KHÓA LUẬN PHÁT TRIỂN DU LỊCH LỄ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI - Pdf 37

Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

LƢƠNG NHƢ HUẾ

PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH LỄ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – 2014


Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi


Danh mục các bảng ................................................................................................... i
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LOẠI
HÌNH DU LỊCH LỄ HỘI .......................................................................................10
1.1. Một số vấn đề về du lịch lễ hội .........................................................................10
1.1.1. Du lịch và các loại hình du lịch .......................................................................10
1.1.2. Quan niệm, đặc điểm và phân loại lễ hội .......................................................13
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm của du lịch lễ hội .......................................................17
1.2. Phát triển loại hình du lịch lễ hội ....................................................................19
1.2.1. Khái niệm phát triển du lịch lễ hội ..................................................................19
1.2.2. Mục tiêu và tiêu chí đánh giá phát triển loại hình du lịch lễ hội.....................19
1.2.3. Nội dung phát triển loại hình du lịch lễ hội ....................................................23
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển loại hình du lịch lễ hội .......................30
1.3. Kinh nghiệm phát triển loại hình du lịch lễ hội của tỉnh Nam Định và một số
bài học rút ra cho công tác phát triển loại hình du lịch lễ hội ..............................34
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển loại hình du lịch lễ hội của tỉnh Nam Định ...............34
1.3.2. Một số bài học rút ra cho công tác phát triển loại hình du lịch lễ hội.............40
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH LỄ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI .............................................................42
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tiềm năng phát triển loại hình du lịch
lễ hội tại Hà Nội .......................................................................................................42
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hà Nội ảnh hưởng đến phát triển loại
hình du lịch lễ hội ......................................................................................................42
2.1.2. Tiềm năng phát triển loại hình du lịch lễ hội ..................................................44
2.2. Thực trạng phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội
...................................................................................................................................52


Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho

3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện hoạch định phát triển du lịch lễ hội ....................88
3.2.2. Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch và các chính sách phát triển du
lịch lễ hội ...................................................................................................................93
3.2.3. Nhóm giải pháp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động du lịch lễ
hội trên địa bàn ........................................................................................................101


Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

3.3. Một số kiến nghị nhằm phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn Hà
Nội đến năm 2020 ..................................................................................................102
3.3.1. Kiến nghị với Trung ương............................................................................102
3.3.2. Kiến nghị với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch lễ hội ...........................103
3.3.3. Kiến nghị với dân cư địa phương nơi diễn ra hoạt động du lịch lễ hội ........104
KẾT LUẬN ............................................................................................................105
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................107
PHỤ LỤC


Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien

như vậy? Bởi một điều hết sức giản đơn, đó là: Lễ hội là một kho tàng văn hoá, nơi
lưu giữ những tín ngưỡng, tôn giáo, những sinh hoạt văn hoá văn nghệ, nơi phản
ánh tâm thức con người Việt Nam một cách trung thực nhất; nơi mở hội nhiều khi là
những danh lam thắng cảnh, một môi trường giàu tính văn hoá và đáp ứng được các
tiêu chuẩn của một điểm du lịch. Hơn thế nữa, với nền văn hóa đậm đà bản sắc dân
tộc, nước ta có gần 8000 lễ hội truyền thống hội tụ đủ các nét đẹp văn hóa khắp các
vùng miền, đây chính là một kho tài nguyên, là tiềm năng to lớn để phát triển ngành
du lịch. Khai thác khía cạnh này của văn hóa, có thể nói du lịch lễ hội đã và đang
mang lại những đóng góp to lớn cho sự phát triển của du lịch cả nước nói chung và
từng địa phương nơi diễn ra lễ hội nói riêng.
Các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng là những tỉnh có truyền thống lịch sử
văn hóa lâu đời, địa hình rất phong phú đa dạng, sầm uất với hệ thống sông lớn:
sông Hồng, sông Thái Bình, sông Đáy… có bờ biển dài hàng trăm km. Trong đó,
nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú là thủ đô Hà Nội, nơi đã sớm trở thành
trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Trải
qua hơn 1000 năm hình thành và phát triển, thủ đô Hà Nội có lịch sử lâu đời, có
truyền thống văn hóa đa dạng và giàu bản sắc. Tất cả những điều đó đã khiến cho
Hà Nội có đầy đủ điệu kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tài nguyên du lịch và những
yếu tố nguồn lực thuận lợi để phát triển ngành du lịch với tốc độ nhanh và bền
vững. Việc sát nhập tỉnh Hà Tây (cũ) và một số vùng phụ cận thuộc tỉnh Vĩnh Phúc,
tỉnh Hòa Bình vào Thành phố Hà Nội từ tháng 8 năm 2008 đã khiến cho Hà Nội trở
thành vùng tập trung nhiều lễ hội nhất của cả nước (1070 lễ hội), với những lễ hội
tiêu biểu như: Hội Gióng đền Sóc, Hội Chùa Hương, Hội Đền Và, Hội Cổ Loa, Hội
Gò Đống Đa, …..

