i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
(i) Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi
(ii) Các số liệu trong luận văn là chính xác và trung thực
(iii) Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình
Tác giả
Ngô Ngọc Minh
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học và làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh
tế, tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy, Cô giáo đã hướng
dẫn và truyền tải các kiến thức quan trọng. Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc tới .TS Vũ Văn Hùng, thầy đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ
trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp. Tác giả cũng xin được cảm ơn
các Lãnh đạo, đồng nghiệp nơi tác giả công tác đã giúp đỡ tác giả hoàn thành
bài luận văn này.
Với mong muốn nhận được sự ủng hộ tích cực, đóng góp ý kiến và hợp
tác giúp đỡ của tất cả những ai quan tâm đến đề tài này để tác giả có dịp
nghiên cứu, bổ sung thêm.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
ii
Ngô Ngọc Minh
BOC
: Trung tâm cơ hội kinh doanh
BQL KCN : Ban quản lý Khu công nghiệp
CHE
: Ủy ban giáo dục Đại học Thái Lan
CNC
: Công nghệ cao
CNTT
: Công nghệ thông tin
DIP
: Trung tâm mạo hiểm công nghệ cao Hàn Quốc
IDA
: Cục phát triển công nghiệp của Ireland
ITEP
: Viện đánh giá và quy hoạch công nghệ Hàn Quốc
KCN
: Khu công nghiệp
KH&CN
: Khoa học và công nghệ
KH&ĐT
: Bộ Thông tin Truyền thông Hàn Quốc
MOCIE
: Bộ Thương mại Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc
NBIA
: Hiệp hội Vườn ươm doanh nghiệp Quốc gia Mỹ
NEC
: Chương trình phát triển các doanh nghiệp mới của Thái Lan
NPD
: Viện Kenan Châu Á
NSTDA
UKSPA
: Hiệp hội Vườn ươm khoa học Anh
VƯDN
: Vườn ươm doanh nghiệp
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ươm tạo doanh nghiệp là một công cụ hiệu quả nhằm tối đa hóa sự hình
thành của các doanh nghiệp khởi nghiệp, góp phần tạo việc làm cho cộng
đồng và thương mại hóa các ý tưởng kinh doanh,...Ở các nước trên thế giới,
khái niệm “vườn ươm doanh nghiệp” không xa lạ mà thực sự đã đóng vai trò
tích cực trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Trên thực tế, khái niệm này đã
được xuất hiện từ năm 1942 tại các trường học và các trường đại học nơi học
sinh, sinh viên và các giáo sư đã có cơ hội để thử nghiệm và sử dụng kiến
thức và nghiên cứu của họ để bắt đầu thành lập công ty. Vườn ươm đầu tiên
được biết đến bên ngoài các trường đại học là Trung tâm công nghiệp Batavia
(BIC) ở Batavia, New York vào năm 1959 và các khái niệm chính thức về
ươm tạo doanh nghiệp đã được phát triển từ đó.
Nếu như đầu những năm 90, thế kỷ XX trên thế giới chỉ có 200 vườn
ươm thì đến nay đã có khoảng 5.000 vườn ươm, trong đó có 1.400 vườn ươm
ở Bắc Mỹ. Theo kết quả nghiên cứu của Hiệp hội vườn ươm doanh nghiệp
những năm 1996-1997 khi nói về các biện pháp hỗ trợ DNNVV. Đến nay,
khái niệm này không còn xa lạ đối với những người làm công tác xúc tiến
phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam. Không thể so sánh với nước Mỹ, nơi có
trên 1.000 VƯDN và ngay cả các nước trong khu vực nơi có hàng trăm vườn
ươm, nhưng con số 10 vườn ươm đang hoạt động tại Việt Nam quả là quá ít,
và hơn thế nữa cũng chưa nhiều người biết đến chúng. Mặc dù được đánh giá
là có triển vọng, nhưng để cho VƯDN của Việt Nam phát triển ngang bằng
với các nước trong khu vực và trên thế giới, ngoài việc có một thị trường tốt,
thì điều quan trọng nhất là phải có sự hỗ trợ từ Chính phủ, sự tham gia mạnh
mẽ của các quỹ đầu tư mạo hiểm và các tập đoàn lớn sẵn sàng tiếp nhận
những doanh nghiệp nhỏ và vừa, những công nghệ mới được ươm tạo.
