Phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LƢƠNG NHƢ HUẾ

PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH LỄ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2014



Mục lục

Mục lục
Danh mục các bảng i
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LOẠI
HÌNH DU LỊCH LỄ HỘI 10
1.1. Một số vấn đề về du lịch lễ hội 10
1.1.1. Du lịch và các loại hình du lịch 10
1.1.2. Quan niệm, đặc điểm và phân loại lễ hội 13
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm của du lịch lễ hội 17
1.2. Phát triển loại hình du lịch lễ hội 19
1.2.1. Khái niệm phát triển du lịch lễ hội 19
1.2.2. Mục tiêu và tiêu chí đánh giá phát triển loại hình du lịch lễ hội 19
1.2.3. Nội dung phát triển loại hình du lịch lễ hội 23
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển loại hình du lịch lễ hội 30
1.3. Kinh nghiệm phát triển loại hình du lịch lễ hội của tỉnh Nam Định và một số
bài học rút ra cho công tác phát triển loại hình du lịch lễ hội 34
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển loại hình du lịch lễ hội của tỉnh Nam Định 34
1.3.2. Một số bài học rút ra cho công tác phát triển loại hình du lịch lễ hội 40
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH LỄ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 42
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tiềm năng phát triển loại hình du lịch
lễ hội tại Hà Nội 42
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hà Nội ảnh hưởng đến phát triển loại
hình du lịch lễ hội 42
2.1.2. Tiềm năng phát triển loại hình du lịch lễ hội 44
2.2. Thực trạng phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội
52

hội trên địa bàn 101 3.3. Một số kiến nghị nhằm phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn Hà
Nội đến năm 2020 102
3.3.1. Kiến nghị với Trung ương 102
3.3.2. Kiến nghị với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch lễ hội 103
3.3.3. Kiến nghị với dân cư địa phương nơi diễn ra hoạt động du lịch lễ hội 104
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC i

Danh mục các bảng

Bảng 2.1. Cơ cấu doanh nghiệp kinh doanh du lịch tại Hà Nội giai đoạn 2009 -
2013 52
Bảng 2.2. Lượng khách du lịch quốc tế đến Hà Nội giai đoạn 2009-2013 54
Bảng 2.3. Lượng khách du lịch nội địa đến Hà Nội giai đoạn 2009 – 2013 55
Bảng 2.4. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh du lịch của Hà Nội giai đoạn 2009 -
2013 55
Bảng 2.5. Số lượng lao động du lịch của Hà Nội giai đoạn 2009 - 2013 56
Bảng 2.6. Cơ cấu lao động du lịch của Hà Nội giai đoạn 2009 – 2013 58
Bảng 2.7. Cơ cấu khách du lịch lễ hội đến Hà Nội giai đoạn 2009 - 2013 60
Bảng 2.8. Lượng khách du lịch tại một số lễ hội ở Hà Nội giai đoạn 2009 – 2013 . 61
Bảng 2.9: Doanh thu du lịch lễ hội và tỷ trọng của du lịch lễ hội trong GDP của Hà
Nội giai đoạn 2009 - 2013 63
1


