Chính sách phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
 
NGUYỄN THỊ MAI
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh bất động sản

Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHẠM LAN HƯƠNG
Hà Nội, năm 2013
MỤC LỤC
2.2.1 Tập trung hóa dân cư và vấn đề nhà ở xã hội 41
1.Chính phủ, Quyết định số 2127/QĐ-TTg, ngày 30/11/2011 về phê duyệt chiến lược nhà ở quốc
gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 82
2.Chính phủ, Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 20 tháng 4 năm 2009 ban hành về một số cơ chế chính
sách phát triển nhà ở cho các đối tượng là học sinh, sinh viên các trường đại
học, cao đẳng nhà ở cho công nhân khu công nghiệp, nhà ở cho người thu
nhập thấp tại các khu vực đô thị. 82
3.Chính phủ, Quyết định 65/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng 04 năm 2009 ban hành về một số cơ chế
chính sách phát triển nhà ở cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung
cấp chuyên nghiệp và dạy nghề thuê 82
4.Chính phủ, Quyết định 105/2007/QĐ-TTg ngày 13 tháng 07 năm 2007 về việc phê duyệt chính
sách tài chính nhà ở quốc gia đến năm 2020 82
5.Chính phủ, Quyết định 66/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng 04 năm 2009 ban hành một số cơ chế,
chính sách phát triển nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp
thuê 82
6.Chính phủ, Nghị định số 71/2010/NĐ-CP năm 2010 về hướng dẫn thi hành Luật nhà ở 82
7.Chính phủ, Quyết định 67/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng 04 năm 2009 ban hành về cơ chế, chính
sách phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị 82
8.Chính phủ, Quyết định 2217/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2009 về việc phê duyệt danh mục
dự án phát triển nhà ở sinh viên tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh

chính sách phát triển nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp
thuê 82
6.Chính phủ, Nghị định số 71/2010/NĐ-CP năm 2010 về hướng dẫn thi hành Luật nhà ở 82
7.Chính phủ, Quyết định 67/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng 04 năm 2009 ban hành về cơ chế, chính
sách phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị 82
8.Chính phủ, Quyết định 2217/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2009 về việc phê duyệt danh mục
dự án phát triển nhà ở sinh viên tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
và điều chỉnh danh mục dự án nhà ở sinh viên cơ sở đào tạo thuộc Bộ Công an
bằng nguồn trái phiếu Chính phủ năm 2009 82
9.PGS.TS. Nguyễn Minh Hòa - Mai Hà, Nhà ở xã hội-Nhà ở cho người thu nhập thấp, Tạp Chí Kiến
Trúc Việt Nam tải từ trang />o-cho-nguoi-thu-nhap-thap/ 83
10.Luật Đất đai năm 2003 83
11.TS. Phạm Sỹ Liêm, Bài toán tài chính về nhà ở xã hội, tải từ trang
83
12.TS. Phạm Sỹ Liêm, Nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp 83
13.GS.TSKH. Đặng Hùng Võ, Chiến lược quốc gia và giải pháp nhà ở cho người nghèo, người thu
nhập thấp, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam số 4/2012 83
14.Các chương trình, nghị quyết của Thành phố Hà Nội 83
15.Các báo cáo của thường niên của Thành phố Hà Nội 83
16. Các website của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng, Viện kiến trúc
quy hoạch đô thị và nông thông 83
17.Các trang website và tài liệu khác 83
LỜI NÓI ĐẦU
“Nhà ở” là một trong những nhu cầu cần thiết của mọi tầng lớp nhân
dân, vì thế, nhà ở cho người dân là tiền đề quan trọng góp phần nâng cao mức
sống của người dân, ổn định xã hội, tác động tích cực đến việc xây dựng và
phát triển đất nước. Hiện nay, khả năng tiếp cận nhà ở của một bộ phận không
nhỏ người dân gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt, những người nghèo tại khu
vực đô thị, công nhân các khu công nghiệp, cán bộ, công chức, quân nhân
chuyên nghiệp… do chi phí cho nhà ở quá lớn so với thu nhập của người dân.

• Mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất: Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách nhà ở xã hội.
Thứ hai: Phân tích và đánh giá thực trạng về nhà ở xã hội và chính sách
nhà ở xã hội đối với người có thu nhập thấp trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Thứ ba: Đưa ra những quan điểm, mục tiêu, định hướng và giải pháp
phát triển nhà ở xã hội của Thành phố Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: phạm vi Thành phố Hà Nội
- Về thời gian: Từ năm 2006 tới quý 2 năm 2013
- Về nội dung: Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề chỉ tập trung xem
xét những vấn đề liên quan đến chính sách phát triển nhà ở xã hội trong phạm
vi Thành phố Hà Nội,
Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng: phương pháp kế thừa các
2
tài liệu có liên quan, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp,
phân tích kinh tế…Vận dụng các quy luật kinh tế để giải quyết mối quan hệ
giữa lý luận và thực tiễn. Các số liệu được sử dụng đều là những số liệu được
thu thập, công bố bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trên các tạp chí,
các trang website chuyên ngành, phương pháp phỏng vấn.
Em xin chân thành cảm ơn TS.Phạm Lan Hương đã tận tình hướng dẫn
và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này!
Kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về chính sách phát triển nhà ở xã hội
Chương 2: Thực trạng các chính sách phát triển nhà ở xã hội trên địa
bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển nhà ở xã hội trên
địa bàn thành phố Hà Nội
3
CHƯƠNG 1

thường quân chi trả qua các quỹ mà không chi trả trực tiếp cho người sử
dụng, bởi sợ những người được hưởng nhà ở xã hội không sử dụng những sự
giúp đỡ của họ một cách hợp lý.
Khái niệm về nhà ở xã hội của Việt Nam được quy định tại điều 33
Luật nhà ở: “Nhà ở xã hội là nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc
các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cho các đối tượng bao gồm: cán bộ,
công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ
trang nhân dân, công nhân làm việc tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu công nghệ cao và các đối tượng khác theo quy định của Chính
phủ thuê hoặc thuê mua. Những đối tượng này phải có thêm điều kiện là
người có thu nhập thấp, chưa có nhà thuộc sở hữu của mình và chưa được
thuê, thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, có nhà thuộc sở hữu của mình
nhưng diện tích bình quân trong hộ gia đình dưới 5m2 sàn/người, có nhà
thuộc sở hữu của mình nhưng chỉ là nhà tạm, hư hỏng hoặc dột nát, không
đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu.
Theo quan điểm của ngân hàng thế giới, người thu nhập thấp là
những người có chi tiêu ít nhất 66% thu nhập cho ăn uống để tồn tại, 34%
còn lại dành cho nhà ở, văn hóa, giáo dục, y tế, đi lại,…
- Là những người có mức sống thuộc nhóm trung bình trở xuống.
- Xét trên phương diện cải thiện nhà ở, người thu nhập thấp là những
người phải chi một phần thu nhập sử để thuê nhà hoặc trả góp tiền sửa nhà,
mua nhà cho việc chi tiêu những nhu cầu cơ bản.
-
Là những người hiện đang sống trong những ngôi nhà quá cũ nát mà
5
không có điều kiện sửa sang hay cải tạo lại.
- Khi xem xét nội dung các quy định về nhà ở xã hội, có thể nhận thấy
rằng, người thu nhập thấp ở đây được hiểu là người có thu nhập tương đối ổn
định, có khả năng tích luỹ vốn để cải thiện điều kiện ở, nhưng cần sự hỗ trợ
của Nhà nước về vay vốn dài hạn trả góp, tạo điều kiện ưu đãi về chính sách

Thứ năm, nhà ở xã hội được Chính phủ giảm hoặc miễn một số các loại
thuế cho chủ đầu tư như thuế đất, ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp
Ngoài ra Chính phủ còn hỗ trợ tài chính thông qua việc can thiệp để chủ đầu
tư, người hưởng nhà ở xã hội được vay ngân hàng với lãi suất thấp, hỗ trợ
một phần tiền đền bù giải tỏa (nếu có), hỗ trợ một phần tài chính thông qua
việc can thiệp được giảm giá vật liệu xây dựng…
Thứ sáu, người mua được giảm giá căn hộ có khi chỉ bằng giá thành
căn hộ và trả dần trong 10-20 năm không tính lãi hoặc lãi suất rất thấp, để nhà
đầu tư không bị thiệt thòi, chính phủ thường ưu tiên cho họ một số công trình
khác có lợi nhuận cao hơn.
Thứ bảy, người thuê, thuê mua nhà ở xã hội không được chuyển
nhượng nhà ở dưới bất kỳ hình thức nào trong thời gian thuê, thuê mua nhà ở
xã hội. Trường hợp mua, thuê mua nhà ở xã hội thì chỉ được phép bán, cho
thuê nhà ở đó sau khi đã trả hết tiền cho chủ đầu tư và đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở nhưng phải bảo đảm thời gian tối
thiểu là 10 năm, kể từ thời điểm ký hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê mua
nhà ở xã hội. Trong trường hợp mua nhà ở mà chưa đủ thời gian 10 năm, kể
từ thời điểm ký kết hợp đồng mua bán nhưng bên mua có nhu cầu bán thì chỉ
7
được bán cho Nhà nước hoặc cho chủ đầu tư hoặc cho đối tượng được mua
nhà ở xã hội theo quy định của địa phương; giá bán không cao hơn mức giá
nhà ở xã hội cùng loại tại thời điểm bán.
1.1.3 Phát triển nhà ở xã hội
Phát triển nhà ở xã hội là sự phát triển về số lượng, loại hình và hình
thức cung cấp nhà ở xã hội, do đó phát triển nhà ở xã hội thực chất là việc đầu
tư xây dựng mới, xây dựng lại hoặc cải tạo làm tăng diện tích nhà ở cung cấp
cho các đối tượng xã hội, gia tăng đối tượng hưởng thụ hưởng thụ cụ thể theo
quy định của địa phương, gia tăng hình thức, chất lượng cung ứng dịch vụ với
sự tham gia ngày càng nhiều của các nhà đầu tư vào thị trường đầu tư phát
triển nhà ở xã hội…