3
Tại Hà Nội, VƯDN cũng đã và đang phát triển với nhiều mô hình ở
nhiều ngành nghề khác nhau như VƯDN trong các khu công nghệ cao, các
trường đại học và VƯDN trong các doanh nghiệp. Tuy nhiên, VƯDN vẫn còn
ít về số lượng và chất lượng chưa thật sự như mong muốn. Chính vì vậy, cần
có sự nghiên cứu một cách hệ thống về mặt lý thuyết liên quan đến chính sách
phát triển VƯDN cũng như đánh giá thực tiễn hoạt động của các mô hình
VƯDN từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phát triển
VƯDN trong thời gian tới là rất cần thiết.
Chính vì vậy, đề tài: “Chính sách phát triển vườn ươm doanh nghiệp trên
địa bàn thành phố Hà Nội” được học viên lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ,
chuyên ngành quản lý kinh tế, mã số 60340410.
2. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề VƯDN là vấn đề khá mới ở Việt Nam, thời gian gần đây đã có
nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này cũng như nhiều người quan tâm,
một số công trình khoa học nghiên cứu có liên quan như:
động thực tế của các vườn ươm trên toàn quốc đã mang lại nhiều bài học quý
báu về phát triển VƯDN tại Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế hoạt động của các
vườn ươm vẫn còn có những bất cập, như chưa có cơ chế quản lý cụ thể, chưa
xác định được rõ mô hình hoạt động, tính bền vững chưa được đảm bảo do chưa
có cơ chế về mặt tài chính cho vườn ươm. Vì vậy, để phát huy hết hiệu quả của
các vườn ươm doanh nghiệp hiện tại và có cơ sở phát triển, mở rộng mạng lưới
ươm tạo doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực ngành nghề khác nhau trên địa bàn
thành phố Hà Nội một cách có hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Thủ đô. Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình
nghiên cứu trên, học viên tiếp tục nghiên cứu “chính sách phát triển vườn ươm
doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội” nhằm đưa ra những khuyến nghị
chính sách phù hợp tiếp tục thúc đẩy vườn ươm doanh nghiệp trên địa bàn phát
triển hiệu quả và bền vững, góp phần phát triển kinh tế thủ đô.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Luận văn phân tích thực trạng chính sách phát triển VƯDN trên địa bàn
thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách
phát triển VƯDN trên địa bàn trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng khung lý thuyết về chính sách phát triển vườn ươm doanh
nghiệp; phân tích kinh nghiệm về chính sách phát triển vườn ươm doanh
nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và bài học cho thành phố Hà Nội.
- Phân tích thực trạng chính sách phát triển vườn ươm doanh nghiệp trên
địa bàn thành phố Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phát triển vườn
ươm doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
của vấn đề nghiên cứu trong kỳ phân tích. Đồng thời so sánh các kết quả điều
tra, phỏng vấn, các chỉ tiêu đánh giá nhằm tổng hợp kết quả nghiên cứu một
cách tổng quát.
- Phương pháp thống kê: Là hệ thống các phương pháp bao gồm thu
thập, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên
cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán, ra quyết định. Phương
pháp thống kê được sử dụng trong việc thống kê dữ liệu thu thập được nhằm
tổng hợp khái quát hóa các số liệu, phục vụ cho việc phân tích, đánh giá, kết
luận được dễ dàng hơn.
- Phương pháp dự báo trực quan: Để tổng hợp ý kiến của các chuyên gia,
các nhà khoa học, nhà lãnh đạo quản lý nhà nước; dựa vào sự nhạy cảm và
kinh nghiệm của họ để dự báo những thay đổi trong chính sách phát triển
vườm ươm doanh nghiệp: chính sách về tài chính, chính sách về nguồn nhân
lực, chính sách thị trường hóa các ý tưởng về công nghệ, và vấn đề bảo hộ sở
hữu trí tuệ,…
7
Ngoài các phương pháp trên, nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp
biểu đồ, đồ thị, lập bảng so sánh số liệu,…
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Chính sách phát triển vườn ươm doanh nghiệp – Cơ sở lý
luận và kinh nghiệm thực tiễn
Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển vườn ươm doanh nghiệp
trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển vườn ươm
doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội
doanh nghiệp ươm tạo vẫn đang trong quá trình hoạt động.
Trong kinh tế học hiện đại, vươǹ ươm DN là một đơn vị kinh tế hoạt
động với nhiệm vụ hỗ trợ một cách có lựa chọn đối với một số DN ở giai
đoạn đầu hình thành để có thể phát triển nhanh, bền vững và có lợi nhuận.
