BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Chữ viết đầy đủ
Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
Đảng cộng sản Việt Nam
Doanh nghiệp nông nghiệp
Hội đồng nhân dân
Kinh tế - xã hội
Kinh tế thị trường
Lực lượng sản xuất
Tổng sản phẩm quốc nội
Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Uỷ ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
Chữ viết tắt
CNH, HĐH
13
13
triển doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà
Nội
Chương 2: THỰC
TRẠNG
PHÁT
TRIỂN
DOANH
26
NGHIỆP NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
2.1.
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành tựu, hạn chế trong phát triển doanh nghiệp nông
nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.2.
38
38
78
95
97
101
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hà Nội, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và là thủ đô của cả nước có vị
trí địa lý thuận lợi, có nhiều tiềm năng và lợi thế về phát triển nông nghiệp hàng
hóa. Nông nghiệp Hà Nội sẽ phát triển theo hướng CNH, HĐH. Nông nghiệp vẫn
là ngành sản xuất quan trọng bảo đảm nhu cầu lương thực cơ bản của Nhân dân
Thủ đô góp phần ổn định và thúc đẩy KT - XH phát triển. Trong điều kiện phát
triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển nông nghiệp ở Hà Nội đòi
hỏi sự tham gia của nhiều hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của nhiều thành
phần kinh tế trong đó có DNNN.
Doanh nghiệp Hà Nội ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển
nông nghiệp hàng hóa nói riêng và phát triển KT - XH của Thành phố nói chung.
Thời gian qua, được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước mà trực tiếp là
Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện
pháp, khuyến khích đẩy mạnh phát triển DNNN; khuyến khích cá nhân, tổ chức
và mọi thành phần kinh tế tham gia các dịch vụ hỗ trợ đầu vào và đầu ra cho sản
xuất nông nghiệp; áp dụng cơ chế, chính sách phù hợp với cơ chế thị trường; đa
dạng hoá và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho phát triển DNNN; đầu
tư, ưu đãi ngày càng nhiều hơn cho các doanh nghiệp tham gia sản xuất, kinh
doanh nông nghiệp. Nhiều loại hình DNNN đã đi vào hoạt động như: doanh
nghiệp sản xuất, kinh doanh vật tư, máy móc nông nghiệp; doanh nghiệp sản xuất,
kinh doanh phân bón, thức ăn chăn nuôi và thuốc bảo vệ thực vật; doanh nghiệp
một trong những vấn đề cần quan tâm giải quyết là phát triển DNNN. Xuất
phát từ lý do đó, tác giả lựa chọn vấn đề: “Phát triển doanh nghiệp nông
nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phát triển DNNN là vấn đề rất quan trọng đối với sự phát triển KT XH của đất nước nói chung; nông nghiệp hàng hóa nói riêng nên trong thời
gian qua vấn đề phát triển DNNN được nhiều cấp, nhiều ngành và nhiều tác
4
giả quan tâm nghiên cứu, trong đó nổi lên một số công trình khoa học tiêu
biểu liên quan là:
* Nghiên cứu về phát triển nông nghiệp nói chung
Đặng Kim Sơn (2008),“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam
- Hôm nay và mai sau”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Trong công trình
nghiên cứu này, tác giả Đặng Kim Sơn đã đề cập đến phát triển nông nghiệp
hàng hóa theo hướng bền vững dưới góc độ an ninh lương thực quốc gia và
phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, trong đó có đề cập đến phát
triển DNNN.
Đặng Kim Sơn (2012), “Tái cơ cấu nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng
giá trị tăng cao”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trong cuốn sách, tác giả đã làm
rõ những đóng góp của nông nghiệp Việt Nam trong quá trình đổi mới và công
nghiệp hóa thời gian qua, kinh nghiệm của quốc tế về phát triển nông nghiệp giá trị
cao và một số mô hình tổ chức sản xuất thành công trong nước; chỉ ra những thách
thức, khó khăn của nông nghiệp Việt Nam hiện tại và tương lai. Trên cơ sở đó đề
xuất quan điểm, định hướng, nội dung tái cấu trúc ngành, vùng trong nông nghiệp
nhằm nâng cao giá trị gia tăng và các giải pháp chiến lược.