Chính sách phát triển nhà ở xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng,
giải pháp, các công cụ mà nhà nước sử dụng tác động lên các chủ thể nhằm mục
đích phát triển về mặt số lượng, loại hình và hình thức cung cấp nhà ở xã hội.
Như vậy, chính sách phát triển nhà ở xã hội là các chính sách liên quan
đến việc phát triển nguồn cung về nhà ở xã hội.
Phát triển nhà ở cũng như nhà ở xã hội cũng là điều kiện để phát triển
nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, trong Chiến lược phát
triển nhà ở khẳng định phát triển nhà ở là trách nhiệm của Nhà nước, của xã
hội và của người dân…”, điểm mới trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc
gia, đó là định hướng phát triển phân rõ 2 loại nhà ở, một mặt là tập trung
hoàn thiện cơ chế, chính sách để khuyến khích phát triển nhà ở thương mại
9
theo cơ chế thị trường, theo nhu cầu thị trường, phụ thuộc vào mối quan hệ
cung - cầu của nền kinh tế thị trường. Mặt khác, Nhà nước cần có cơ chế,
chính sách và chủ động trực tiếp đầu tư phát triển nhà ở xã hội (nhà ở phi
hàng hóa) để giải quyết nhu cầu chính đáng của các nhóm đối tượng xã hội
gặp khó khăn về nhà ở nhưng không có khả năng thanh toán theo cơ chế thị
trường, bao gồm 8 nhóm đối tượng đã được xác định cụ thể trong Chiến lược,
đó là: người có công với Cách mạng; các hộ nghèo khu vực nông thôn; người
có thu nhập thấp tại khu vực đô thị; cán bộ, công chức, viên chức, nhân sĩ, trí
thức, văn nghệ sĩ; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang;
công nhân lao động tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và cơ sở sản
xuất, dịch vụ ngoài khu công nghiệp; sinh viên, học sinh các trường đại học,
cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề và nhóm đối tượng chính sách
xã hội đặc biệt khó khăn (người già cô đơn, người tàn tật, người nhiễm chất
độc da cam…).
Đặc biệt, cùng với việc cụ thể hóa các đối tượng được ở nhà xã hội,
Chiến lược đã pháp lệnh hóa vấn đề phát triển nhà ở xã hội, đưa vào kế
hoạch, chỉ tiêu từ Trung ương đến địa phương để quyết liệt thực hiện việc
phát triển nhà ở xã hội, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với