Đơn vị kinh tế này cung cấp hàng loạt những dịch vụ, nhằm giúp các DN mới
9
thành lập giảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động và tăng cươǹ g sức mạnh
trên thưon̛ g trươǹ g.
Theo định nghĩa của Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc
(UNIDO), “Vườn ươm là một tổ chức tiến hành một cách hệ thống quá trình
tạo dựng các doanh nghiệp mới, cung cấp cho các doanh nghiệp này một hệ
thống toàn diện và thích hợp các dịch vụ để hoạt động thành công”. Ủy ban
Châu Âu thì cho rằng, “Vườn ươm doanh nghiệp là một khu vực có kết cấu hạ
tầng, trong đó các doanh nghiệp mới khởi sự hoạt động tại một diện tích hạn
chế nhưng có thể điều chỉnh và mở rộng được theo kiểu các mô-đun sử dụng
chung các dịch vụ liên quan đến hạ tầng cơ sở, quản lý, ban thư ký và các
nhân viên giúp việc”.
Theo tổ chức Doanh nghiệp và Thương mại của New Zealand, “Vườn
ươm doanh nghiệp là một công cụ hỗ trợ được thiết kế để hỗ trợ doanh nghiệp
trong giai đoạn đầu thành lập thông qua cung cấp tòa nhà dùng chung, tư vấn
kinh doanh, các dịch vụ kinh doanh, mạng lưới và một cán bộ quản lý làm
việc toàn bộ thời gian, khoảng thời gian ươm tạo cho mỗi doanh nghiệp
thường từ 1 đến 3 năm”.
Theo cách hiểu của các nhà DN, vươǹ ưom
̛ DN là nơi tập hợp các DN
mới hình thành, nhưng có tiềm năng phát triển tốt để nuôi dươñ g trước khi
đưa ra hoạt động ngoài cộng đồng, giúp những chủ DN mới tiếp cận với các
kinh doanh trong những năm đầu quan trọng nhất. Sau khoảng thời gian nhất
định hay kết thúc quá trình ươm tạo, các doanh nghiệp ươm tạo sẽ rời khỏi
vườn ươm và nhường chỗ cho các doanh nghiệp mới. Về cơ bản, vườn ươm
tạo ra 3 loại giá trị gia tăng: Hỗ trợ các doanh nghiệp trong giai đoạn mới bắt
đầu thành lập, trong quá trình trưởng thành và lớn mạnh trên thị trường; đóng
góp cho sự phát triển kinh tế địa phương và vùng; bản thân vườn ươm cũng là
loại doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh.
Các DN hoạt động trong vườn ưom
̛ này có trách nhiệm thanh toán và trả
11
tiền cho việc sử dụng các khoảng không gian và thiết bị, cũng như các dịch vụ
hỗ trợ nhất định trong vườn ưom
̛ DN. Thời hạn trung bình mà các DN được
nuôi dươñ g và trợ giúp trong các vườn ưom
̛ là 3 năm.
Nên lưu ý là trong số khái niệm VƯDN còn có khái niệm vườn ươm
doanh nghiệp công nghệ (technology business incubator; viết tắt là TBI); một
loại hình vườn ươm đặc biệt chuyên ươm tạo các doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao. TBI được coi là công cụ
hữu hiệu để hiện thực và thương mại hóa thành công các ý tưởng công nghệ,
thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hợp tác giữa lĩnh vực nghiên cứu khoa
học với lĩnh vực công nghiệp (sản phẩm).
Các vườn ươm doanh nghiệp công nghệ khác biệt với vườn ươm doanh
nghiệp thông thường ở một số điểm như: (i) các doanh nghiệp được ươm tạo
được cung cấp các máy móc, thiết bị chuyên dùng, các phòng thí nghiệm hiện
đại đồng bộ; nhận các dịch vụ chuyên môn kỹ thuật, công nghệ cao; và được
giám sát, quản lý bởi các chuyên gia có kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp
này hướng tới việc khai thác các nguồn lực đặc thù của địa phương để phát
triển các doanh nghiệp mới trong một ngành cụ thể, tập trung vào sự tăng
trưởng kinh tế của địa phương.
- Các VƯDN khoa học và liên quan đến các trường đại học, viện nghiên
cứu: Các VƯDN này thường hoạt động phi lợi nhuận, được thiết lập với mục
đích thương mại hóa các tài sản dưới dạng khoa học công nghệ và tri thức
được tạo ra trong quá trình nghiên cứu của trường đại học, viện nghiên cứu.