1


Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho

cứu đã công bố với các đề tài như sau:
1. Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Những giải pháp chủ yếu để phát triển Du lịch
trên địa bàn Hà Nội” (năm 1996) của tác giả Bùi Thị Nga, trường Đại học Kinh tế
Quốc dân.
Công trình này đã phân tích vị trí và vai trò của ngành Du lịch Thủ đô Hà
Nội trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam và trong đợi sống kinh tế xã hội

2


Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

của Thủ đô, đánh giá ưu thế về tiềm năng phát triển du lịch Hà Nội. Qua đó, tác giả
khẳng định ngành Du lịch Hà Nội cần được phát triển để thực sự trở thành ngành
kinh tế quan trọng của Thủ đô, góp phần thúc đẩy các lĩnh vực kinh tế khác.
Quá trình hình thành và phát triển của ngành Du lịch Hà nội được tác giả
phân tích kỹ lưỡng. Ở đây tác giả đã phân chia quá trình này thành hai thời kỳ: thời
kỳ 1989 trở về trước và thời kỳ từ năm 1990 tới thời điểm công trình này được xây
dựng (1996). Trên cơ sở đó, tác giả đã tiến hành đánh giá thực trạng và hiệu quả
kinh doanh du lịch ở Hà Nội cụ thể là thời kỳ từ 1990 đến 1996; các nội dung đó
bao gồm: phân tích lượng khách quốc tế và nội địa đến, đánh giá hiệu quả kinh
doanh thông qua các chỉ tiêu doanh thu, chỉ tiêu nộp ngân sách Nhà nước, hiện
trạng các cơ sở lưu trú – khách sạn, lực lượng lao động, kết cấu hạ tầng kỹ thuật
phục vụ kinh doanh du lịch, thực trạng tổ chức và quản lý ngành Du lịch trên địa

công trình đầy tâm huyết, mang lại nhiều đóng góp quý báu cho ngành du lịch Hà
nội. Song, tác giả chưa đề cập đến quan điểm phát triển du lịch bền vững.
2. Luận án tiến sĩ Kinh tế “Giải pháp cơ bản khai thác tiềm năng du lịch của
Thủ đô và phụ cận nhằm phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2010” (năm 2004) của
tác giả Nguyễn Thị Nguyên Hồng, trường Đại học Thương Mại. Địa bàn nghiên cứu
của công trình này được giới hạn chủ yếu ở Thủ đô Hà Nội và 13 tỉnh phụ cận gồm:
Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc
Ninh, Bắc Giang, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Thái Bình. Công trình nghiên
cứu này giới hạn thời gian chủ yếu từ 1996 đến 2003.
Tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về tiềm năng du lịch và
khai thác tiềm năng du lịch liên vùng của một quốc gia, bao gồm các vấn đề: tiềm
năng du lịch, vai trò của tiềm năng du lịch trong phát triển du lịch, vai trò của khai
thác tiềm năng du lịch liên vùng.
Công trình nghiên cứu đã chỉ rõ tình hình phát triển của du lịch Hà Nội: bộ
máy quản lý Nhà nước về du lịch đã được kiện toàn dần, tuy nhiên chưa ngang tầm,
chưa tương xứng với yêu cầu thực tế; sản phẩm du lịch của Hà Nội có bước phát
triển song chất lượng còn nhiều bất cập; du lịch Hà Nội ngày càng quan tâm đến
công tác hoạch định và định hướng thị trường, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch
được chú trọng đầu tư tuy nhiên ngành du lịch Hà Nội chủ yếu mới dừng lại ở liên
kết hợp tác với các địa phương khác, văn phòng đại diện cho du lịch Hà Nội tại các
nước trong khu vực xuất hiện rất ít.
Ngoài ra, nguồn tiềm năng du lịch của Hà Nội và phụ cận cũng được tập
trung đánh giá tại công trình này, bao gồm: tài nguyên tự nhiên và nhân văn, cơ sở
hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực,... Nhìn chung tiềm năng du lịch
của Hà Nội và phụ cận được tác giả đánh giá là rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên
lại phân bố không đồng đều; chẳng hạn, Thủ đô Hà Nội có nguồn tài nguyên du lịch
nhân văn rất phong phú, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực về cơ bản đáp
ứng được nhu cầu phát triển của ngành du lịch nhưng nguồn tài nguyên du lịch tự

