MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhận thức rõ tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với sự phát
triển của đất nước, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp
hành Trung ương 8 khóa XI khẳng định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo
dục cũng là đầu tư phát triển” [20]. Chính vì vậy, trong văn kiện Nghị Quyết
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam ngày
28/01/2016, Đảng ta xác định một trong ba đột phá chiến lược đó là phải “đổi
mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo” [22]. Mục tiêu của giáo dục Việt
Nam là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức,
sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng
lực của công dân, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Công tác GDQPAN ở các trường ĐHCĐ cũng góp phần vào việc hình
thành và bồi dưỡng, phát tiển nhân cách toàn diện của học sinh, sinh viên
nhằm hướng tới mục tiêu giáo dục.
Ngày nay, đất nước đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, công
tác GDQPAN càng phải được tăng cường và củng cố hơn nữa, nhằm tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân đối với sự nghiệp quốc phòng an ninh, xây dựng và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam XHCN. Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có sự
đầu tư, đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực GDQPAN. Điều đó đã được cụ thể hóa
không chỉ ở các Nghị định, Thông tư, văn bản chỉ thị, hướng dẫn về GDQPAN,
mà hơn thế nữa ngày 19/6/2013 Quốc Hội đã thông qua Luật số:
30/2013/QH13, Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, Luật có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/01/2014 [32]. Điều này càng khẳng định rõ vị thế của môn
học GDQPAN.
3
QTDH GDQPAN tại các Trung tâm GDQPAN nói chung và Trung tâm
GDQPAN, ĐHQGHN nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
GDQPAN là một nội quan trọng trong chiến lược giáo dục đối với
HSSV nói riêng và đối với thế hệ trẻ nói chung nhằm xây dựng con người
toàn diện cho các thế hệ tương lai của đất nước để sẵn sàng xây dựng và bảo
vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN. Trải qua hơn 50 năm, môn học huấn
luyện quân sự phổ thông đã được đưa vào dạy học cho HSSV từ bậc THPT
đến ĐHCĐ. Trong những năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu, bài
viết về vai trò của giáo dục quốc phòng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Tiêu biểu là công trình của các tác giả: Nguyễn Nghĩa, “Một số vấn đề nâng
cao chất lượng GDQP cho cán bộ, học sinh, sinh viên”, Tạp chí Khoa học
quân sự, số 11/2000; Lê Doãn Thuật, “GDQP trong các trường đại học và cao
đẳng - bốn vấn đề bức xúc cần tháo gỡ từ sở”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân
số 01/2002; Hoàng Văn Tòng, “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo
dục quốc phòng – an ninh cho học sinh trung học phổ thông”, Tạp chí Quốc
phòng toàn dân, (Số 8 – 2008), tr.79; Trần Đăng Thanh, Giáo dục lòng yêu
nước – Một nội dung quan trọng trong giáo dục quốc phòng cho học sinh sinh
viên, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 03/2005; Đinh Trọng Tuấn, “Biện
pháp quản lý hoạt động dạy học cho sinh viên tại Trung tâm Giáo dục Quốc
phòng an ninh Hà nội 1” năm 2009. Tôn Bảo, “Xây dựng nền quốc phòng –
an ninh vững mạnh – Nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn hiện nay” năm
2012. Nguyễn Thiện Minh, “Đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng – an
ninh cho học sinh, sinh viên trong tình hình mới” năm 2013. Đỗ Bá Tỵ, “Đẩy
mạnh công tác giáo dục quốc phòng và an ninh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ
quốc” năm 2014. Nguyễn Thiện Minh, “Tăng cường giáo dục quốc phòng và
an ninh cho học sinh, sinh viên trong tình hình hiện nay” năm 2016. Nguyễn
Duy Nguyên, “Tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng và an ninh
thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
6
QTDH, các giải pháp mà các tác giả quan tâm thực hiện như: Xây dựng kế
hoạch; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên, tổ chức chỉ
đạo chặt chẽ các khâu các bước của QTDH và đổi mới kiểm tra đánh giá kết
quả dạy học.