Các vườn ươm này cung cấp cho các công ty được ươm tạo các dịch vụ sử
dụng phòng thí nghiệm, máy tính, thư viện và các chuyên gia hỗ trợ từ phía
sinh viên. Một vườn ươm loại này thường do trường đại học tài trợ, nhưng
chủ yếu tồn tại dưới dạng góp vốn của một số nhà đầu tư. Đây là hình thức
liên kết hình thành và hoạt động phổ biến hiện nay trên thế giới.
- Các VƯDN thuộc các công ty, tập đoàn lớn: Được thành lập với mục
13
đích lợi nhuận nhằm khuyến khích phát triển tài năng của đội ngũ nhân viên,
giữ nhân viên gắn bó với công ty, hỗ trợ tiếp cận các công nghệ hoặc thị
trường mới. Mô hình này tập trung phát triển các công nghệ, các lĩnh vực
chuyên biệt và thế mạnh của tập đoàn mình và chủ yếu được tài trợ bởi chính
các công ty, tập đoàn mẹ, quỹ đầu tư mạo hiểm.
* Theo mục đích thành lập vườn ươm
Theo mục đích hoạt động, vườn ươm được phân thành VƯDN hoạt động
phi lợi nhuận và lợi nhuận. Các VƯDN hoạt động phi lợi nhuận thường là các
VƯDN do Chính phủ hoặc chính quyền địa phương, viện nghiên cứu hoặc
trường đại học thành lập tập trung vào phạm vi rộng, không chuyên vào một
lĩnh vực cụ thể nào. Các VƯDN do các tư nhân, công ty, tập đoàn lớn thành
lập và vận hành thường vì mục tiêu lợi nhuận gắn liền với lĩnh vực hoạt động
cụ thể của các đối tác tham gia thành lập.
thúc ươm tạo. Điều này có thể thấy thông qua các số liệu thống kê. Chẳng
hạn, nghiên cứu của Ma và các cộng sự (2008), cho thấy, trong giai đoạn
1987-1998, tỷ lệ sống sót của các doanh nghiệp Trung Quốc sau khởi nghiệp
trong điều kiện bình thường là chưa đến 30%, song đã tăng lên tới 80% sau
khi được ươm tạo. Tại Mỹ, tỷ lệ sống sót sau ươm tạo lên tới 87%.
Một vai trò quan trọng của VƯDN là làm tăng mối liên kết chiến lược
giữa bản thân các DNNVV, giữa chúng với các doanh nghiệp lớn và các đối tác
liên quan khác - điều được xem là cốt yếu đối với các DNNVV trong giai đoạn
hiện nay. Các DNNVV hợp tác, quy tụ thành các nhóm sản phẩm để giúp nhau
vượt qua những điểm yếu cố hữu (hoạt động đơn độc, yếu thế) và nâng cao
năng lực cạnh tranh thông qua việc hình thành các liên kết giữa các hãng, phát
triển theo hướng mở rộng quy mô sản xuất, cũng như đổi mới công nghệ.
Thứ hai,VƯDN là công cụ thúc đẩy sáng tạo, đổi mới, chuyển giao công
nghệ và thương mại hoá thành công các ý tưởng kinh doanh, công nghệ nhờ gắn
kết chặt chẽ hơn mối quan hệ trường đại học - viện nghiên cứu – doanh nghiệp
VƯDN góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp sáng tạo, đổi mới công nghệ
15
và thương mại hóa ý tưởng kinh doanh, công nghệ thông qua chiến lược phát
triển mạng lưới của vườn ươm, đặc biệt trong mạng lưới Trường đại học –
viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp vừa, nhỏ, VƯDN
có vai trò rất quan trọng trong việc đổi mới, chuyển giao công nghệ và tận
dụng những ý tưởng
Điều này đạt được nhờ vai trò chủ chốt của các VƯDN trong việc xúc
tác, cầu nối giữa 3 chủ thể trên cùng với các nhà đầu tư và đối tượng có liên
quan khác, và tất nhiên, trong việc nâng cao năng lực của doanh nghiệp được
ươm tạo. Có thể nói, đây là vai trò có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, bởi nếu
thiếu các vườn ươm doanh nghiệp công nghệ, “sứ mệnh” trên khó có thể đạt
khả năng phối hợp chặt chẽ với chính phủ trong việc sử dụng và phát triển
công nghệ mới hay sản phẩm mới trong một thị trường mới. Các kết quả sẽ
nhanh chóng được kiểm nghiệm trong một môi trường nhất định.