Nguyễn Thị Yến (2012), “Phát triển nông nghiệp, nông thôn với giảm
nghèo ở tỉnh Thái Nguyên”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh. Trong công trình này, tác giả của luận án chỉ rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn vai trò của sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn là
nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long rất cần được xem xét từ thực trạng,
những lợi thế so sánh, nhu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp
trên cơ sở liên kết vùng, từ đó định ra các khuyến nghị chính sách và đề xuất
phương hướng, giải pháp thực hiện.
* Nghiên cứu về các loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong
nông nghiệp
Chu Văn Vũ (1995),“Kinh tế hộ trong nông thôn Việt Nam”, Nxb
6
KHXH, Hà Nội. Đề tài đã trình bầy hệ thống lý luận cơ bản về kinh tế hộ,
khái quát bức tranh toàn cảnh về kinh tế hộ ở nông thôn, tập trung làm rõ
những hạn chế, bất cập trong quá trình phát triển của kinh tế hộ. Đồng thời,
chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển của kinh tế hộ trong
tương lai. Trong đó, đề cập mục tiêu phát triển kinh tế hộ thành DNNN.
Vũ Thị Ngọc Hân (1997),“Phát triển kinh tế nông hộ sản xuất hàng
hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. Đề tài đã
phác họa bức tranh toàn cảnh về kinh tế nông hộ sản xuất hàng hóa ở vùng
đồng bằng sông Hồng, chỉ ra thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thành tựu,
hạn chế. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất phương hướng, mục tiêu và một hệ
thống giải pháp mang tính khả thi cao để phát triển kinh tế nông hộ sản xuất
hàng hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng trong tương lai.
Nguyễn Quý Thọ (2011),“Phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở
tỉnh Gia Lai”, luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Kinh tế phát triển, Đại học Đà
Nẵng. Luận văn đã tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn. Đồng
thời, đề ra những chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp chế biến nông
sản của tỉnh Gia Lai theo yêu cầu bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Hồ Quý Hậu (2011),“Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến
nông sản với nông dân ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản
Đỗ Kim Chung (2013),“Nghiên cứu môi trường đầu tư của các doanh
nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tại Hà Nội”, Nxb Nông nghiệp, Hà
Nội. Trong công trình này, tác giả trình bầy hệ thống môi trường đầu tư. Đó
là, môi trường kinh tế, môi trường kỹ thuật, môi trường pháp lý, môi trường
chính trị - xã hội Btác động đến hoạt động của DNNN, chỉ rõ những hạn chế,
bất cập đang là rào cản trên con đường phát triển của DNNN. Từ đó, đề xuất
với Đảng, Nhà nước và Thành phố Hà Nội hệ thống giải pháp khắc phục
những rào cản đó.
8
Phạm Thị Ngọc Lan (2015), “Nghiên cứu mở rộng thị trường xuất khẩu
gạo của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Lương thực thực phẩm Hà Nội”,
Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện nông nghiệp Hà Nội. Đề tài đã trình bầy cơ
sở lý luận và thực tiễn về thị trường xuất khẩu gạo của Công ty Cổ phần xuất
nhập khẩu Lương thực thực phẩm Hà Nội; chỉ ra thành tựu, hạn chế và
nguyên nhân. Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và giải pháp trong thời
gian tiếp theo.