Những công trình nghiên cứu và các bài viết trên đã thể hiện tầm quan
trọng của công tác GDQPAN cho cán bộ, HSSV các trường chính trị, hành
chính, đoàn thể, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy
nghề và THPT đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Nhìn chung đây là những công trình nghiên cứu góp phần làm giàu tri thức
chuyên ngành QLGD. Đồng thời những nghiên cứu này đã và đang góp phần
vận dụng những hiểu biết về quản lý, QLGD vào công tác quản lý quá trình
dạy học GDQPAN đối với cán bộ, giảng viên và sinh viên nhằm góp phần
nâng cao chất lượng công tác GDQPAN. Mặc dù vậy, vẫn chưa có đề tài nào
tập trung đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống công tác quản lý quá trình
dạy học ở Trung tâm GDQPAN, Đại học Quốc gia Hà Nội. Do đó, tác giả đã
lựa chọn đề tài này với mong muốn đề xuất được một số biện pháp quản lý
quá trình dạy học, hướng tới nâng cao chất lượng dạy học GDQPAN ở
Trung tâm trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu khái quát những vấn đề lý luận và làm rõ thực trạng quản
lý quá trình dạy học, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp quản lý QTDH ở
Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất
lượng giáo dục đào tạo ở Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN trong giai đoạn
hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
sinh viên. Đồng thời, đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm của Phép biện
chứng, quan điểm hệ thống - cấu trúc (xem xét đối tượng nghiên cứu coi đó
như một hệ thống được cấu trúc bởi các thành phần có mối quan hệ tác động
8
qua lại với nhau có cấu trúc thứ bậc. Hệ thống đó luôn vận động và phát triển
trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định), quan điểm lịch sử - lôgic, quan
điểm thực tiễn để nghiên cứu, phân tích những vấn đề liên quan.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu lý thuyết và
thực tiễn như:
- Tìm hiểu các khái niệm, thuật ngữ, tài liệu lý luận có liên quan đến
quá trình dạy học, quản lý quá trình dạy học.
- Nghiên cứu các văn bản (chỉ thị, quyết định, quy chế …) của Bộ
GD&ĐT, ĐHQGHN có liên quan đến quá trình dạy học, quản lý quá trình
dạy học.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu đối với một số
đối tượng là sinh viên, cán bộ lãnh đạo quản lý, giảng viên ở trung tâm
GDQPAN, ĐHQGHN.
- Điều tra bằng bảng hỏi: Tiến hành nghiên cứu lấy phiếu điều tra dành
cho các đối tượng là cán bộ quản lý, giảng viên trực tiếp dạy học và sinh viên
đã học ở Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN.
- Phương pháp quan sát, tổng kết thực tiễn.
- Phương pháp thống kê toán học: áp dụng xử lý các kết quả điều tra.
7. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài: “Quản lý quá trình dạy học ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và
An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội” đã làm rõ cả về lí luận và thực trạng về
công tác quản lý QTDH ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh, Đại
học Quốc gia Hà Nội. Đề tài đã đề xuất được những biện pháp quản lý phù
nhằm giúp cho người học lĩnh hội những tri thức khoa học, kỹ năng hoạt động
nhận thức và thực tiễn, phát triển năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó
hình thành thế giới quan, phẩm chất nhân cách của người học theo mục tiêu
giáo dục.
Mục tiêu giáo dục là một hệ thống các chuẩn mực của một mẫu hình
nhân cách cần hình thành ở một đối tượng người được giáo dục nhất định. Đó
là một hệ thống cụ thể các yêu cầu xã hội trong mỗi thời đại, trong từng giai
đoạn xác định đối với nhân cách một loại đối tượng giáo dục. Do đó, mục tiêu
giáo dục phụ thuộc vào mỗi thời kỳ nhất định của quá trình phát triển xã hội
và mỗi giai đoạn của quá trình giáo dục con người.
Dạy học được diễn ra chủ yếu trong nhà trường giúp học sinh tiếp thu
những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại của nhân loại, hình thành những
kỹ năng, kỹ xảo và những năng lực, phẩm chất trí tuệ cần thiết của người
công dân, dạy học cũng là con đường cơ bản để hình thành thế giới quan khoa
học, phẩm chất đạo đức và phát triển nhân cách học sinh.
Theo tác giả Hà thế Truyền: “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các
thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực
tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần,
các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để
11
trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong
toàn bộ cuộc sống của mỗi người học” [38, tr.21].
Trong nhà trường, hoạt động dạy học hướng tới thực hiện mục tiêu giáo
dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức,
sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng
lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động chủ động tích cực nhận thức và
cải biến hiện thực khách quan. Hoạt động học có chức năng lĩnh hội, tiếp thu
thông tin dạy của thầy và tự chỉ đạo, điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái
niệm của mình một cách tự giác, chủ động, tích cực, tự lực [23, tr.7].
Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học: Hoạt động dạy và học mang
tính chất hai chiều, đó là hai mặt của một quá trình luôn tác động qua lại và bổ
xung cho nhau, phối hợp chặt chẽ thống nhất biện chứng với nhau giữa người
dạy và người học. Hoạt động dạy và học diễn ra trong những điều kiện xác định,
trong đó hoạt động dạy đóng vai trò chủ đạo, điều khiển, hướng dẫn, hoạt động
học đóng vai trò chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo, nhằm đạt hiệu quả theo
mục tiêu giáo dục đã xác định; đó là phát triển nhân cách người học đáp ứng yêu
cầu của xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Có thể khái quát HĐDH luôn
thể hiện mối quan hệ biện chứng của hai hoạt động dạy của giáo viên và hoạt
động học của học sinh; giữa truyền đạt và điều khiển trong dạy; giữa lĩnh hội và
tự điều khiển trong học.
QTDH là một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù. Xét về
bản chất, QTDH có thể hiểu như sau: QTDH là quá trình nhận thức độc đáo
của HSSV nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Quá trình đó luôn vận
động và phát triển theo những quy luật nhất định. Hoạt động nhận thức được
tiến hành trong QTDH với những điều kiện sư phạm nhất định có sự hướng
dẫn, tổ chức, điều khiển của giáo viên thông qua việc lựa chọn nội dung,
13
phương pháp và các hình thức dạy học phù hợp để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ
của QTDH với sự hợp tác chủ động, tích cực của người học nhằm đảm bảo
chất lượng và hiệu quả dạy học theo mục tiêu đã định.
Nội dung của QTDH là nội dung của các quá trình bộ phận hợp
thành QTDH. Các quá trình bộ phận này có những mục tiêu, nhiệm vụ
riêng nhưng tất cả đều phải đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo
trách.
Mục tiêu giáo dục quốc phòng và an ninh: Giáo dục cho công dân về
kiến thức quốc phòng và an ninh để phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống
dựng nước và giữ nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức, trách
nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam XHCN [32].
- QTDH môn GDQPAN cho sinh viên được thể hiện ở các mục tiêu cơ
bản như sau:
+ Về kiến thức: Có kiến thức cơ bản về đường lối quân sự của Đảng
trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; các quan điểm của Đảng về xây dựng nền
quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân nhân, an ninh nhân dân; đấu tranh,
phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực
thù địch với cách mạng Việt Nam trong tình hình mới.
+ Về kĩ năng: Thuần thục trong thao tác các kỹ năng quân sự cần thiết,
biết sử dụng một số loại vũ khí bộ binh, thành thạo trong sử dụng súng tiểu
liên AK (CKC).
+ Về thái độ: Rèn luyện phẩm chất, bản lĩnh chính trị vững vàng,
yêu nước, yêu yêu chủ nghĩa xã hội; xây dựng tác phong nhanh nhẹn; hình
thành nếp sống có kỷ luật trong sinh hoạt tập thể, ý thức cộng đồng ở
trường, lớp và khi ra công tác.
Những yêu cầu giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh:
Tiến hành đồng bộ bằng nhiều hình thức, nội dung phù hợp với từng đối
15
tượng; xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy thống nhất bảo
đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực và có hệ thống.
Nguyên lý giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh: Thực
hiện đúng đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, chính sách, pháp luật của
“quản” thì tổ chức dễ trì trệ, còn chỉ “lý” thì tổ chức phát triển không bền
vững, không có hệ thống. Do đó, trong “quản” phải có “lý” và ngược lại để
làm cho tổ chức ở trạng thái cân bằng động, phù hợp, thích ứng và hiệu quả
trong mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên
ngoài tổ chức.
Theo từ điển Giáo dục học Việt Nam: “Quản lý là hoạt động hay tác động
có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể
quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và
đạt được mục đích của tổ chức” [42, tr.326].
Theo H.Koontz (Người Mỹ): Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm
đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các cá nhân để đạt được mục đích của
nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó
con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất
và sự bất mãn cá nhân ít nhất [26, tr.46].
Theo F.W. Taylor: “Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác
làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ
nhất” [24, tr.12].
H.Fayol (1841-1925) coi quản lý là một loại công việc đặc thù, ông đã nói
về nội hàm của khái niệm như sau: "quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ
huy, phối hợp và kiểm tra". Fayol còn chứng minh được rằng khoa học quản lý "quản lý hành chính", không những cần thiết cho các các tổ chức công nghiệp và
hãng kinh doanh mà có thể áp dụng với mọi loại hình tổ chức, kể cả cơ quan của
Chính phủ vì quản lý ở một tổ chức đều có chung những chức năng trên.
