HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
&
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
Tình huống: “Giải quyết khiếu nại đông người đòi lại đất của các hộ đồng bào
dân tộc thiểu số tại xã N, thành phố K, tỉnh KT”
Họ và tên: ………………..
Chức vụ: …………………
Đơn vị công tác: ……………………………………………..
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên chính.
Kon Tum, Năm 2014
1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai thì việc tranh chấp đất
đai, khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết các vấn đề về đất đai là một trong
những lĩnh vực hết sức phức tạp, nhạy cảm. Khiếu kiện đất đai là một hiện
tượng xảy ra phổ biến trong xã hội, chiếm tỉ lệ cao trong tổng số vụ việc
khiếu nại, tố cáo ở các cấp hiện nay. Đặc biệt khi nước ta chuyển đổi sang
nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý mới bằng việc
trả lại đất đai những giá trị vốn có thì tranh chấp đất đai phát sinh có xu
hướng ngày càng tăng cả về số lượng, cũng như tính chất phức tạp về mặt
nội dung.
Khiếu kiện đất đai kéo dài với số lượng ngày càng đông người dân
tham gia thì lại là vấn đề rất đáng quan tâm. Tìm hiểu nguyên nhân nảy
sinh để đề ra các biện pháp giải quyết phù hợp, nhằm “tháo gỡ ngòi nổ”
xung đột không để phát sinh trở thành “điểm nóng” gây mất ổn định chính
với Đảng và Nhà nước.
Nhận thức được vấn đề trên và qua thời gian tham gia tiếp thu những
kiến thức về quản lý Nhà nước do các thầy giáo, cô giáo truyền đạt. Để
nâng cao hiểu biết trong việc nghiên cứu, vận dụng những kiến thức đã
được truyền đạt vào trong thực tế cuộc sống. Đồng thời, xuất phát từ thực
tiễn tình hình tranh chấp, khiếu nại liên quan đến việc đòi lại đất trên địa
bàn thành phố KT. Tôi xin đưa ra tình huống “Giải quyết khiếu nại đông
người đòi lại đất của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại xã N, thành
phố K, tỉnh KT”.
Thông qua tình huống, để cùng phân tích và lựa chọn một phương án
giải quyết tối ưu nhất dưới góc độ nghiên cứu lý luận về quản lý Nhà nước,
nhằm giải quyết vụ việc nêu trên một cách chặt chẽ, giải quyết vụ việc
khiếu kiện có lý có tình trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm đảm
bảo quyền và lợi ích của các bên liên quan.
3
I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG.
1. Hoàn cảnh xuất hiện tình huống:
Xã N nằm ở phía Tây thành phố K có tổng số 06 thôn, làng với 5.252
nhân khẩu, trong đó có 05 thôn, làng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) với
3.724 nhân khẩu, chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp. Điều kiện kinh tế khó
khăn, trình độ dân trí thấp so với mặt bằng chung của thành phố K; sản
xuất tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống hầu như chưa phát
triển; việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào trong sản
xuất còn chậm... do đó, đời sống của bà con đồng bào DTTS nơi đây gặp
rất nhiều khó khăn.
Trong những năm qua, được quan tâm đầu tư, hỗ trợ từ các chương
trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình 132, 168, 135, các dự án: đào
- Sau khi các hộ có đơn khiếu nại, UBND xã N đã tiến hành làm việc
và giải quyết khiếu nại của các hộ thể hiện tại các Biên bản ngày 29/8/1995
đối với 13 hộ và Biên bản ngày 20/9/1995 đối với 24 hộ khiếu nại. Tuy
nhiên, vụ việc khiếu nại của các hộ đồng bào DTTS không được UBND xã
N giải quyết dứt điểm (Không bố trí được đất sản xuất, không chi trả tiền
công khai hoang cho các hộ theo Biên bản giải quyết khiếu nại) .
