giáo dục của địa phương.
Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục.
Quản lí cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.
Quản lí, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo
quy định của pháp luật.
Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện
hoạt động giáo dục.
Tổ chức cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các
hoạt động xã hội trong cộng đồng.
14
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QL GD là hoạt động điều hành, phối hợp
các LLXH nhằm đẩy mạnh công tác ĐT thế hệ trẻ theo nhu cầu phát triển xã
hội” [18]. Xét từ phương diện QL GD theo hướng XHH thì có thể hiểu đây
chính là QL công tác XHHGD.
1.2.3.3. Quản lý công tác xã hội hoá giáo dục
QL công tác XHHGD trước hết là xây dựng cơ chế vận hành của hoạt
động XHH, tạo hành lang để hoạt động XHH đi đúng theo quỹ đạo, theo mục
tiêu của Đảng và Nhà nước đặt ra.
QL công tác XHHGD có những cách làm khác nhau giúp cho công tác
QL có những phương pháp linh hoạt và thích hợp với từng điều kiện, từng hoàn
cảnh cụ thể. Nếu QL theo phương pháp máy móc, cứng nhắc sẽ rơi vào tình
trạng hành chính hóa, làm thui chột tính năng động của hoạt động XHH. Nếu
QL nghiêng về phương pháp dễ dãi, giản đơn sẽ đẩy hoạt động XHH vào những
sai lầm, nhất là huy động các nguồn thu.
QL công tác XHH đòi hỏi phương pháp mềm dẻo, linh hoạt, tạo được
phong trào, định hướng được phong trào, phát huy dân chủ trong nhân dân, tăng
cường nguồn lực của xã hội và cộng đồng cho GD&ĐT.
QL công tác XHH GD không hoàn toàn là công việc của ngành
GD&ĐT. Với chức năng Nhà nước của mình, ngành GD&ĐT chủ yếu làm công
tác tham mưu, vận động, tuyên truyền để xã hội nhận thức đầy đủ hơn về GD,
chia sẻ khó khăn với GD, cộng đồng cùng trách nhiệm và tham gia vào quá trình
phát triển GD&ĐT. Tuy nhiên trong một chừng mực nhất định, ngành GD&ĐT
trực tiếp chỉ đạo và QL hoạt động XHH trong các nhà trường, giúp cho công tác
XHH đi đúng hướng và có kết quả cao.
Cụ thể, QL công tác XHHGD bao gồm những công việc chính sau:
- Lập kế hoạch thực hiện XHHGD:
hiện XHH GD có thể phát hiện những mặt hạn chế, những yếu tố kìm hãm việc
triển khai thực hiện XHH GD và qua đó có thể đề xuất các giải pháp điều
chỉnh, khắc phục.
Kiểm tra thực hiện XHH GD bao gồm: Kiểm tra việc thực hiện các mục
tiêu đã đề ra trong kế hoạch; Kiểm tra tiến độ thực hiện các hoạt động, các giải
pháp đang thực hiện; Kiểm tra các điều kiện nguồn lực đảm bảo thực hiện kế
hoạch XHH GD; Kiểm tra ý thức trách nhiệm của các cấp QL trong việc chỉ đạo
16
thực hiện XHH GD; Kiểm tra các văn bản chỉ đạo, các kế hoạch triển khai thực
hiện XHH GD.
Trên cơ sở kết quả kiểm tra sẽ đưa ra các nhận xét, đánh giá về việc thực
hiện XHH GD cho từng cấp QL, cho từng tổ chức, đơn vị. Đối tượng đánh giá là
việc thực hiện các mục tiêu (cả mục tiêu định tính lẫn mục tiêu định lượng) so
với kế hoạch đề ra có đạt hay không, đánh giá ý thức trách nhiệm của các cấp,
các ngành, các đơn vị trong việc triển khai thực hiện XHHGD.
1.2.4. Giải pháp
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Giải pháp được xem là phương pháp giải quyết
một công việc, một vấn đề cụ thể”.
Giải pháp là cách thức giải quyết một vấn đề khó khăn, trong đó các
tình huống đưa ra có thể được sử dụng để giải quyết, nhằm đạt được hiệu quả
cao nhất.
1.2.5. Giảp pháp quản lý
Giải pháp quản lý là cách thức giải quyết một vấn đề khó khăn trong công
tác quản lý, trong đó các giải pháp quản lý đưa ra có thể được sử dụng nhằm giải
quyết các vấn đề tồn tại, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
1.3. Các yếu tố cơ bản của công tác xã hội hoá giáo dục
1.3.1. Mục tiêu xã hội hoá giáo dục Tiểu học
Không nên hiểu XHHGD chỉ là sự chia sẻ bớt gánh nặng từ phía Nhà
nước sang nhân dân mà quan trọng và sâu sắc hơn: XHHGD là cộng đồng cùng
chung trách nhiệm và lợi ích, nhằm thu hút sự tham gia của mọi tầng lớp nhân
dân vào phát triển GD, xây dựng nền GD toàn dân, khuyến khích mọi người học
thường xuyên, học suốt đời. GD phải đảm bảo công bằng xã hội, thoã mãn mọi
nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân, đáp ứng mục tiêu nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Do đó, nội dung chủ yếu của
công tác XHHGD là:
- Huy động toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi để phát
triển GD: Môi trường GD có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng, hiệu quả GD.