M.T.Follet (1868-1933) cho rằng trong công việc quản lý cần chú trọng
tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn
17
yếu tố tinh thần và tình cảm. Theo Bà "Quản lý là nghệ thuật khiến cho công
việc được thực hiện thông qua người khác".
C.I.Bamard (1886 - 1961) quan tâm đến đối tượng quản lý là các cá
của hệ thống nếu tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tổ chức quản lý.
Chỉ đạo có nguồn gốc từ hai thuật ngữ: lãnh đạo và điều hành.
Chỉ đạo vừa có ý nghĩa chỉ thị để điều hành, vừa là tác động ảnh hưởng
tới hành vi, thái độ của các thành viên trong tổ chức trên cơ sở sử dụng đúng
các quyền lực của người quản lý.
Chỉ đạo là quá trình tác động, gây ảnh hưởng đến thành viên trong tổ
chức để công việc của họ làm hướng tới các mục tiêu chung đề ra. Nhà quản
lý phải có khả năng truyền đạt và thuyết phục các mục tiêu cho nhân viên và
thúc đẩy họ đạt được mục tiêu bằng nhiều con đường, biện pháp khác nhau.
Chỉ đạo là một chức năng quan trọng trong công tác quản lý nói chung,
quản lý nhà trường nói riêng. Công tác chỉ đạo quản lý của mỗi cấp học phụ
thuộc vào mục tiêu của cấp học đó. Mục tiêu quản lý nhà trường phải được
xác định trên cơ sở nhiệm vụ của nhà trường và xuất sứ tình hình thực tế nhà
trường. Từ nhiệm vụ đó xác định rõ mục tiêu quản lý cho từng giai đoạn phát
triển của nhà trường. Để đạt được mục tiêu quản lý nhà trường người quản lý
nhà trường phải thể hiện vai trò của người quản lý biến trạng thái hiện tại của
nhà trường sang trạng thái mục tiêu.
Nhiệm vụ của người quản lý khi thực hiện chức năng chỉ đạo là: Ra
quyết định, thông báo truyền đạt quyết định, hướng dẫn động viên giúp đỡ
cấp dưới thực hiện quyết định, hướng dẫn điều chỉnh những lệch lạc sai sót
xuất hiện trong quá trình thực hiện huấn luyện cán bộ và nhân viên dưới
quyền.
Sự chỉ đạo trong nhà trường phải đảm bảo các nguyên tắc:
Nguyên tắc đảm bảo quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước trong nhà
trường là quản lý bằng Pháp luật, điều lệ, quy định, quy chế.
Nguyên tắc xác định trách nhiệm cá nhân: Trong công tác quản lý nhà
trường, quản lý dạy học là quan trọng nhất. Đề xác định trách nhiệm của giáo
20
trong trường học. Quá trình thực hiện các chức năng tổng hợp, phát triển nhân
cách, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài’’[30, tr.41].
“Quản lý quá trình dạy học là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm
cho QTDH vận hành theo đường lối của Đảng và pháp luật của
Nhà nước, thực hiện những yêu cầu của nền giáo dục xã hội
trong việc đào tạo con người theo mẫu người của thời đại, phát
triển đồng đều các yếu tố của QTDH, tập trung vào hoạt động
dạy học, vào giáo dục, đưa hệ vận động từ trạng thái ban đầu
đến trạng thái mục tiêu xác định”.
- Mục tiêu của quản lý quá trình dạy học
Mục tiêu quản lý là trạng thái được xác định trong tương lai của đối
tượng quản lý hay một số yếu tố cấu thành nào đó. Nói cách khác, mục tiêu
quản lý là những kết quả mà chủ thể quản lý dự kiến sẽ đạt được do quá trình
vận động của đối tượng quản lý dưới sự điều khiển của chủ thể quản lý thông
qua các công cụ quản lý.
- Đối tượng của quản lý quá trình dạy học
Toàn bộ các yếu tố của QTDH nhưng chủ yếu là sự hoạt động của
giảng viên, HSSV và các tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực
hiện các kế hoạch và chương trình dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học đã qui
định với chất lượng cao. Đối tượng của quản lý QTDH có thể được coi như
một hệ thống mang tính xã hội bao gồm bốn thành tố:
Tư tưởng (quan điểm, chủ trương, chính sách, chế độ…)
Con người (giảng viên, sinh viên)
Hoạt động (việc học, việc dạy)
Vật chất (phòng học, thao trường, bãi tập, thư viện, nhà kho, trang thiết
bị, nguyên vật liệu)
22
hiện tốt nhiệm vụ dạy của giảng viên, học của sinh viên, từ đó đạt được mục
tiêu quản lý QTDH đã xác định. Điều đó được thể hiện trên sáu mặt
Một là, mục đích quản lý QTDH nhằm đảm bảo, giữ vững và nâng cao
chất lượng dạy học GDQPAN của Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN
Hai là, chủ thể quản lý QTDH là Cấp uỷ, BGĐ Trung tâm GDQPAN,
ĐHQGHN, Phòng Đào tạo & Quản lý sinh viên, Phòng Hành chính tổ chức,
Phòng Hậu Cần, Kỹ thuật, Khoa Quân sự, Khoa Chính trị và chính bản thân
đội ngũ giảng viên, sinh viên.
