MỤC LỤC
Phần I. Đặt vấn đề:
1.Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang trở
thành xu thế chung. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra cơ hội cho
các ngành kinh tế, vừa tăng sức ép cạnh tranh.Trong điều kiện đó, một nền
kinh tế cần phải nổ lực cải cách, phát triển và sự tăng trưởng cần phải đặt
lên hàng đầu. Những tiến bộ đạt được trước đây rất đáng tự hào, song mỗi
quốc gia, mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành nghề phải có bước tiến nhanh hơn
các đối thủ cạnh tranh của mình để không bị tụt hậu và thua thiệt trong kinh
doanh. Cùng với xu hướng phát triển kinh tế, mức sống của người dân ngày
càng được cải thiện và nâng cao.Du lịch dần dần trở thành một nhu cầu
không thể thiếu của một bộ phận không nhỏ trong dân cư và đang trở thành
một ngành kinh tế quan trọng đối với những địa phương có tiềm năng về tài
nguyên du lịch.
Quảng Nam là một địa phương có nguồn tài nguyên du lịch phong phú
với nhiều danh thắng nổi tiếng, cùng với Hội An và thánh địa Mỹ Sơn đã được
UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Khai thác những thế mạnh
ấy, trong những năm qua, ngành du lịch Quảng Nam đã có những bước phát
triển vượt bậc. Đặc biệt, ở xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam đã
và đang thực hiện dịch vụ du lịch cộng đồng sinh thái. Đó là lí do chúng em
chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển mô hình du lịch cộng
đồng trên địa bàn thôn Mỹ Sơn, xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh
Quảng Nam” nhằm tìm hiểu, đánh giá thực trạng (những thế mạnh) hiện tại
của mô hình du lịch cộng đồng, từ đó đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm
phát triển mô hình du lịch này cũng như thu hút khách du lịch đến với nơi
đây.
2.Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ du lịch
Homestay, lợi thế và năng lực phát triển.
Tìm hiểu về hoạt động kinh doanh, nét đặc trưng trong kinh doanh dịch
Duy Phú là một xã miền núi địa hình chia cắt các đồi núi, khe suối. Các dãy
núi cao về phía Nam của xã, có độ dốc từ Tây Nam sang Đông Bắc. Ngọn núi
cao nhất là dãy Hòn Châu cao 675m, độ dốc trung bình từ 16-28
0
. Phía Nam
diện tích chủ yếu đất đồi có rừng, phía Bắc à vùng đồi xen lẫn đồng bằng, diện
tích đất đồng bằng chủ yếu sản xuất cây lúa, thực phẩm và cây công nghiệp
ngắn ngày…
2.2. Khí hậu:
* Nhiệt độ:
- Nhiệt độ trung bình năm: 25,6
0
C
- Nhiệt độ cao nhất trung bình năm: 29
0
C
- Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm: 22,7
0
C
* Lượng mưa:
- Lượng mưa trung bình năm: 2.173mm
- Những tháng có lượng mưa lớn: tháng 9 đến tháng 11 hằng năm
- Lượng mưa năm lớn nhất: 3.307mm
- Lượng mưa năm nhỏ nhất: 1.400mm
- Lượng mưa ngày lớn nhất: 332mm
- Số ngày mưa trung bình năm: 147 ngày
* Độ ẩm:
- Độ ẩm trung bình năm: 83%
- Độ ẩm không khí cao nhất trung bình: 90%