- Đến năm 2010, số hộ này dân tiếp tục làm đơn khiếu nại gửi đến
UBND thành phố K yêu cầu giải quyết với lý do: “Năm 1995, xã N có giải
quyết đất sản xuất cho 05 hộ, nhưng diện tích đất xã cấp cho chúng tôi đã
có người khác sử dụng nên chúng tôi không sử dụng được từ đó cho đến
nay. Nguyện vọng của chúng tôi là đề nghị UBND thành phố K xem xét, trả
lại đất cũ tại thôn Đ, xã N để sản xuất và ổn định đời sống ”. Đồng thời,
thường xuyên đến Trụ sở tiếp dân của UBND thành phố K và tỉnh KT để
phản ánh, yêu cầu giải quyết đối với những nội dung đã khiếu nại và gửi
đơn đến Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước để yêu
cầu giải quyết.
UBND thành phố K đã chỉ đạo cơ quan chức năng, phối hợp với
UBND xã N tổ chức đối thoại nhiều lần, làm việc trực tiếp và đưa ra nhiều
phương án giải quyết, nhưng các hộ vẫn không thống nhất và tiếp tục khiếu
nại yêu cầu giải quyết trả lại đất cho các hộ.
II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG, NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ.
1. Phân tích diễn biến tình huống:
Đây là vụ việc khiếu kiện có tình tiết hết sức phức tạp, xảy ra từ rất
lâu và kéo dài, các cấp các ngành đã xem xét, giải quyết nhưng chưa thỏa
đáng và triệt để. Để xác định chính xác bản chất vụ việc, trước hết phải xác
đây là vụ việc khiếu nại Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất
đai. Trong vụ việc khiếu nại nêu trên có các chủ thể chính sau đây:
1.1. UBND thành phố K: Vào khoảng năm 1992-1993, tiến hành quy
hoạch toàn bộ diện tích đất do các hộ đồng bào DTTS khai hoang để trồng
dâu, nhưng sau đó không thực hiện. UBND thành phố K thu hồi đất của các
1.4. Các hộ đồng bào DTTS khiếu nại đòi lại đất:
Nguồn gốc đất là do các hộ khai hoang trước đây, nhưng UBND
thành phố K thu hồi và giao đất cho người khác quản lý, sử dụng. Sau khi
các hộ có đơn khiếu nại, UBND xã N đã giải quyết nhưng không dứt điểm.
Trong một thời gian dài từ năm 1995 đến năm 2010 (kể cả khi Nhà nước
cấp Giấy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho các Hợp đồng thuê đất
vào năm 1999), các hộ vẫn không có ý kiến hoặc khiếu nại. Đến cuối năm
2010, các hộ mới tiếp tục làm đơn khiếu nại yêu cầu giải quyết trả lại đất
sản xuất là thiếu hiểu biết các quy định của pháp luật nói chung và pháp
luật về khiếu nại nói riêng.
2. Nguyên nhân và hậu quả:
Vụ việc các hộ đồng bào DTTS ở xã N khiếu nại đông người đòi lại
đất kéo dài, phức tạp xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Đối tượng khiếu nại là người đồng bào DTTS có trình độ dân trí
thấp, nhận thức của người dân về chính sách, pháp luật đất đai và pháp luật
về khiếu nại nhìn chung còn nhiều hạn chế, trong khi việc tuyên truyền,
phổ biến pháp luật của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt. Những năm
gần đây được sự quan tâm của Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
6
nên diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hẹp, bên cạnh đó đất đai ngày
càng có giá trị , đã dẫn đến việc khiếu nại để đòi lại đất của gia đình trước
đây khai hoang, sản xuất.