Tuy nhiên trên thực tế việc khai thác các lễ hội, các di tích lịch sử để phát
triển loại hình du lịch lễ hội ở Hà Nội chưa thực sự được chú trọng, chưa đạt được
hiệu quả cao. Theo báo cáo tổng kết hoạt động du lịch Hà Nội hàng năm của Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, khách du lịch đến với các lễ hội của Hà Nội
từ năm 2009 trở lại đây chủ yếu tập trung vào 2 lễ hội lớn là lễ hội chùa Hương và
lễ hội Gióng (2 lễ hội này thu hút hơn 50% tổng lượng khách du lịch lễ hội của Hà
Nội). Doanh thu từ du lịch lễ hội của Hà Nội mới chỉ chiếm chưa tròn 1% trong
tổng GDP của toàn thành phố. Chứng tỏ sức hấp dẫn khách du lịch của các lễ hội tại
Hà Nội chưa tương xứng với tiềm năng du lịch lễ hội nơi đây.
Xuất phát từ những thực tế nêu trên, việc nghiên cứu phát triển loại hình du
lịch lễ hội tại Hà Nội, nhất là phát triển theo hướng bền vững là rất cần thiết và cấp
bách. Nhất thiết phải sớm tìm ra nguyên nhân vì đâu mà việc khai thác các lễ hội
nhằm phục vụ phát triển du lịch ở Hà Hội chưa được chú trọng. Làm thế nào để
khai thác thật hiệu quả các hoạt động lễ hội nhằm phục vụ cho việc phát triển du
lịch Hà Nội?
Là một cán bộ quản lý ngành Du lịch của Hà Nội, thấy được sự bức xúc và
cấp thiết của vấn đề, tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Phát triển loại hình du lịch
lễ hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế
của mình, với mong muốn sẽ đóng góp được một số ý kiến cho Ủy ban nhân dân
Thành phố Hà Nội và các ban ngành liên quan, nhằm phát triển loại hình du lịch lễ
hội tại Hà Nội một cách mạnh mẽ và bền vững hơn nữa.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu có thể nêu ra một số công trình nghiên
cứu đã công bố với các đề tài như sau:
1. Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Những giải pháp chủ yếu để phát triển Du lịch
trên địa bàn Hà Nội” (năm 1996) của tác giả Bùi Thị Nga, trường Đại học Kinh tế
Quốc dân.
Công trình này đã phân tích vị trí và vai trò của ngành Du lịch Thủ đô Hà
Nội trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam và trong đợi sống kinh tế xã hội

được triển khai với bước đi phù hợp trong thực tiễn.
4

Có thể khẳng định rằng công trình nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Nga là một
công trình đầy tâm huyết, mang lại nhiều đóng góp quý báu cho ngành du lịch Hà
nội. Song, tác giả chưa đề cập đến quan điểm phát triển du lịch bền vững.
2. Luận án tiến sĩ Kinh tế “Giải pháp cơ bản khai thác tiềm năng du lịch của
Thủ đô và phụ cận nhằm phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2010” (năm 2004) của
tác giả Nguyễn Thị Nguyên Hồng, trường Đại học Thương Mại. Địa bàn nghiên cứu
của công trình này được giới hạn chủ yếu ở Thủ đô Hà Nội và 13 tỉnh phụ cận gồm:
Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc
Ninh, Bắc Giang, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Thái Bình. Công trình nghiên
cứu này giới hạn thời gian chủ yếu từ 1996 đến 2003.
Tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về tiềm năng du lịch và
khai thác tiềm năng du lịch liên vùng của một quốc gia, bao gồm các vấn đề: tiềm
năng du lịch, vai trò của tiềm năng du lịch trong phát triển du lịch, vai trò của khai
thác tiềm năng du lịch liên vùng.
Công trình nghiên cứu đã chỉ rõ tình hình phát triển của du lịch Hà Nội: bộ
máy quản lý Nhà nước về du lịch đã được kiện toàn dần, tuy nhiên chưa ngang tầm,
chưa tương xứng với yêu cầu thực tế; sản phẩm du lịch của Hà Nội có bước phát
triển song chất lượng còn nhiều bất cập; du lịch Hà Nội ngày càng quan tâm đến
công tác hoạch định và định hướng thị trường, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch
được chú trọng đầu tư tuy nhiên ngành du lịch Hà Nội chủ yếu mới dừng lại ở liên
kết hợp tác với các địa phương khác, văn phòng đại diện cho du lịch Hà Nội tại các
nước trong khu vực xuất hiện rất ít.
Ngoài ra, nguồn tiềm năng du lịch của Hà Nội và phụ cận cũng được tập
trung đánh giá tại công trình này, bao gồm: tài nguyên tự nhiên và nhân văn, cơ sở
hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực, Nhìn chung tiềm năng du lịch
của Hà Nội và phụ cận được tác giả đánh giá là rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên
lại phân bố không đồng đều; chẳng hạn, Thủ đô Hà Nội có nguồn tài nguyên du lịch

công tác giữ gìn và phát triển loại hình du lịch lễ hội tại Hà Tây như lượng khách
đến với các điểm du lịch lễ hội; công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của
các lễ hội; công tác quản lý du lịch lễ hội; bảo vệ môi trường; bảo vệ di tích tại các
6