- Độ ẩm không khí thấp nhất trung bình: 75%
+ Đất chưa sử dụng: 6,89 ha
Hiện trạng sử dụng đất 2010
STT Chỉ tiêu Mã Diện tích
(ha)
Cơ cấu (%)
(1) (2) (3) (4) (5)
Tổng diện tích 3.841,46 100,00
đất tự nhiên
1 Đất nông nghiệp NNP 3.402,03 88.56
1.1 Đất lúa nước DLN 313,91 8,17
1.2 Đất lúa nương LUN 0,00 0,00
1.3 Đất trồng cây
hàng năm còn lại
HNK 91,90 2,39
1.4 Đất trồng cây lâu
năm
CLN 24,66 0,64
1.5 Đất rừng phòng hộ RPH 1.195,96 31,13
1.6 Đất rừng đặc dụng RDD 891,75 23,21
Trong đó: Khu bảo
tồn thiên nhiên
DBT 891,75 23,21
1.7 Đất rừng sản xuất RSX 808,73 21,05
1.8 Đất nuôi trồng
thủy sản
NTS 4,23 0,11
1.9 Đất làm muối LMU 0,00 0,00
1.10 Đất nông nghiệp
khác
NKH 70,91 1,85
2.11 Đất nghĩa trang,
nghĩa địa
NTD 21,46 0,56
2.12 Đất có mặt nước
chuyên dùng
SMN 156,91 4,08
2.13 Đất phát triển hạ
tầng
DHT 32,80 0,85
2.14 Đất phi nông
nghiệp khác
PNK
3 Đất chưa sử dụng DCS 6,89 0,18
4 Đất khu du lịch
(Chỉ tiêu quan sát)
DDL 1.157,00
5 Đất khu dân cư
nông thôn
DNT 255,94 6,66
Trong đó: Đất ở tại
nông thôn
ONT 140,32 3,65
b. Tài nguyên nước:
- Nguồn nước mặt: có hồ chứa nước Thạch Bàn với dung tích 9 triệu m
3
nước,
ngoài ra còn có đập Hóc Bầu và các ao hồ khác trên địa bàn phục vụ tưới tiêu
cho một phần diện tích của địa phương.
- Nguồn nước ngầm: đảm bảo cho việc khai thác phục vụ sinh hoạt cho dân số
toàn xã, tuy nhiên thường xảy ra thiếu hụt vào mùa khô hạn (từ tháng 05 đến
việc trong các
ngành kinh tế
(người)
1.675 1.793 2.295
Tỉ lệ % số LĐ
trong độ tuổi
69 69 69
III Phân theo
ngành
-
3.1 Lao động
nông nghiệp
(người)
1.536 1.420 1.157
Tỷ lệ % số LĐ
làm việc
63,7 55,00 35,00
3.2 Lao động TT
công nghiệp –
XDCB (người)
712 516 826
Tỷ lệ % số LĐ
làm việc
29,5 20,00 25,00
3.3 Lao động KD
TMDV – hành
chính sự
nghiệp
(người)
164 645 1.322
Giới thiệu về mô hình du lịch cộng đồng
Thế nào là phát triển du lịch dựa vào cộng đồng?
Thuật ngữ Du lịch dựa vào cộng đồng xuất phát từ hình thức du lịch làng bản
từ những năm 1970 và khách du lịch tham quan các làng bản, tìm hiểu về
phong tục tập quán, cuộc sống hoang dã, lễ hội, cũng có thể là một vài khách
muốn khám phá hệ sinh thái đa dạng, địa hình hiểm trở, nhiều núi cao vực
sâu nhưng lại thưa thớt dân cư, các điều kiện sinh hoạt đi lại và hỗ trợ rất
khó khăn, nhất là đối với khách tham quan. Những lúc như vậy, những khách
này rất cần có sự trợ giúp như dẫn đường để tránh lạc, nơi ở qua đêm, ăn
uống đã được người dân bản xứ tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp các dịch vụ;
lúc đó, khách du lịch thường gọi là chuyến du lịch có sự hỗ trợ của người bản
xứ – đây là tiền đề cho phát triển loại hình du lịch dựa vào cộng đồng.
Du lịch cộng đồng chính là nét tinh túy của du lịch sinh thái và du lịch bền
vững.Du lịch cộng đồng nhấn mạnh vào cả hai yếu tố là tự nhiên, môi trường
và con người.
Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas đưa ra khái niệm:
“Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa
phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ
đọng lại nền kinh tế địa phương” (Nicole Hausler and Wolfang Strasdas,
Community Based Sustainable Tourism A Reader, 2000). Quan niệm trên
nhấn mạnh đến vai trò chính của người dân địa phương trong vấn đề phát
triển du lịch ngay trên địa bàn họ quản lý.
Du lịch cộng đồng là “phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi
trường, văn hóa xã hội. Du lịch cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì
cộng đồng và cho phép khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng
đồng, về cuộc sống đời thường của họ” (Rest: Respondsible Ecological Social
Tours, Thailand, 1997)
Mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng
Từ những khái niệm cũng như những hiểu biết chung nhất về du lịch cộng
đồng, Theo Viện nghiên cứu Phát triển Miền núi, để phát triển du lịch cộng
Thành viên:
7 thành viên
CÁC DỊCH VỤ KHÁC
(làm nông, chăn nuôi gia súc, leo núi,
đạp xe, du lịch quanh địa bàn …) do
mỗi hộ lưu trú tự tổ chức
TỔ CHÈO THUYỀN KAZAK
Tổ trưởng:
LÊ THỊ THÀNH
Thành viên:
2 thành viên
TỔ LƯU TRÚ
Tổ trưởng: NGUYỄN ĐỨC NHA
Thành viên:
5 hộ
I.Khảo sát thực trạng
1.Mô hình dự án
1.1.Bộ máy tổ chức quản lý
I.2 Mô hình hoạt động dự án
Trước đến nay nói đến Mỹ Sơn, du khách vẫn thường nghĩ đến khu di sản văn
hóa thế giới Mỹ Sơn. Với doanh thu bán vé hàng năm trên 10 tỷ đồng, du lịch
Mỹ Sơn đã mang lại nguồn ngân sách không nhỏ cho địa phương. Tuy nhiên,
do dịch vụ còn hạn chế nên hầu hết du khách chỉ thăm khu di tích trong ngày
rồi quay về, người dân sinh sống quanh khu vực dường như vẫn chưa được
hưởng lợi nhiều từ “thương hiệu” di sản mang lại.
Với những thế mạnh thiên nhiên ban tặng, cùng với những nhu cầu bức thiết
nhằm cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập, đồng thời phát triển địa
phương thành một trung tâm du lịch, tạo ra cách tiếp cận mới trong việc
phát triển du lịch bền vững và thân thiện với môi trường.
Ngày 14/3/2013, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam phối hợp
giạy và nâng cao trình độ tiếng anh và giao tiếp để thuận tiện cho việc phục
vụ khách du lịch ngoại quốc.
Dự án tập trung vào mục tiêu chính là phát huy tính chủ động của cộng
đồng với việc kết nối nhiều thành phần tham gia. Dù mới triển khai thử
nghiệm, nhưng đã có hơn 20 đoàn với số lượng 260 khách chủ yếu là khách
châu Âu và Nhật Bản đến tham quan; tổng thu nhập của địa phương từ hoạt
động du lịch này đạt hơn 93 triệu đồng Với việc triển khai dự án du lịch dựa
vào cộng đồng, hứa hẹn nhiều tiềm năng và thế mạnh đặc thù, đang được kỳ
vọng sẽ tạo ra bước chuyển mới không chỉ tại Mỹ Sơn mà rộng hơn là các
huyện vùng sâu của Quảng Nam, mang lại thu nhập cho người dân góp phần
xóa đói giảm nghèo bền vững.