Môi trường GD không chỉ là môi trường trong nhà trường mà còn là môi trường
gia đình và xã hội. Vì vậy, chúng ta phải huy động toàn xã hội xây dựng môi
18
trường GD. Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này phải dựa vào các LLXH xây dựng
môi trường GD lành mạnh, tăng cường GD thế hệ trẻ hình thành và phát triển
nhân cách, đồng thời tiếp thu kiến thức ở mức cao nhất và có điều kiện phát
triển nhân cách tốt nhất.
- Tổ chức các LLXH cùng tham gia thực hiện mục tiêu, nội dung GD:
Điều 27 Luật GD chỉ rõ: “Mục tiêu của GD là giúp học sinh phát triển
toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển
năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người xã
hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân” [33].
Huy động các LLXH tham gia GD là việc làm hết sức cần thiết để thực
hiện mục tiêu, nội dung GD. Các tổ chức, đoàn thể và cá nhân có khả năng có
thể tham gia vào quá trình GD. Trong việc đổi mới chương trình và sách giáo
khoa như hiện nay, vai trò của các lực lượng tham gia GD, đóng góp ý kiến đổi
mới GD là rất cần thiết. Sự tham gia của các lực lượng này phải phối hợp chặt
XHHGD là điều quan trọng nhất. Huy động tiền, vật chất của nhân dân không
phải là nội dung chủ yếu của XHHGD nhưng sự đóng góp tiền, công sức của
nhân dân có tầm quan trọng thúc đẩy GD phát triển. Các nguồn đầu tư này góp
phần thực hiện quá trình đổi mới GD nói chung và thực hiện có hiệu quả đổi
mới mục tiêu, nội dung, phương pháp ĐT, nâng cao đời sống giáo viên nói
riêng.
Hiện nay, ngân sách Nhà nước đầu tư cho GD ngày càng tăng nhưng
còn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển GD. Việt Nam đã chi cho ngân sách GD
năm 2000 là 15% tổng thu nhập quốc dân, phấn đấu năm 2015 đạt 25%. Hiện
nay, thu nhập của người dân còn thấp nên hình thức huy động nguồn lực phải
phong phú, đa dạng, mỗi người đóng góp cho GD theo cách của mình.
Tóm lại, các nội dung trên phải thực hiện đồng thời, không tách rời.
Có như vậy mới phát huy được hiệu quả của XHHGD, để nâng cao chất
lượng GD&ĐT, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, đưa Việt Nam thành quốc gia có nền kinh tế, GD và xã hội phát
triển trên thế giới.
1.3.3. Các giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục
XHHGD là một hoạt động có tính chiến lược lâu dài mà việc thực hiện
đòi hỏi có sự tham gia của nhiều ban, ngành, nhiều thành phần xã hội. Để
20
XHHGD thực hiện đúng mục đích và có hiệu quả, công tác QL hoạt động này
phải áp dụng các giải pháp sau:
- Xây dựng kế hoạch phát triển XHHGD:
+ Định rõ chỉ tiêu, các giải pháp, lộ trình chuyển đổi của ngành GD địa
phương trong một giai đoạn nhất định.
+ Phổ biến rộng rãi dự báo phát triển mạng lưới các cơ sở, nhu cầu
huy động nguồn lực thực hiện quy hoạch để thu hút các nhà đầu tư trong và
quy định về quyền và nghĩa vụ của sinh viên, ở vai trò của Hội Sinh viên, Đoàn
Thanh niên. Mặt khác, vai trò giám sát xã hội còn cần phải thể hiện qua quyền
được giám sát của cộng đồng dân cư, thông qua các hoạt động của Mặt trận Tổ
quốc, của các đoàn thể chính trị - xã hội.
- Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho GD nhà trường:
Các nguồn đầu tư cho GD rất phong phú và đa dạng. Để sử dụng và
QL có hiệu quả các nguồn đầu tư đó phải có cơ chế hợp lý, chặt chẽ, tránh
quan niệm cho rằng đây không phải ngân sách Nhà nước nên đầu tư không
rạch ròi, thiếu minh bạch làm giảm lòng tin của xã hội, hiệu quả XHHGD sẽ
không đạt được.
Trong huy động xã hội đầu tư nguồn lực cho GD vai trò của nhà trường
là nòng cốt và nhà trường tiếp nhận và sử dụng các nguồn đóng góp đó. Cơ chế
QL phải khoa học, phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự QL của Nhà nước; có
kế hoạch cụ thể, nên đầu tư vào vấn đề nào trước, vấn đề nào sau, tránh hiện
tượng dàn trải, không hiệu quả. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, chỉ đạo chặt chẽ
thường xuyên, kiểm tra đôn đốc liên tục để các nguồn lực được sử dụng đúng
mục đích, đúng chỗ, tạo điều kiện cho GD phát triển và tạo niềm tin của nhân
dân và các tổ chức xã hội.
- Xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ và đồng bộ để XHHGD phát triển
đúng hướng, đặc biệt là đảm bảo được định hướng XHCN.
Một trong những nội dung quan trọng của QL GD chính là xây dựng các
biện pháp để xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa GD và xã hội, giữa nhà trường
và cộng đồng để cùng nhau xây dựng một xã hội học tập. Bởi mối quan hệ này
chính là nền tảng để thực hiện công tác XHHGD và sự phối kết hợp chặt chẽ của
các lực lượng này trong công tác GD chính là biểu hiện hiệu quả nhất của công
tác XHHGD.