- Đội ngũ cán bộ, công chức (đặc biệt là cấp xã) năng lực còn hạn
chế, chưa thực sự am hiểu chính sách, pháp luật về đất đai dẫn đến áp dụng
các quy định của pháp luật chưa chính xác, không phù hợp với điều kiện
thực tế. Năng lực tham mưu trong tác tác quản lý đất đai còn nhiều yếu
kém (thu hồi đất, giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không
đúng quy định của pháp luật), thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết
7
Từ những vấn đề đã phân tích ở trên, mục tiêu của việc xử lý là phải
giải quyết dứt điểm việc khiếu nại đông người của các hộ dân đồng bào
DTTS thôn Đ, xã N là có giải pháp giải quyết đất sản xuất, tạo công ăn
việc làm để các hộ đồng bào DTTS sớm ổn định cuộc sống. Đồng thời, tạo
điều kiện để các hộ đã hợp đồng thuê đất trồng cây cà phê, tiếp tục được
khai thác sản phẩm cho đến hết chu kỳ kinh doanh cây cà phê (chu kỳ kinh
doanh của cây cà phê là 20 năm).
IV. XÂY DỰNG VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT.
Quá trình nghiên cứu, xem xét, phân tích tài liệu có liên quan và kết
quả xác minh có trong hồ sơ, có thể khẳng định rằng việc khiếu nại của các
hộ đồng bào DTTS dòi lại đất tại thôn Đ, xã N, thành phố KT là không có
cơ sở để xem xét trả lại đất theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai
năm 2003. Cụ thể tại Khoản 2 Điều 10 Luật đất đai quy định: “ 2. Nhà nước
không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước
cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời
Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.”.
Tuy nhiên, để giải quyết nội dung khiếu nại các cấp các ngành của
thành phố K đã đề xuất nhiều phương án giải quyết, trong đó có tính đến
việc hỗ trợ tiền công khai hoang, hỗ trợ ổn định cuộc sống cho các hộ
khiếu nại nhưng các bên liên quan không đồng ý với hướng giải quyết. Các
hộ khiếu nại kiên quyết đòi lại đất với lý do thiếu đất sản xuất, không có
nơi ở để ổn định cuộc sống.
Từ những cơ sở nêu trên, để giải vụ việc khiếu nại có lý có tình trên
cơ sở các quy định của pháp luật, đề xuất các phương án giải quyết như
- Xem xét, tính toán hỗ trợ tiền công khai hoang cho các hộ khiếu
nại, có xét đến việc hưởng lợi do đất mang lại trong 20 năm (chu kỳ kinh
doanh cây cà phê). Việc tính toán vận dụng quy định tại khoản 1, điều 4
Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/1994 của Thủ tướng Chính phủ
và căn cứ vào Hợp đồng thuê đất để tính toán giá trị hưởng lợi do đất mang
lại. Đồng thời, vận dụng điểm b, khoản 1, Điều 20 Nghị định 69/2009/NĐCP ngày 13/8/2009 của Chính phủ để tính toán hỗ trợ ổn định đời sống cho
các hộ (Nguồn kinh phí: Sử dụng một phần Ngân sách nhà nước chi trả
tiền công khai hoang và một phần kinh phí vận động các hộ thuê đất đóng
góp để chi trả tiền hỗ trợ ổn định đời sống).
3. Lựa chọn phương án giải quyết:
Trên cơ sở các quy định của pháp luật về đất đai, với các phương án
giải quyết nêu trên về cơ bản đều đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên có liên quan (Cơ quan quản lý Nhà nước, các hộ khiếu nại, các hộ
nhận hợp đồng thuê đất trồng cây cà phê). Tuy nhiên xét trên phương diện
lý luận cũng như về mặt thực tiễn, tính khả thi của từng phương án, chúng
ta có thể nhận thấy Phương án 1 là tối ưu nhất, có tính khả thi cao hơn.
Nhất là sau khi Chủ tịch UBND thành phố K ban hành và tổ chức thực hiện
các Quyết định giải quyết khiếu nại, bởi các lý do sau đây:
Một là, các hộ khiếu nại được xem xét bố trí ngay đất để sản xuất,
xây dựng nhà ở, ổn định cuộc sống đúng theo nguyện vọng của các hộ đề
nghị. Phương án này giải quyết ngay được vấn đề thiếu đất cho các hộ
khiếu nại, không đợi đến khi hết chu kỳ kinh doanh cây cà phê mới xem
xét bố trí đất như Phương án 2.