Bên cạnh đó, dịch vụ ẩm thực, hướng dẫn du lịch địa phương và các hoạt
động du lịch bền vững, ít tác động tiêu cực tới môi trường như leo núi, chèo
thuyền xung quanh khu vực hồ Thạch Bàn (rất gần với Di sản Văn hóa Mỹ
Sơn) , đạp xe đạp hay đi bộ tham quan khu vực chùa An Hòa, lăng Bà Thu Bồn
mang đến không gian thanh bình, thoải mái. đưa khách du lịch gần gũi hơn
với thiên nhiên và cộng đồng làng xóm, đã mở ra hướng đi mới góp phần
mang lại nguồn thu đáng kể cho các hộ dân sống xung quanh di sản.
Dù mới tiến hành thí điểm 5 hộ dân trong số 45 hộ dân đã được chọn của
dự án nhưng mô hình du lịch homestay đang được kỳ vọng sẽ tạo ra bước
chuyển mới không chỉ tại Mỹ Sơn mà rộng hơn là các huyện vùng sâu của
Quảng Nam, mang lại thu nhập cho người dân góp phần xóa đói giảm nghèo
bền vững.
2.Triển khai mô hình
2.1Các dịch vụ du lịch
Nhà lưu trú- home stay
Dịch vụ nấu ăn và dạy nấu ăn
Dịch vụ massage
Du lịch đạp xe quanh khu vực, tham quan một số di tích
Leo Núi
Cứ như vậy, sau mỗi lượt khách mỗi nhóm sẽ trích 10% lợi nhuận để nộp cho
THT. Số tiền này dùng trả lương cho các nhân viên của THT để tổ sử dụng
trong công tác giao dịch, tìm kiếm khách hàng và thực hiện những công tác
an sinh xã hội cho người dân trong làng du lịch như làm từ thiện, vệ sinh môi
trường
Khách đến được lưu trú tại những ngôi nhà du lị đã được lựa chọn và đầu
tư từ trước. Những căn phòng dành cho khách được thiết kế sang trọng, với
nội thất đầy đủ, theo phong cách hiện đại phương tây nên tạo cảm giác rất
thoải mái và hài long cho khách du lịch nước ngoài. Phòng tắm được trang bị
bên trong phòng ngủ với không gian rộng rãi, sạch sẽ và đầy đủ các trang
thiết bị cần thiết nên du khách có thể sử dụng thoải mái trong thời gian lưu
trú. Bên ngoài phòng nghỉ được bố trí sân vườn rộng rãi, với nhiều loại cây
trồng đặc trưng của địa phương, tạo sự thoáng mát, gần gũi với thiên nhiên.
Ở những gôc cây lớn còn được bố trí những hòn non bộ và bể cá cảnh, tạo sự
hài hòa trong thiết kế sân vườn.
Bên cạnh nhà lưu trú, nhóm du lịch cộng đồng còn mang đến dịch vụ ăn
uống cho du khách để du khách trải nghiệm ẩm thực Việt Nam, du khách
không chỉ được thưởng thức các món ăn Việt mà còn được tổ nấu ăn hướng
dẫn và dạy làm các món ăn mà họ vừa được thưởng thức. điều này mang đến
sự hứng khởi và thích thú đến cho du khách tham gia dịch vụ.
Tổ nấu ăn được thành lập sau tổ lưu trú một thời gian, Bắt đầu hoạt động
từ 17/5/2013. Gồm 7 thành viên, trưởng nhóm là cô Nguyễn Thị Hồng Anh.
Nghề nghiệp hiện tại là giáo viên cấp 2, nhưng với niềm đam mê nấu nướng,
cùng với khát khao mong muốn mang lại những giá trị khởi sắc cho du lịch
địa phương, cô Anh cùng 6 người trong thôn Mỹ Sơn quyết định thành lập
nên tổ nấu ăn. Tuy chỉ mới thành lập, nhưng tổ nấu ăn đã đón tiếp hơn 1304
khách cả quốc tế và nội địa, mang về thu nhập hơn 104.320.000d cho thành
viên trong nhóm.