4

tỉnh Hà Tây thông qua bài học kinh nghiệm của một số địa phương như Đà Lạt, Yên
Tử, Thành phố Huế trong việc giữ gìn và phát triển loại hình du lịch lễ hội cũng
được đề cập đến khá cụ thể tại công trình này.
Qua công trình này, người đọc cũng hiểu rõ hơn về đặc điểm tự nhiên, văn
hóa, xã hội, một số lễ hội điển hình và tình hình kinh doanh du lịch của Hà Tây
trong khoảng thời gian từ 2001 – 2007. Tác giả đã tập trung phân tích thực trạng
công tác giữ gìn và phát triển loại hình du lịch lễ hội tại Hà Tây như lượng khách
đến với các điểm du lịch lễ hội; công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của
các lễ hội; công tác quản lý du lịch lễ hội; bảo vệ môi trường; bảo vệ di tích tại các

5


Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

điểm du lịch lễ hội; kinh doanh dịch vụ phục vụ hoạt động du lịch lễ hội; công tác
đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tại các điểm du lịch lễ hội … ở Hà
Tây trong giai đoạn 2001 – 2007.
Tác giả cũng đã đóng góp một số giải pháp cho Ủy ban nhân dân và Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tây (chẳng hạn như giải pháp xây dựng, ban hành và
tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách – chính sách đầu tư, chính sách tài
chính; tăng cường công tác xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch du lịch lễ hội;
giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về du lịch lễ hội; giải pháp
quản lý và khai thác có hiệu quả các di tích, danh lam thắng cảnh tại các điểm du

mien phi
phi

cứu lý luận và phân tích thực trạng phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn
Thành phố Hà Nội.
Trên cơ sở đó, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển loại hình du lịch lễ hội ở một địa
phương.
- Phân tích thực trạng phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn Thành
phố Hà Nội giai đoạn 2009 - 2013, từ đó chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu cũng
như những nguyên nhân của những điểm mạnh, điểm yếu đó.
- Đề xuất các giải pháp cho chính quyền thành phố Hà Nội nhằm phát triển
loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội đến năm 2020.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển loại hình du lịch lễ hội.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: quản lý phát triển loại hình du lịch lễ hội.
+ Về không gian: nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội
+ Về thời gian: số liệu thứ cấp được thu thập từ 2009 – 2013, và đề xuất giải
pháp đến năm 2020.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ
thể sau đây:
- Bước 1: Thu thập tài liệu (sách, tạp chí, luận án, luận văn, ...) để hệ thống
hóa cơ sở lý luận về phát triển loại hình du lịch lễ hội. Phương pháp nghiên cứu sử
dụng trong bước này là phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp tổng hợp và
mô hình hóa.
- Bước 2: Thu thập thông tin, dữ liệu thứ cấp từ các nguồn báo cáo thống kê

Nội: một số nét khái quát về các tiềm năng phát triển du lịch lễ hội của Hà Nội; thực
trạng phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn Hà Nội, thực trạng các nội dung
chủ yếu được thực hiện bởi chính quyền Thành phố Hà Nội nhằm phát triển du lịch
lễ hội và đánh giá chung về việc phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn Hà
Nội.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa
bàn Hà Nội: đối với Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, đối với Sở Văn hóa Thể
thao và Du lịch Hà Nội, đối với chính quyền địa phương các cấp; và đề xuất kiến
nghị: đối với Trung Ương, đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch; đối với dân
cư địa phương nơi diễn ra hoạt động du lịch lễ hội nhằm phát triển bền vững loại
hình du lịch lễ hội trên địa bàn Hà Nội.