Đinh Thị Thu Hương (2015), “Nghiªu cøu thÞ trêng tiªu thô
n«ng s¶n chÕ biÕn cña C«ng ty Cổ phần thùc phÈm Minh D¬ng
- Hoµi §øc - Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện nông nghiệp Hà
Nội. Đề tài đã đi sâu phân tích, làm rõ khái niệm, quan niệm về thị trường, vai
trò và các nhân tố tác động đến thị trường; thực trạng thị trường tiªu thô
n«ng s¶n chÕ biÕn cña C«ng ty Cổ phần thùc phÈm Minh D¬ng
- Hoµi §øc - Hà Nội hiện nay, những thành tựu và hạn chế của Công ty
trong hoạt động sản xuất - kinh doanh và đề xuất phương hướng hoạt động
trong thời gian tới.
Mai Thanh Cúc, “Vai trò của doanh nghiệp trong phát triển thương hiệu
hoa Tây Tựu, xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, Hà Nội”, Tạp chí nông thôn mới,
* Mục đích:
Luận giải làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển DNNN, trên cơ
sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp đẩy mạnh phát triển DNNN trên địa bàn
thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ:
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về phát triển DNNN: Quan niệm, nội dung, đặc
điểm, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển DNNN trên địa bàn thành phố
Hà Nội.
- Đánh giá thực trạng phát triển DNNN trên địa bàn thành phố Hà Nội thời
gian qua.
10
- Đề xuất quan điểm và giải pháp đẩy mạnh phát triển DNNN trên địa
bàn thành phố Hà Nội thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng:
Phát triển DNNN dưới góc độ kinh tế chính trị học Mác – Lênin.
Phạm vi:
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển DNNN trong
phân ngành trồng trọt; chăn nuôi; thủy sản thuộc ngành nông nghiệp trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
Về không gian: Phát triển DNNN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Về thời gian: Luận văn tập trung phân tích, nghiên cứu khảo sát số liệu,
tư liệu từ năm 2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Những vấn đề chung về doanh nghiệp nông nghiệp
1.1.1. Doanh nghiệp và Doanh nghiệp nông nghiệp
* Doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một phạm trù đa nghĩa, vì thế nói đến doanh nghiệp có
nhiều cách hiểu khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau. Theo kinh tế học
vi mô, “Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu
cầu thị trường và xã hội để đạt lợi nhuận tối đa và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội
cao nhất”[29, tr.17].
Tiếp cận dưới góc độ pháp lý: Theo Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh
nghiệp, ban hành ngày 29 tháng 1 năm 2005 của Việt Nam, khái niệm về
doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có
tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh”[36, tr.113].
Luật Doanh nghiệp bổ xung, sửa đổi năm 2014 khẳng định: Doanh nghiệp
là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh. Doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động
kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Hiện nay, khái niệm phổ biến nhất về doanh nghiệp được hiểu là đơn vị
kinh tế cơ sở của nền kinh tế quốc dân, được tổ chức theo pháp luật có nhiệm vụ
sản xuất - kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của thị trường nhằm
thu lợi nhuận tối đa.
* Doanh nghiệp nông nghiệp
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tiếp cận dưới góc độ quản lý kinh tế
nông nghiệp có thể hiểu: Trong nền kinh tế thị trường, DNNN là đơn vị sản xuất
dụng các nguồn lực tự nhiên như đất, nước, khí hậu, vốn, lao động, công
14
nghệ và tư liệu sản xuất mua vào từ những thị trường khác nhau tạo ra các
nông sản đáp ứng nhu cầu của thị trường, tức là biến đổi đầu vào thành sản
phẩm đầu ra, sao cho có giá trị gia tăng, có lợi nhuận.
Tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, có thể khẳng định: DNNN là
một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thu lợi nhuận và thúc đẩy nông nghiệp
hàng hóa phát triển.
DNNN là loại hình doanh nghiệp hoạt động lao động mang tính xã hội,
tạo ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tồn tại dưới hình thái vật thể hoặc phi
vật thể nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt
của con người. DNNN là một loại hình doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ trong nông nghiệp chuyên cung ứng dịch vụ đầu vào, đầu ra
cho sản xuất hàng hóa nông nghiệp. Nhằm mục đích nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của
hộ gia đình và xã hội.