Ba là, đối tượng quản lý QTDH là giảng viên và sinh viên, chịu sự tác
động, điều khiển của chủ thể quản lý. Như vậy, giảng viên và sinh viên vừa là
chủ thể vừa là khách thể trong hệ thống quản lý.
Bốn là, nội dung quản lý QTDH chính là quản lý việc thực hiện tốt các
thành tố của quá trình dạy học. Đó là quản lý thực hiện tốt mục tiêu chương trình,
nội dung, kế hoạch dạy học; quản lý hoạt động dạy của giảng viên; quản lý hoạt
động học của sinh viên; quản lý tốt các điều kiện bảo đảm cho QTDH. Đồng thời
quản lý tốt việc kiểm tra, đánh kết quả dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy
học, đạt được mục đích quản lý của Trung tâm đã xác định.
Năm là, phương pháp quản lý QTDH phong phú, đa dạng, bao gồm
toàn bộ những cách thức, biện pháp tác động, điều khiển của chủ thể quản lý
đến đối tượng quản lý bằng hệ thống công cụ, phương tiện nhằm đạt được
mục tiêu quản lý đã xác định. Việc xác định phương pháp quản lý QTDH phải
đảm bảo tính khoa học, thống nhất, khả thi, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
của giảng viên, đặc điểm hoạt động học của sinh viên, tăng cường hiệu quả
quản lý nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp, trong đó phương pháp quản lý hành
chính quân sự, phương pháp giáo dục - tâm lý, phương pháp kích thích là
những phương pháp chủ đạo, được sử dụng phổ biến.
Sáu là, công cụ quản lý QTDH là toàn bộ hệ thống văn bản như: Luật
Giáo dục, Luật Giáo dục Đại học; Luật GDQP-AN; Quy chế GDĐT của
24
25
GDQPAN phải xây dựng kế hoạch điều hành chung để đảm bảo cân đối cho
các hoạt động, trong đó có việc thực hiện chương trình môn học
* Quản lý hoạt động dạy của giảng viên
Quản lý hoạt động dạy môn GDQPAN thực chất là quản lý nhiệm vụ
giảng dạy của đội ngũ giảng viên. Thầy truyền đạt cho trò kiến thức cơ bản về
đường lối quốc phòng, an ninh và công tác quản lý nhà nước về quốc phòng,
an ninh; về truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc,về nghệ thuật
quân sự Việt Nam; về chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các
thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam, đồng thời với đó là hệ thống kỹ
năng quân sự cần thiết đáp ứng yêu cầu xây dựng, củng cố nền quốc phòng
toàn dân, an ninh nhân dân, sẵn sàng bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN và
những giá trị về tư tưởng, phẩm chất khác. Đồng thời thầy có nhiệm vụ luôn
trau dồi, rèn luyện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao chất lượng giảng
dạy của mình. Trong quá trình GD&ĐT, giảng viên vừa là đối tượng quản lý,
vừa là chủ thể quản lý của hoạt động dạy. Quản lý hoạt động dạy môn
GDQPAN bao gồm:
Quản lý việc lập kế hoạch công tác giảng dạy của giảng viên
Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp của giảng viên
Quản lý việc sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học của giảng viên
Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Quản lý việc tự học, tự bồi dưỡng của giảng viên
* Quản lý hoạt động học của sinh viên
Quản lý sinh viên học tập GDQPAN thực hiện như sinh viên học các
môn học khác; song do tính chất đặc thù của môn học nên sinh viên học
môn GDQPAN vừa học tập lĩnh hội kiến thức vừa rèn luyện lễ tiết, tác
phong, tính kỷ luật... gần như trong môi trường quân đội .
Quản lý sinh viên học tập GDQPAN: sinh viên phải nghiêm chỉnh
b) Học sinh, sinh viên là nữ đang mang thai hoặc trong thời gian nghỉ
chế độ thai sản theo quy định hiện hành.
27