7. Bố cục luận văn
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển loại hình du lịch lễ hội.

8


Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

- Chương 2: Thực trạng phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn Thành
phố Hà Nội.
- Chương 3: Các giải pháp phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn

mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định [13,
tr.11].
Tiếp cận du lịch dưới góc độ là một ngành kinh tế:
Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn
du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp
ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu
cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp [3, tr.19].
Tiếp cận du lịch dưới góc độ tổng hợp:
Để phản ánh một cách đầy đủ và toàn diện các hoạt động, các mối quan hệ
của du lịch, theo cách tiếp cận tổng hợp, du lịch được hiểu là toàn bộ các hiện tượng

10


Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

và các mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh
doanh, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút
và tiếp đón khách du lịch [13, tr.12].
Như vậy, từ các cách tiếp cận khác nhau, ta có thể thấy du lịch là một hoạt
động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết
sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm
của ngành văn hóa – xã hội. Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều quốc gia không
chỉ đem lại lợi ích kinh tế, mà còn mang lại cả những lợi ích to lớn về chính trị, văn

lieu mien
mien phi
phi

người nhân chuyến dịp đó đã tranh thủ thời gian dỗi để tham quan, nghỉ ngơi. Trên
cơ sở đó, có thể phân chia du lịch thành hai nhóm:
- Nhóm có mục đích du lịch thuần túy: bao gồm các loại hình du lịch tham
quan, giải trí, nghỉ dưỡng, thể thao, khám phá...
- Nhóm có mục đích du lịch kết hợp: bao gồm các loại hình du lịch tín
ngưỡng, học tập nghiên cứu, hội họp, thể thao (thi đấu, cổ vũ), kinh doanh, công
tác, chữa bệnh, thăm thân…
Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:
- Du lịch nội địa: Là chuyến đi của người đi du lịch từ chỗ này sang chỗ khác
trong phạm vi đất nước của mình.
- Du lịch quốc tế: Là chuyến đi của người du lịch từ nước này sang nước
khác.
Phân loại theo đặc điểm địa lý của nơi đến:
- Du lịch nghỉ biển
- Du lịch leo núi
- Du lịch đô thị
- Du lịch thôn quê
Phân loại theo phương tiện vận chuyển
- Du lịch bằng ô tô
- Du lịch bằng xe đạp
- Du lịch bằng máy bay
- Du lịch bằng tàu hỏa
- Du lịch bằng tàu thủy
Phân loại theo loại hình lưu trú
- Du lịch ở khách sạn
- Du lịch ở motel

Việc phân loại các loại hình du lịch như kể trên có ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, phân loại du lịch giúp xác định được những đóng góp kinh tế và
những hạn chế của từng loại hình du lịch. Qua đó, các tổ chức quản lý du lịch sẽ
hình thành chính sách khuyến khích hay hạn chế đối với từng thể loại du lịch tùy
theo các mục tiêu và chính sách phát triển chung của mỗi địa phương.
Thứ hai, phân loại du lịch giúp hoạt động marketing của các điểm đến du
lịch và các tổ chức kinh doanh du lịch được hiệu quả. Qua việc phân tích các loại
hình du lịch đang tồn tại có thể xác định được cơ cấu khách hàng mục tiêu của điểm
đến du lịch hay cơ sở kinh doanh du lịch; cho phép xác định được thế mạnh du lịch
của một địa phương, một quốc gia và làm cơ sở cho việc phân tích tính đa dạng của
của hoạt động du lịch tại các điểm đến.