Từ sự phân tích trên ta nhận thấy DNNN tham gia trong tất cả 4 khâu
của quá trình tái sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp: Sản xuất, phân phối,
trao đổi và tiêu dùng. Bên cạnh đó, DNNN bao gồm cả các yếu tố của LLSX
và QHSX trước hết là giữa các chủ thể tham gia sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
trong lĩnh vực nông nghiệp với các chủ thể sản xuất nông nghiệp và giữa các
chủ thể tham gia sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nông nghiệp.
* Phân loại doanh nghiệp: Phân loại doanh nghiệp theo ngành, nghề;
phân loại doanh nghiệp theo quy mô; phân loại doanh nghiệp theo tính chất sở
hữu; phân loại theo trách nhiệm pháp lý của chủ doanh nghiệp (công ty đối
nhân, công ty đối vốn, công ty cổ phần); các hình thức tổ chức doanh nghiệp
theo quy định của pháp luật ở nước ta hiện nay (doanh nghiệp nhà nước, hợp
các phân ngành cụ thể: Trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản. Thực tiễn chứng minh
rằng, hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản gắn liền với sản xuất mùa vụ.
Vì vậy, đi cùng với quá trình phát sinh, phát triển của các hình thức này là quá
trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu. Cụ
thể là, phát triển về số lượng, chất lượng, cơ cấu của từng loại hình sản xuất,
16
kinh doanh, dịch vụ. Do vậy, quá trình phát phát triển của DNNN cũng gắn
với mùa vụ.
Bên cạnh đó, phát triển DNNN có mối quan hệ với điều kiện tự nhiên
chi phối phát triển nông nghiệp hàng hóa. Trên thực tiễn, đối tượng sản xuất
nông nghiệp là sinh vật. Đó là những cây trồng, vật nuôi mà chính bản thân
chúng đã là các yếu tố hoàn toàn tự nhiên, là một bộ phận quan trọng của
môi trường tự nhiên, cho nên quá trình sinh trưởng và phát triển của chúng
tuân theo những quy luật tự nhiên riêng của mỗi loài và quá trình đó không
thể tách rời các điều kiện tự nhiên. Do đó sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nông
nghiệp có quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc rất nhiều vào môi trường tự nhiên,
trong đó đặc biệt là thời tiết, khí hậu, nguồn nước và thổ nhưỡng... là những
điều kiện, các yếu tố tự nhiên có tác động ảnh hưởng nhiều nhất, trực tiếp và
rõ rệt nhất, thậm chí có thể quyết định đến sự phân bố và quá trình phát triển
của sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, phát triển DNNN Hà Nội luôn phải bám
sát các điều kiện tự nhiên chi phối để sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nông
nghiệp giúp cho quá trình sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao.
Hơn nữa, đối tượng của DNNN là nông nghiệp, nông dân mà sản phẩm
của nông nghiệp hoàn toàn là tự nhiên bị chi phối chủ yếu bởi điều kiện thời
tiết, khí hậu, nguồn nước và thổ nhưỡng,… Do vậy, nông phẩm rất rễ bị
xuống cấp nếu không tuân theo quy trình nghiêm ngặt của sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ khép kín trên cơ sở các tiêu chuẩn chất lượng của ISO 9001
năm 2015; ISO 22000; Vietgap; Luật an toàn thực phẩm số 55/2010 /QH12
doanh cao hơn
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn vốn là đối tượng yếu thế dễ bị
tổn thương trong xã hội và ít được quan tâm đầu tư của các doanh nghiệp.