điểm du lịch lễ hội; kinh doanh dịch vụ phục vụ hoạt động du lịch lễ hội; công tác
đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tại các điểm du lịch lễ hội … ở Hà
Tây trong giai đoạn 2001 – 2007.
Tác giả cũng đã đóng góp một số giải pháp cho Ủy ban nhân dân và Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tây (chẳng hạn như giải pháp xây dựng, ban hành và
tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách – chính sách đầu tư, chính sách tài
chính; tăng cường công tác xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch du lịch lễ hội;
giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về du lịch lễ hội; giải pháp
quản lý và khai thác có hiệu quả các di tích, danh lam thắng cảnh tại các điểm du
lịch lễ hội); cho các doanh nghiệp du lịch và các doanh nghiệp khác (giải pháp nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch lễ hội, nâng cao chất lượng sản phẩm tại các
điểm du lịch lễ hội, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch) nhằm giữ gìn và phát
triển loại hình du lịch lễ hội Hà Tây đến năm 2020. Một số kiến nghị với Chính phủ
và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng được nêu rõ, như: tạo môi trường pháp lý
thuận lợi cho việc giữ gìn và phát triển loại hình du lịch lễ hội; nâng cao nhận thức
của toàn xã hội, thực hiện chính sách xã hội hóa hoạt động du lịch lễ hội.
Tuy nhiên, thực trạng quản lý nhà nước về du lịch lễ hội của tỉnh Hà Tây
chưa được chú trọng phân tích kỹ tại công trình nghiên cứu này.
Có thể nhận thấy các đề tài trên đã đề cập đến các cơ sở lý luận, các vấn đề,
thực trạng và các giải pháp, kiến nghị để khai thác tiềm năng du lịch, phát triển các
loại hình du lịch khác nhau tại địa bàn Thủ đô Hà Nội, các vùng phụ cận và một số
địa phương khác của Việt Nam. Song chưa có công trình nghiên cứu, bài luận văn
nào nghiên cứu về các lễ hội tại Thành phố Hà Nội. Do đó, tác giả đã lựa chọn đề
tài “Phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội” làm đề tài
cho luận văn của mình. Cho đến nay đề tài không trùng lặp với bất kỳ một công

- Bước 2: Thu thập thông tin, dữ liệu thứ cấp từ các nguồn báo cáo thống kê
của Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Hà Nội, Cục thống kê Hà Nội, Trung tâm xúc
tiến du lịch Hà Nội để phân tích thực trạng phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa
bàn thành phố Hà Nội, thực trạng các nội dung chủ yếu được thực hiện bởi chính
8