1.1.2. Quan niệm, đặc điểm và phân loại lễ hội
1.1.2.1. Quan niệm về lễ hội

13


Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

Trong các bộ phận cấu thành nên tài nguyên du lịch nhân văn thì lễ hội là
một tài nguyên rất có giá trị để phục vụ cho phát triển du lịch. Lễ hội là hình thức
sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả. Lễ hội là một dịp để
mọi người hướng về một sự kiện lịch sử của đất nước. Lễ hội cũng là dịp để con

Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

Như một ước lệ, lễ hội luôn được phân chia làm hai phần: Lễ và Hội.
+ Phần Lễ: “là các nghi thức được thực thi trong lễ hội với các nghi thức uy
nghiêm như tế thần, yết cáo ở các đình, đền. Phần này thường do các lão làng đảm
nhiệm. Phần Lễ là nền tảng của lễ hội, tạo không khí thiêng liêng và những giá trị
tinh thần tốt đẹp trước khi chuyển sang phần hội” [22, tr. 58].
Phần Lễ không đơn lẻ mà là một hệ thống liên kết, có trật tự, cùng hỗ trợ
nhau. Trong lễ hội truyền thống, phần lễ thường gồm lễ rước nước, lễ mộc dục (lễ
tắm rửa tượng Thần), lễ tế gia quan, đám rước, đại lễ (là nghi thức lễ trang trọng
nhất), lễ túc trực, lễ hèm.
Hiện nay, phần Lễ đã được đơn giản hóa nhưng vẫn giữ được các chuẩn mực
chung. Tuy nhiên, nhiều người đánh giá, tính thiêng liêng và trang trọng của phần lễ
trong các lễ hội truyền thống không còn được nguyên vẹn như trước đây.
+ Phần Hội nhằm mục đích vui chơi, giải trí, giao lưu ... Đây là thời điểm để
người tham dự lễ hội có dịp nghỉ ngơi, tham gia vào các trò chơi, giao lưu với nhiều
người khác, được thể hiện bản thân mình mà trong điều kiện bình thường họ không
thể hoặc không dám bộc lộ [22, tr. 58].
Hội là phần tổ chức các trò diễn và trò chơi. Trò diễn là hoạt động mang tính
nghi lễ, diễn lại toàn bộ hay một phần hoạt động của cuộc đời nhân vật thờ phụng.
Chẳng hạn trò diễn Thánh Gióng đánh giặc Ân trong ngày hội Gióng, hoặc trò
nghiềm quân trong lễ hội làng Yên Sở (hội Giá), huyện Hoài Đức – ngoại thành Hà
Nội. Phần lớn các trò chơi đều xuất phát từ ước vọng của con người. Xuất phát từ
ước vọng cầu mưa có các trò đốt pháo, ném pháo, đánh pháo đất.... Xuất phát từ ước

nhà nghiên cứu.
Trong tác phẩm “Danh thắng, di tích và lễ hội truyền thống Việt Nam”, tác
giả Lưu Minh Trị dựa vào nội dung tổng thể của lễ hội đã phân loại:
- Lễ hội tái hiện những nghi thức sinh hoạt nông nghiệp như: hội săn bắn, hội
đánh cá, hội cầu mưa, hội mùa xuân (thường kèm theo các lễ: thờ thần lúa, thần mặt
trời, lễ hội điền, thượng điền, ...).
- Lễ hội tái diễn những sự kiện lịch sử, nhằm kỷ niệm và tôn vinh các anh
hùng dân tộc, danh nhân, những người có công như lễ hội đền Đồng Nhân (Hà Nội)
tôn vinh Hai Bà Trưng, lễ hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương) tôn vinh Trần Hưng Đạo,
lễ hội đền Trạng (Hải Phòng) tôn vinh Nguyễn Bỉnh Khiêm, ...
- Lễ hội tái hiện các sinh hoạt xã hội như lễ hội làng nghề Đại Bái (Gia Bình,
Bắc Ninh), lễ hội văn hóa nghệ thuật như hội Lim (Từ Sơn, Bắc Ninh), hội Lỗ Khê
(hát ca trù ở Đông Anh, Hà Nội), ... [25, tr. 15].
Trong tác phẩm “Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian”, tác giả Đinh Gia
Khánh đã đưa ra quan điểm phân loại lễ hội dân gian như sau: “Có nhiều cách phân
loại hội lễ. Cách phân loại đơn giản nhất là chia hội lễ thành hội lễ vốn không có
nguồn gốc tôn giáo và hội lễ có nguồn gốc tôn giáo” [10, tr. 13].
- Lễ hội không có nguồn gốc tôn giáo: Lễ hội nguyên thủy gắn với nghi thức
phồn thực, với sản xuất nông nghiệp.