Bởi, đây là thị trường phải đầu tư vốn lớn, lợi nhuận thấp, với thời gian dài,
khả năng thu hồi vốn chậm và đặc biệt còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro khi mà
sản phẩm nông nghiệp chịu sự chi phối trực tiếp của thị trường và điều kiện
thời tiết, khí hậu. Thực tiễn chứng minh rằng, thị trường và đối tượng phục
vụ của DNNN là nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Cụ thể là những địa
bàn thuộc các địa phương, vùng, miền còn gặp rất nhiều khó khăn và kém
18
phát triển cả về kinh tế, văn hóa, xã hội; hạ tầng giao thông, năng lượng, bưu
chính viễn thông, giáo dục, y tế,… chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của
thực tiễn đang đặt ra. Vì vậy, khi DNNN đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ bao giờ cũng có chi phí khởi tạo doanh nghiệp cao hơn so với
doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ kinh doanh cùng loại sản phẩm trên
địa bàn thành phố, thị xã,…Vấn đề đặt ra ở đây, là phải giảm bớt chi phí khởi
tạo cho DNNN để góp phần giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sản
xuất, kinh doanh của DNNN làm cơ sở, tiền đề thúc đẩy nông nghiệp hàng
hóa lớn phát triển và xây dựng nông thôn mới trong quá trình CNH, HĐH
trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN mở cửa, hội
nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.
Bốn là, hoạt động của DNNN gắn với xu hướng liên kết không gian
kinh tế vùng và hội nhập kinh tế quốc tế
Quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta hiện nay đòi hỏi từng địa phương, các ngành, các thành
phần kinh tế và mỗi vùng, miền phải huy động, khai thác và sử dụng một cách
hiệu quả nhất các nguồn lực (Vốn, Lao động, Công nghệ - kĩ thuật, Các nguồn
tài nguyên) đồng thời tranh thủ ngoại lực để tận dụng thời cơ, vượt qua thách
lượng với cơ cấu hợp lý của các doanh nghiệp nông nghiệp nhằm giải
quyết việc làm, mang lại thu nhập ngày càng cao cho doanh nghiệp; góp
phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả đáp ứng yêu cầu nền sản
xuất nông nghiệp hàng hóa.
* Sự cần thiết phát triển doanh nghiệp nông nghiệp
Một là, xuất phát từ vai trò của doanh nghiệp nông nghiệp
Thứ nhất, Phát triển DNNN trực tiếp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển nông nghiệp hàng hóa
Phát triển DNNN trực tiếp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp. Cụ thể là, Phát triển DNNN góp phần tăng tỷ trọng ngành
công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; vận tải hàng hóa; bán buôn, bán lẻ
20
hàng nông phẩm; dịch vụ nông nghiệp... đồng thời, lao động trực tiếp trong
nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm; lao động trong công nghiệp và
dịch vụ ngày càng tăng. DNNN phát triển sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất cây lương thực, tăng
tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản, rau quả, cây công nghiệp, đa dạng hóa ngành
nghề; tạo điều kiện phát triển toàn diện và hình thành các vùng chuyên canh
về trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản với sản phẩm bảo đảm về số lượng, chất
lượng đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.
Phát triển DNNN trực tiếp góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp
hàng hóa lớn. Bởi vì, sự phát triển của DNNN đòi hỏi phải tập trung ruộng
đất, phải đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng những thành tựu khoa học – công
nghệ vào sản xuất, phải hình thành những cánh đồng mẫu lớn chuyên canh,
những khu chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản tập trung, sản phẩm phải được tiêu
thụ ở cả trị trường trong nước và nước ngoài. Điều này đồng nghĩa với việc
hình thành chuỗi hoạt động dịch vụ khép kín và chuỗi liên kết giá trị nông
phẩm trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường
Phát triển DNNN trực tiếp góp phần ổn định chính trị, xã hội. Bởi vì,
chính sự phát triển của DNNN đã mang lại nhiều việc làm mới cùng với thu
nhập ổn định và ngày càng cao góp phần trực tiếp cải thiện đời sống vật chất,
tinh thần của Nhân dân đã tạo tiền đề, điều kiện làm thay đổi bộ mặt nông
thôn nói riêng, xã hội nói chung và trở thành động lực mạnh mẽ trong các
phong trào thi đua yêu nước, nhất là phong trào nông dân thi đua sản xuất
kinh doanh giỏi và giúp nhau làm giầu chính đáng, xóa đói, giảm nghèo cùng
với nó là phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân
cư. Như vậy, sự phát triển của DNNN đã trực tiếp góp phần ổn định chính trị xã hội trên địa bàn nông thôn nói riêng, cả nước nói chung.