quyền thành phố Hà Nội nhằm phát triển loại hình du lịch lễ hội. Phương pháp
nghiên cứu sử dụng trong bước này là phương pháp thống kê, phân tích so sánh,
tổng hợp.
- Bước 3: Phân tích các điểm mạnh, điểm yếu trong phát triển loại hình du
lịch lễ hội của chính quyền thành phố Hà Nội, từ đó xác định các nguyên nhân đãn
đến các điểm yếu. Phương pháp nghiên cứu là phương pháp tổng hợp, quy nạp,
phân tích.
6. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển loại hình du lịch lễ
hội: du lịch lễ hội, các nhân tố thuộc môi trường bên trong và bên ngoài của chính
quyền cấp tỉnh/ thành phố ảnh hưởng đến việc phát triển loại hình du lịch lễ hội; các
tiêu chí đánh giá việc phát triển loại hình du lịch lễ hội; kinh nghiệm của tỉnh Nam
Định trong việc phát triển loại hình du lịch lễ hội.
- Phân tích thực trạng phát triển loại hình du lịch lễ hội tại Thành phố Hà
Nội: một số nét khái quát về các tiềm năng phát triển du lịch lễ hội của Hà Nội; thực
trạng phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn Hà Nội, thực trạng các nội dung
chủ yếu được thực hiện bởi chính quyền Thành phố Hà Nội nhằm phát triển du lịch
lễ hội và đánh giá chung về việc phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa bàn Hà
Nội.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch lễ hội trên địa
bàn Hà Nội: đối với Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, đối với Sở Văn hóa Thể
thao và Du lịch Hà Nội, đối với chính quyền địa phương các cấp; và đề xuất kiến
nghị: đối với Trung Ương, đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch; đối với dân
cư địa phương nơi diễn ra hoạt động du lịch lễ hội nhằm phát triển bền vững loại

tr.11].
Tiếp cận du lịch dưới góc độ là một ngành kinh tế:
Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn
du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp
ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu
cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị -
xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp [3, tr.19].
Tiếp cận du lịch dưới góc độ tổng hợp:
Để phản ánh một cách đầy đủ và toàn diện các hoạt động, các mối quan hệ
của du lịch, theo cách tiếp cận tổng hợp, du lịch được hiểu là toàn bộ các hiện tượng
11

và các mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh
doanh, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút
và tiếp đón khách du lịch [13, tr.12].
Như vậy, từ các cách tiếp cận khác nhau, ta có thể thấy du lịch là một hoạt
động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết
sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm
của ngành văn hóa – xã hội. Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều quốc gia không
chỉ đem lại lợi ích kinh tế, mà còn mang lại cả những lợi ích to lớn về chính trị, văn
hóa, xã hội và giáo dục.
1.1.1.2. Các loại hình du lịch
Hoạt động du lịch có thể được phân chia thành các nhóm khác nhau tùy
thuộc vào các tiêu chí đưa ra. Hiện nay việc phân chia các loại hình du lịch chủ yếu
theo các tiêu chí cơ bản sau:
Phân loại theo môi trường tài nguyên: Du lịch là một ngành có định hướng
tài nguyên rõ rệt. Tùy vào môi trường tài nguyên, hoạt động du lịch có thể chia
thành:
- Du lịch văn hóa: hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân
văn hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn, thu

Phân loại theo phương tiện vận chuyển
- Du lịch bằng ô tô
- Du lịch bằng xe đạp
- Du lịch bằng máy bay
- Du lịch bằng tàu hỏa
- Du lịch bằng tàu thủy
Phân loại theo loại hình lưu trú
- Du lịch ở khách sạn
- Du lịch ở motel
- Du lịch ở Camping
- Du lịch ở Bungalow
- Du lịch ở làng du lịch…
13

Phân loại theo độ dài chuyến đi
- Du lịch ngắn ngày
- Du lịch dài ngày
Phân loại theo hình thức tổ chức
- Du lịch tập thể
- Du lịch cá nhân
- Du lịch gia đình
Phân loại theo phương thức hợp đồng
- Du lịch trọn gói
- Du lịch từng phần
Phân loại theo lứa tuổi
- Du lịch thiếu niên
- Du lịch thanh niên
- Du lịch trung niên
- Du lịch cao niên
Việc phân loại các loại hình du lịch như kể trên có ý nghĩa như sau:

được biết đến với lễ hội Ka Te, lễ hội Lồng Tồng là lễ hội của người Tày Trong
lễ hội thường có người tham dự là những người tổ chức, người dân địa phương,
những người hành hương, khách du lịch,
- Không gian, thời gian của lễ hội:
Lễ hội thường được tổ chức tại các di tích lịch sử - văn hóa, các danh lam
thắng cảnh, những địa danh nổi tiếng, hoặc ngay tại các sân đình, đền chùa, Để tổ
chức lễ hội, cần phải có không gian rộng và có các điều kiện về cơ sở vật chất, cơ
sở hạ tầng cần thiết. Lễ hội ở nước ta phân bố dọc khắp chiều dài đất nước.
Những lễ hội truyền thống thường tập trung trong hai mùa là mùa xuân và
mùa thu, đó là thời điểm nghỉ ngơi của nhà nông. Hiện nay, để thu hút khách du
lịch, quảng bá về du lịch, nhiều lễ hội nói chung và Festival du lịch nói riêng được
tổ chức vào nhiều thời điểm trong năm.
- Cấu trúc của lễ hội:
15

Như một ước lệ, lễ hội luôn được phân chia làm hai phần: Lễ và Hội.
+ Phần Lễ: “là các nghi thức được thực thi trong lễ hội với các nghi thức uy
nghiêm như tế thần, yết cáo ở các đình, đền. Phần này thường do các lão làng đảm
nhiệm. Phần Lễ là nền tảng của lễ hội, tạo không khí thiêng liêng và những giá trị
tinh thần tốt đẹp trước khi chuyển sang phần hội” [22, tr. 58].
Phần Lễ không đơn lẻ mà là một hệ thống liên kết, có trật tự, cùng hỗ trợ
nhau. Trong lễ hội truyền thống, phần lễ thường gồm lễ rước nước, lễ mộc dục (lễ
tắm rửa tượng Thần), lễ tế gia quan, đám rước, đại lễ (là nghi thức lễ trang trọng
nhất), lễ túc trực, lễ hèm.
Hiện nay, phần Lễ đã được đơn giản hóa nhưng vẫn giữ được các chuẩn mực
chung. Tuy nhiên, nhiều người đánh giá, tính thiêng liêng và trang trọng của phần lễ
trong các lễ hội truyền thống không còn được nguyên vẹn như trước đây.
+ Phần Hội nhằm mục đích vui chơi, giải trí, giao lưu Đây là thời điểm để
người tham dự lễ hội có dịp nghỉ ngơi, tham gia vào các trò chơi, giao lưu với nhiều
người khác, được thể hiện bản thân mình mà trong điều kiện bình thường họ không

đánh cá, hội cầu mưa, hội mùa xuân (thường kèm theo các lễ: thờ thần lúa, thần mặt
trời, lễ hội điền, thượng điền, ).
- Lễ hội tái diễn những sự kiện lịch sử, nhằm kỷ niệm và tôn vinh các anh
hùng dân tộc, danh nhân, những người có công như lễ hội đền Đồng Nhân (Hà Nội)
tôn vinh Hai Bà Trưng, lễ hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương) tôn vinh Trần Hưng Đạo,
lễ hội đền Trạng (Hải Phòng) tôn vinh Nguyễn Bỉnh Khiêm,
- Lễ hội tái hiện các sinh hoạt xã hội như lễ hội làng nghề Đại Bái (Gia Bình,
Bắc Ninh), lễ hội văn hóa nghệ thuật như hội Lim (Từ Sơn, Bắc Ninh), hội Lỗ Khê
(hát ca trù ở Đông Anh, Hà Nội), [25, tr. 15].
Trong tác phẩm “Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian”, tác giả Đinh Gia
Khánh đã đưa ra quan điểm phân loại lễ hội dân gian như sau: “Có nhiều cách phân
loại hội lễ. Cách phân loại đơn giản nhất là chia hội lễ thành hội lễ vốn không có
nguồn gốc tôn giáo và hội lễ có nguồn gốc tôn giáo” [10, tr. 13].
- Lễ hội không có nguồn gốc tôn giáo: Lễ hội nguyên thủy gắn với nghi thức
phồn thực, với sản xuất nông nghiệp.
17