Việc phát triển nhà ở xã hội sẽ giải quyết được phần nào nhu cầu nhà ở
11
cho các đối tượng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm chỗ ở. Mặt khác, những
quy định về tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng nhà ở xã hội sẽ góp phần cải thiện
điều kiện sống của các đối tượng thu nhập thấp, giúp họ có được điều kiện
sinh hoạt tốt hơn trước. Điều này có một ý nghĩa tích cực trong việc nâng cao
điều kiện sống dân cư, ổn định nơi ăn, chốn ở cho các đối tượng khó khăn
trong xã hội. Từng bước thực hiện tốt những mục tiêu chính sách an sinh xã
hội của Nhà nước.
1.2.2 Góp phần bình ổn thị trường bất động sản
Theo kết quả rà soát của các địa phương về nhu cầu nhà ở, hiện nay và
đến năm 2015, trong khu vực đô thị cả nước còn khoảng 1.740.000 người có
khó khăn về nhà ở và 1.715.000 công nhân có nhu cầu về chỗ ở. Rõ ràng nhu
cầu của người dân về nhà ở là rất lớn, đặc biệt tại các thành phố, đô thị lớn.
Cụ thể: Hà nội thiếu khoảng 110.000 căn hộ, thành phố Hồ Chí Minh thiếu
134.000 căn, Bình Dương thiếu 104.000 căn, Đồng Nai thiếu 95.000 căn…
Riêng tổng hợp 25 bộ ngành có nhu cầu về nhà ở xã hội tại khu vực Hà Nội
đã thiếu 30.000 căn.
Thực tế những năm 2011 và 2012 và cả đầu những năm 2013, chúng ta
đã chứng kiến sự suy giảm toàn diện của nền kinh tế và sự đóng băng của thị
trường bất động sản, chỉ tính riêng tại Hà Nội tới cuối năm 2012, có vài chục
ngàn căn hộ dư thừa.
Điều mấu chốt tạo ra sự lệch pha trong số liệu trên cho thấy: thị trường
bất động sản đang có sự mất cân đối nghiêm trọng trong từng phân khúc thị
trường; Cung về phân khúc bất động sản cao cấp đang dư thừa, trong khi cung
về thị trường nhà ở xã hội, nhà ở thu nhập thấp đang còn rất khan hiếm mặc
dù tiềm năng về cầu, cụ thể là nhu cầu nhà ở xã hội vẫn còn rất lớn.
Xuất phát từ thực tế đó, Chính sách phát triển nhà ở xã hội mà cụ thể là
12
Chiến lược Phát triển nhà ở Quốc gia và Nghị quyết 02 của Chính phủ ra đời

liệu xây dựng, thị trường lao động) phát triển từ 1,5 - 2 USD, điều này cho
thấy, sự phát triển của thị trường bất động sản đóng góp không nhỏ cho sự
phát triển của nền kinh tế.
Mặt khác, phát triển các dự án xây dựng nhà ở xã hội góp phần kích
cầu một số các lĩnh vực khác như: ngành sản xuất vật liệu xây dựng, sản
phẩm gia dụng… những ngành phục vụ cho dự án xây dựng, góp phần giải
quyết việc làm cho một bộ phận lao động trong lĩnh vực này, tạo điều kiện
thúc đẩy tăng trưởng của các ngành kinh tế khác. Theo tính toán sơ bộ, nếu
thực hiện đầu tư xây dựng xây dựng 500.000 m2 nhà ở, sẽ cần tiêu thụ
khoảng 120 nghìn tấn xi măng, 30 nghìn tấn sắt thép và nhiều loại vật liệu
khác, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động ngành xây dựng.
Theo quy định của Luật Nhà ở, những dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã
hội sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế, miễn tiền sử dụng đất, được hưởng
chính sách ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển như: được vay vốn từ Quỹ phát
triển nhà ở của địa phương (nếu có), được Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh
xem xét, hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ lãi vay tuỳ theo khả năng ngân sách
của từng địa phương. Ngoài ra, Nhà nước còn hỗ trợ về các thiết kế mẫu, thiết
kế điển hình về nhà ở xã hội cũng như các tiến bộ khoa học kỹ thuật về thi
công xây lắp, nhằm giảm giá thành xây dựng công trình nhà ở cho các đối
tượng thu nhập thấp.
Những hỗ trợ trên của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc thu hút
các doanh nghiệp tư nhân đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, cung cấp nguồn cung
phong phú cho quỹ nhà ở phục vụ cho những đối tượng thực sự có nhu cầu về
nhà ở nhưng chưa có nhà ở do gặp khó khăn về tài chính. Nhất là trong điều
kiện hiện nay, khi các dự án xây dựng nhà ở thương mại đang gặp khó khăn
14
trong việc tiêu thụ sản phẩm do giá nhà ở thương mại cao, cơ chế ưu đãi, hỗ
trợ của nhà nước có tác dụng kích thích cho các nhà đầu tư xây dựng nhà ở xã
hội, góp phân kích thích đầu tư, phát triển kinh tế.
1.2.4 Hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai và bất động sản

Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 105/2007 phê duyệt
Định hướng chính sách tài chính nhà ở quốc gia đến năm 2020, nhằm mục
tiêu thu hút các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển các quan hệ tài chính nhà
ở thích ứng với cơ chế thị trường và tạo điều kiện trợ giúp các đối tượng
chính sách xã hội về nhà ở.
18/NQ-CP ngày 20 tháng 04 năm 2009, ban hành một số cơ chế, chính
sách nhằm đẩy mạnh phát triển nhà ở cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào
tạo và nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung, người
có thu nhập thấp tại khu vực đô thị.
Quyết định 67/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng 04 năm 2009 và thông tư
36/2009/TT-BXD ngày 16 tháng 11 năm 2009 ban hành quy chế, chính sách
phát triển nhà ở thu nhập thấp và thông tư hướng dẫn thi hành Quyết định.
Riêng đối với nhà ở công nhân các khu công nghiệp, Thủ tướng Chính
phủ ra Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg áp dụng phương thức xã hội hóa phát
triển nhà ở xã hội và nêu ra một số ưu đãi cho chủ đầu tư, đặc biệt là nếu
doanh nghiệp tự xây hoặc thuê nhà ở cho công nhân khi tính thuế thu nhập
doanh nghiệp.
Tháng 6 năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2010/NĐ-CP
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở, trong đó bổ sung thêm
loại nhà ở xã hội được phép mua đứt đoạn, bổ sung đối tượng được hưởng
nhà ở xã hội bao gồm cả học sinh, sinh viên các trường cao đẳng…Ngoài ra,
16
quy định nhà ở do nhà nước đầu tư xây dựng bằng vốn ngân sách nhà nước
chỉ để cho thuê.
Thông tư 16/2010/TT-BXD ngày 1 tháng 9 năm 2010, hướng dẫn thực
hiện một số nội dung của Nghị định 71/2010/NĐ-CP, trong đó nêu rõ nội
dung liên quan đến các chính sách hỗ trợ, các tổ chức cá nhân tham gia xây
dựng quỹ nhà ở xã hội.
Nghị định 34/2013/NĐ-CP và Thông tư 14/2013/TT-BXD quy định
chi tiết về việc quản lý, sử dụng nhà ở xã hội thuộc sở hữu nhà nước;

Đối với những địa phương có nhu cầu về nhà ở xã hội thì căn cứ vào
điều kiện cụ thể, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định yêu cầu chủ
đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại, khu đô thị mới trên địa bàn có quy
mô sử dụng đất từ 10ha trở lên có trách nhiệm dành 20% diện tích đất xây
dựng nhà ở đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật của các dự án này
để xây dựng nhà ở xã hội.
Trường hợp chủ đầu tư bàn giao diện tích đất quy định tại khoản này
cho chính quyền địa phương để xây dựng nhà ở xã hội thì được hoàn trả hoặc
được trừ vào các nghĩa vụ tài chính mà chủ đầu tư phải nộp vào ngân sách
nhà nước các khoản chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng và chi phí đầu tư
xây dựng hạ tầng kỹ thuật của diện tích đất dành để xây dựng nhà ở xã hội.
Đối với quỹ đất để xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao (sau đây gọi chung là
khu công nghiệp) thì thực hiện theo quy định sau đây:
Trường hợp khu công nghiệp đang trong giai đoạn hình thành thì Ban
quản lý khu công nghiệp của địa phương hoặc doanh nghiệp kinh doanh hạ
18
tầng khu công nghiệp có trách nhiệm tổ chức giải phóng mặt bằng và đầu tư
xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu nhà ở công nhân phục vụ cho khu công nghiệp
đó và chuyển giao cho chủ đầu tư dự án để xây dựng nhà ở công nhân. Chi
phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, đầu tư cơ sở hạ tầng khu nhà ở công
nhân được phân bổ vào tiền thuê đất tại khu công nghiệp;
Trường hợp khu công nghiệp đã hình thành thì Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh có trách nhiệm rà soát, bổ sung quy hoạch, tổ chức thu hồi đất và bồi
thường giải phóng mặt bằng để giao cho doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng
khu công nghiệp hoặc doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản để
xây dựng nhà ở cho công nhân thuê. Chi phí giải phóng mặt bằng được trích
từ nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất để lại cho địa phương.
1.3.3 Huy động các nguồn vốn để phát triển nhà ở xã hội
Với chủ trương xã hội hoá nguồn vốn phát triển nhà ở xã hội và huy

đầu tư quy định tại Điều 14 Nghị định 71/2010/NĐ-CP.
Sau khi có văn bản chấp thuận đầu tư, chủ đầu tư có trách nhiệm tổ
chức lập, thẩm định và phê duyệt dự án phát triển nhà ở theo nội dung
văn bản chấp thuận đầu tư, quy định của Nghị định 71/2010/NĐ-CP và pháp
luật có liên quan.
Trường hợp dự án phát triển nhà ở quy mô từ 2.500 căn trở lên thì chủ
đầu tư có trách nhiệm lập tờ trình đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem
xét để trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư dự án phát
triển nhà ở (dự án phát triển khu nhà ở hoặc dự án phát triển nhà ở độc lập)
trước khi lập, thẩm định và phê duyệt dự án.
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status