Phát triển DNNN trực tiếp góp phần củng cố quốc phòng, an ninh. Bởi
vì, chính sự phát triển của DNNN đã trực tiếp góp phần nâng cao trình độ,
năng lực, phẩm chất, rèn luyện kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, tác
22
phong làm việc công nghiệp cho người lao động. Đây sẽ là nguồn lực quan
trọng nhất để huy động nhân lực cho quốc phòng khi chiến tranh xảy ra. Bên
cạnh đó, sự phát triển của DNNN sẽ góp phần tăng thu nhập cho người lao
động, tăng GDP cho nền kinh tế. Điều này cũng đồng nghĩa với tăng cường
tiềm lực kinh tế cho quốc phòng. Mặt khác, sự phát triển của DNNN đã làm
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thuận lợi cho việc áp dụng công nghiệp lưỡng
dụng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng và kinh tế. Hơn nữa, sự phát
triển của DNNN đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông
nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh,
thành phố, vùng, miền trong cả nước. Đây sẽ là tiền đề, điều kiện đề huy động
nhân lực, vật lực, tài lực khi có tác chiến xảy ra.
Phát triển DNNN trực tiếp góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế. Bởi vì, chính sự phát triển của DNNN đã đặt ra những yêu cầu, đòi
hỏi lớn về vốn, lao động, công nghệ - kỹ thuật và thị trường cả trước mắt và
lâu dài. Điều này chỉ có thể được đáp ứng khi và chỉ khi chúng ta kết hợp
khăn, nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với trình độ
nông dân của các nước tiên tiến trong khu vực, đủ bản lĩnh chính trị, năng
lực làm chủ nông thôn mới; xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện
theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn có năng suất, chất
lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, bảo đảm an ninh lương thực quốc
gia; xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, cơ
cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với
phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, xã hội nông
thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi
trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh
đạo của Đảng được tăng cường. CNH, HĐH sẽ tạo tiền đề vật chất, kỹ
thuật và kinh tế, xã hội để cải biến nền kinh tế nông nghiệp còn kém phát
triển thành nền kinh tế có cơ cấu ngày càng hợp lý trên cơ sở lao động sử
dụng máy móc và kỹ thuật, công nghệ ngày càng tiên tiến. CNH, HĐH tạo
24
nền tảng, cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc xác lập, củng cố, hoàn thiện
QHSX mới XHCN và củng cố hệ thống chính trị, tăng cường an ninh quốc
phòng ở khu vực nông thôn...Để biến mục tiêu này thành hiện thực, phải
thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong đó có phát triển DNNN.
Nước ta là nước đông dân cư sống ở nông thôn, với gần 70% dân số
sống ở nông thôn, gần 50% lao động làm nông nghiệp; tốc độ tăng dân số ở
nông thôn hiện vẫn cao; ruộng đất bình quân đầu người thấp và có xu hướng
giảm do quá trình đô thị hóa, mở rộng xây dựng kết cấu hạ tầng; trình độ sản
xuất nông nghiệp còn thấp, kỹ thuật thủ công là chủ yếu... Nông nghiệp, nông
thôn góp một phần quan trọng trong quá trình tích lũy vốn cho CNH, HĐH; là
khu vực kinh tế, xã hội có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng, liên quan đến
việc giải quyết những vấn đề đời sống cơ bản của đại đa số dân cư, như tạo
việc làm cho lao động dư thừa ở nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân, tăng