- Lễ hội có nguồn gốc tôn giáo: xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp và
tôn giáo đã ra đời (Bà la môn giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo,…).
Tác giả Ngô Đức Thịnh lại căn cứ theo tiêu thức thời gian phân chia lễ hội
thành hai loại:
- Lễ hội truyền thống: lễ hội truyền thống bao gồm tất cả các loại hình lễ hội
được đề cập trong tất cả các cách thức phân loại. Đây là những lễ hội có lịch sử hình
thành, tồn tại và phát triển lâu dài trong suốt chiều dài lịch sử của địa phương hay
quốc gia; chứa đựng trong mình không chỉ những giá trị văn hóa đặc sắc mà còn là
một phần nhân chứng sống động của lịch sử, cung cấp những bằng chứng về quá
trình dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước của nhân dân trên khắp lãnh thổ
nước Việt Nam [23, tr. 137].
- Lễ hội hiện đại: Lễ hội hiện đại ngày nay đang ngày càng phát triển và thu
hút được sự quan tâm của những người làm du lịch, khách du lịch và người dân

yếu vào mùa xuân, một số ít lễ hội tổ chức vào mùa thu. Do vậy, yếu tố mùa vụ của
lễ hội sẽ chi phối lớn đến các thiết chế phục vụ hoạt động du lịch lễ hội như hệ
thống tài nguyên du lịch, quy hoạch tuyến du lịch, điểm du lịch, các hoạt động dịch
vụ, các cơ sở lưu trú, các chương trình du lịch … cũng phải tuân theo các yếu tố
mùa vụ. Do vậy, việc chuẩn bị các yếu tố phục vụ các hoạt động du lịch lễ hội phải
có sự sắp xếp khá chu đáo và khoa học. Nếu không có sự chuẩn bị trước (từ cơ sở
vật chất, các dịch vụ, công tác tổ chức lễ hội…) sẽ dẫn đến không đáp ứng nhu cầu
du khách hoặc xảy ra tình trạng quá tải do lượng du khách tăng đột biến so với
những ngày thường.
- Du lịch lễ hội là một hoạt động văn hóa sâu sắc vừa mang ý nghĩa lịch sử
vừa có giá trị nghệ thuật độc đáo. Bản sắc của du lịch là văn hóa do vậy bản sắc
văn hóa của từng vùng, từng địa phương, tộc người là một khía cạnh cần được khai
thác, nghiên cứu trong phát triển du lịch. Sự phong phú và sâu sắc về văn hóa của
hoạt động du lịch lễ hội thể hiện ngay trong nội dung, hình thức và cách tổ chức của
lễ hội. Bên cạnh đó, lễ hội còn là sản phẩm của lịch sử, do đó nó phản ánh lịch sử
bằng hình ảnh, sự kiện mang tính nghệ thuật hóa, biểu tượng hóa. Điểm đến du lịch
với những lễ hội càng đặc trưng bao nhiêu, càng khác lạ bao nhiêu về phong tục tập
19

quán, lịch sử, ngôn ngữ, tín ngưỡng và các giá trị cuộc sống… thì càng hấp dẫn du
khách bấy nhiêu.
- Du lịch lễ hội có quan hệ chặt chẽ với hệ thống các di tích và các công
trình kiến trúc nghệ thuật. Di tích và lễ hội chính là nguyên liệu gốc sản sinh ra các
điểm đến du lịch trong đó lễ hội và hệ thống di tích thường gắn kết chặt chẽ với
nhau. Các hệ thống kiến trúc của Đình, Đền, Chùa, các di tích lịch sử gắn với các sự
kiện, các nhân vật thờ tự là phần vật thể. Còn lễ hội tại các di tích ấy mới là phần
hồn, phần phi vật thể chứa đựng giá trị văn hóa lịch sử. Chẳng hạn lễ hội Đền Hùng
và hệ thống di tích lịch sử tại đền Hùng, lễ hội Đền Trần và các di tích Đền Trần…
đang là điểm hấp dẫn thu hút đông đảo du khách hàng năm. Do vậy để phát triển tốt
du lịch lễ hội thì bên cạnh việc bảo tồn các giá trị văn hóa lễ hội truyền thống cũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status