9
Hai là, giải quyết căn bản vụ việc khiếu nại, không để thời gian kéo
dài, không phát sinh, tạo nên “điểm nóng” góp phần ổn định tình hình
chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
- Lập thủ tục trình UBND thành phố K thu hồi, hủy bỏ các Giấy
chứng nhận Quyền sử dụng đất đã cấp cho các hộ thuê đất không đúng quy
định năm 1999.
10
- Chủ trì phối hợp với UBND xã N lập thủ tục trình UBND thành phố
K quyết định giao đất và tổ chức giao đất ngoài thực địa cho các hộ khiếu
nại tại thôn M, xã N, thành phố K theo quy định hiện hành.
Thời gian: 20 ngày
Tổng thời gian thực hiện Phương án giải quyết là 42 ngày.
2.2. UBND xã N:
- Lập hồ sơ, sổ sách về đất đai để đưa toàn bộ phần diện tích các hộ
thuê đất năm 1995 vào quỹ đất công ích (%) của xã theo đúng trình tự, thủ
tục và tổ chức quản lý, sử dụng theo đúng theo quy định của pháp luật.
Trước mắt cho các hộ thuê đất trồng cây cà phê đến hết chu kỳ (Năm
2015).
- Tổ chức kiểm tra, đôn đốc người khiếu nại, các hộ hợp đồng thuê
đất thực hiện nghiêm túc Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch
UBND thành phố K.
- Thời gian: 15 ngày
3. Bước 3: Báo cáo kết quả thực hiện Quyết định.
Thanh tra thành phố có trách nhiệm tổ chức theo dõi việc thực hiện
Quyết định giải quyết khiếu nại, báo cáo Chủ tịch UBND thành phố K.
Thời gian: 02 ngày.
Tổng thời gian tổ chức thực hiện Phương án giải quyết: 42 ngày
VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
Hiện nay, khiếu kiện về đất đai đang là vấn đề nổi cộm, bức xúc
trong xã hội, chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số đơn thư khiếu nại, tố cáo. Đó là
- Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, thanh
tra về quản lý, sử dụng đất đai, phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những yếu
kém, sai phạm, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm . Nâng cao chất
lượng, hiệu quả giải quyết tranh chấp, khiếu kiện của nhân dân liên quan
đến đất đai. Đồng thời đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
trách nhiệm giải quyết tranh chấp, khiếu kiện của các cơ quan có thẩm
quyền.
- Thực hiện tốt công tác tiếp dân, đối thoại với công dân để khi giải
quyết đảm bảo chính xác, khách quan có tình, có lý và có tính thuyết phục
cao. Nắm chắc tình hình tranh chấp, khiếu kiện trong phạm vi quản lý của
ngành, địa phương mình để kịp thời giải quyết, nhất là những vụ khiếu kiện
đông người; việc giải quyết phải được thực hiện ngay từ cơ sở, hạn chế
khiếu nại vượt cấp; không để vụ việc diễn biến phức tạp trở thành khiếu
kiện đông người.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao
nhận thức, hiểu biết về pháp luật cho công dân để họ thực hiện quyền khiếu
nại, tố cáo đúng quy định của pháp luật nhằm góp phần giữ vững an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
xã hội ở địa phương.
- Thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về kiến
thức, kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời chú trọng hơn đến công tác rèn luyện
phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý đất
đai và giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về đất đai./.
12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Đất đai năm 1993;
2. Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, ban hành Bản
13. Hồ sơ, tài liệu vụ việc khiếu nại.
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Trang 1
I. Mô tả tình huống
Trang 3
II. Phân tích tình huống, nguyên nhân và hậu quả
Trang 4
III. Mục tiêu xử lý tình huống
Trang 6
14
IV. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án
Trang 6
V. Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án giải quyết
Trang 8