16


Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

- Du lịch lễ hội thường gắn với không gian thời gian và địa điểm nhất định.
Chẳng hạn lễ hội Đền Hùng chỉ diễn ra 1 lần vào dịp 10/3 âm lịch hàng năm tại tỉnh

17


Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

Phú Thọ, lễ hội khai ấn Đền Trần vào đêm 14 rạng sáng 15 tháng Giêng âm lịch tại
tỉnh Nam Định, lễ hội chọi trâu Đồ Sơn chỉ diễn ra 1 lần vào ngày 9/8 hàng năm tại
Đồ Sơn, Hải Phòng…. Do vậy, việc tổ chức các hoạt động lễ hội phải nắm chắc thời
gian, địa điểm và các hoạt động văn hóa đặc trưng, các nội dung chính của lễ hội để
khai thác đúng hướng và hiệu quả. Thời gian, không gian thiêng và tính chất thiêng
của lễ hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hút khách du lịch. Bởi vì nếu các yếu
tố này được “thiêng hóa” khách du lịch sẽ tri giác được cái “linh thiêng” của lễ hội,
nó có sức mạnh tinh thần to lớn, là niềm tin thiêng liêng để lôi cuốn con người trở
về với quê hương cội nguồn. Đây chính là một đặc điểm riêng biệt của du lịch lễ hội
mà không loại hình du lịch nào có được.
- Du lịch lễ hội mang tính mùa vụ. Do du lịch lễ hội luôn gắn với thời gian
mở hội nên thường diễn ra theo mùa vụ. Các lễ hội ở Việt Nam được tổ chức chủ
yếu vào mùa xuân, một số ít lễ hội tổ chức vào mùa thu. Do vậy, yếu tố mùa vụ của
lễ hội sẽ chi phối lớn đến các thiết chế phục vụ hoạt động du lịch lễ hội như hệ
thống tài nguyên du lịch, quy hoạch tuyến du lịch, điểm du lịch, các hoạt động dịch
vụ, các cơ sở lưu trú, các chương trình du lịch … cũng phải tuân theo các yếu tố

nhau. Các hệ thống kiến trúc của Đình, Đền, Chùa, các di tích lịch sử gắn với các sự
kiện, các nhân vật thờ tự là phần vật thể. Còn lễ hội tại các di tích ấy mới là phần
hồn, phần phi vật thể chứa đựng giá trị văn hóa lịch sử. Chẳng hạn lễ hội Đền Hùng
và hệ thống di tích lịch sử tại đền Hùng, lễ hội Đền Trần và các di tích Đền Trần…
đang là điểm hấp dẫn thu hút đông đảo du khách hàng năm. Do vậy để phát triển tốt
du lịch lễ hội thì bên cạnh việc bảo tồn các giá trị văn hóa lễ hội truyền thống cũng
cần bảo tồn các di tích đảm bảo tính nguyên bản của nó.

1.2. Phát triển loại hình du lịch lễ hội
1.2.1. Khái niệm phát triển du lịch lễ hội
Phát triển du lịch lễ hội là việc đáp ứng nhu cầu tham quan và tham gia vào
lễ hội của du khách thập phương, là việc làm thế nào để lượng khách du lịch đến với
lễ hội ngày một tăng cao mang lại hiệu quả kinh tế cho ngành du lịch nhưng vẫn
phải đảm bảo tiêu chí bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của
các lễ hội và tuân thủ theo quan điểm phát triển bền vững của ngành du lịch [33, tr.
34].

1.2.2. Mục tiêu và tiêu chí đánh giá phát triển loại hình du lịch lễ
hội
1.2.2.1. Mục tiêu phát triển loại hình du lịch lễ hội
- Phát triển du lịch lễ hội nhằm góp phần phát triển kinh tế của địa phương
nơi diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch lễ hội.
- Phát triển du lịch lễ hội nhằm góp phần phổ biến rộng rãi văn hóa của từng
địa phương tới mọi miền đất nước. Thông qua các chuyến du lịch lễ hội, được tận
mắt chứng kiến và nghe thuyết minh về các hoạt động trong lễ hội, kết hợp với việc
tham gia vào các trò chơi trong lễ hội, du khách có cơ hội hiểu biết một cách tường

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status