Bên cạnh đó, các VƯDN có thể phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp
nhà nước trong việc lập ra các qui trình quản lý mới không bị ràng buộc bởi
các chính sách quan liêu, thích ứng nhanh với các thay đổi và nhu cầu của
ngành trong phạm vi môi trường hoạt động mà nhà nước qui định, tạo ra sự
phát triển bền vững cho cộng đồng.
1.1.2.2. Sự cần thiết của VƯDN đối với việc hỗ trợ các NDNVV
Chúng ta biết rằng doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp phải rất nhiều khó khăn.
Đó không chỉ là những khó khăn từ bản thân DNNVV mà còn là những khó
khăn từ phía cơ chế chính sách, sự yếu kém của các tổ chức hỗ trợ DNNVV.
Chúng ta có thể tóm lược những khó khăn đó thành những nhóm vấn đề sau
đây, để qua đó thấy được sự cần thiết của vườn ươm doanh nghiệp trong việc
trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa tháo gỡ khó khăn, hoạt động tốt hơn
trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển.
- Sự phân biệt đối xử của nhà nước và các nhân viên chính phủ đối với
17
các chủ doanh nghiệp nhà nước và chủ doanh nghiệp tư nhân (hầu hết doanh
nghiệp tư nhân là DNNVV) mặc dù không được thể hiện rõ trong các văn bản
pháp luật chính thống của nhà nước nhưng nó thể hiện rõ trong các tư tưởng
định kiến và quan niệm của họ. Hơn nữa, một số cá nhân đã có những nhận
thức không đầy đủ về vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân đối với
phát triển kinh tế. Do đó, nhiều doanh nghiệp tư nhân rất khó có thể tự giải
quyết các vấn đề về thủ tục hành chính khi tiến hành các thủ tục thành lập và
vận hành doanh nghiệp của mình.
- Vườn ươm chính là địa chỉ giúp cho các doanh nghiệp hiểu biết đầy đủ
chủ doanh nghiệp không hiểu đầy đủ ý nghĩa của các loại thuế cũng như cách
tính thuế của các cơ quan thuế. Trong khi đó, các cán bộ thuế lại không nhất
quán trong hành vi thu thuế của mình làm cho các chủ doanh nghiệp thấy rằng
vẫn có cách khác khiến cho mức thuế phải nộp của họ ít đi. Còn các doanh
nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước thấy rằng mình bị
thiệt thòi so với các doanh nghiệp kia. Trong lĩnh vực này, VƯDN có trách
nhiệm giúp cho chủ doanh nghiệp hiểu rằng tình trạng làm ăn và trốn thuế
như hiện nay là không bền vững và chỉ có thể tồn tại nhất thời. Để có được
điều này, VƯDN cần đào tạo các chủ doanh nghiệp hiểu nghĩa vụ đóng những
loại thuế nào và biết cách tính thuế, có thể tính chính xác mức thuế doanh
nghiệp phải nộp, như vậy sẽ loại trừ được hành vi không lành mạnh trong thu
thuế của các cán bộ thuế. Có như vậy, họ sẽ không còn phụ thuộc vào các cán
bộ thuế, tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước. Đồng thời,
thông qua VƯDN, nhà nước cũng dễ dàng nhận được các ý kiến phản hồi của
doanh nghiệp về các loại thuế để điều chỉnh cho phù hợp hơn, bảo đảm vừa
có tác dụng kích thích sự phát triển của doanh nghiệp vừa bảo đảm nguồn thu
cho ngân sách.
Mặt khác, một số tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp đã ra đời nhưng hiệu quả
19
hỗ trợ còn rất khiêm tốn. Trên thực tế, các DNNVV vẫn thiếu một hệ thống
mạng lưới các mối quan hệ, hiểu biết và hỗ trợ nhau trong kinh doanh, thiếu
thông tin về mọi lĩnh vực. Sự xuất hiện của VƯDN góp phần giải quyết
những hạn chế này. Vườn ươm sẽ là “cái nôi” cho phép các doanh nghiệp học
hỏi, trao đổi kinh nghiệm, là nơi cung cấp thông tin, tư vấn mọi vấn đề liên
quan giúp cho các doanh nghiệp khởi sự vững tin, tránh sự bỡ ngỡ trong bước
đầu khởi nghiệp.
Sâu xa hơn, VƯDN còn tạo ra cơ hội cho các tổ chức tài trợ tìm kiếm