Ban đầu, các thành viên tự góp tiền để mua xoong, chảo Cứ xong mỗi
lượt khách, nhóm trích 2 triệu đồng từ doanh thu để mua thức ăn cho những
ĐVT: VNĐ
Chi phí riêng của hộ gia đình :
Tên hộ gia đình Chi phí bỏ ra Cụ thể
Hồ Cư 8.320.000 Tiền sơn sửa, la
phông, cửa , tiền
công…
Nguyễn Đức Nha 10.530.000 Tiền xây phòng tắm, la
phông, cửa, tiền
công…
Võ Hữu Đại 8.200.000 Tiền sơn sửa, la
phông, cửa , tiền
công…
Nguyễn Thị Hồng Anh 8.904.000 Tiền sơn sửa, la
phông, cửa , tiền
công…
Lại Thị Văng 42.000.000 Tiền xây nhà, tiền sơn,
la phông, cửa , tiền
công…
ĐVT: VNĐ
4.Doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động
BẢNG THỐNG KÊ LƯỢNG KHÁCH VÀ DOANH THU, THU NHẬP TỪ
HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
(theo số liệu thống kê từ tổ lưu trú và tổ nấu ăn)
Mô hình du lịch cộng đồng tại Mỹ Sơn tuy có nhiều dịch vụ trên dự án, nhưng
thực sự phát triển và có số liệu thống kê được chỉ có tổ lưu trú và tổ nấu ăn,
dưới đây là bảng thống kê về lượng khách trong những tháng đầu hoạt động,
cũng như doanh thu và lợi nhuận các tổ nhận được
TỔ LƯU TRÚ
Thời gian Lượng khách
(người)
Khách nội
địa
1.258 75.045.000 15.096.000
(Ghi chú: Lợi nhuận chính chiếm 25% doanh thu đối với khẩu phần trọn
gói, các khoản thu khác được tính vào doanh thu khi mỗi khẩu phần ăn phát
sinh thêm.)
5. Đánh giá mức độ đầu tư dịch vụ:
Qua quá trình quan sát và tìm hiểu thực tế, nhóm 2 nhận thấy về cơ sở vật
chất hạ tầng của 5 hộ dân được chọn để làm mô hình dịch vụ du lịch
Homestay đã tương đối đáp ứng được yêu cầu tối thiểu của khách du lịch.
Cụ thể như sau:
a. Cơ sở hạ tầng
-Giao thông thuân lợi cho việc di chuyển lên khu du lịch mỹ sơn
- Phòng nghỉ ngơi dành cho khách du lịch tương đối rộng rãi, thoáng mát và
đầy đủ các tiện nghi, phong cách được thiết kế khá hiện đại nên đem đến sự
hài lòng cho khách du lịch nước ngoài.
- Phòng vệ sinh sạch sẽ,đầy đủ các trang thiết bị cần thiết. Nền nhà lát gạch
hoa, trần được đóng la phông nên có vẻ đẹp hiện đại, sang trọng cho căn
phòng.
- Hệ thống cửa kính được bố trí hợp lý nên sẽ đón được gió mát vào mùa hè,
tránh gió lạnh của mùa đông.
- Sân vườn rộng rãi, có nhiều cây trồng phong phú, các bể cá… giúp khách
du lịch gần với thiên nhiên hơn.
b. Con người
- Thêm vào đó là thái độ niềm nở, hiếu khách, quan tâm của chủ nhà và người
dân, để lại cho du khách ấn tượng tốt đẹp về nơi đây.
c. Điều kiện tự nhiên
- Khí hậu ở Mỹ Sơn cũng rất dễ chịu: nắng vào buổi sáng và lúc xế chiều có
mưa nhẹ.
* Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế trong mô hình như:
- Với địa hình đồi núi hiểm trở và cảnh quan thiên nhiên đẹp là tiềm năng cho
du lịch thám hiểm, trải nghiệm, nghỉ dưỡng cùng với dự án khu phức hợp Mỹ
Sơn Thạch Bàn trong tương lai sẽ khai thác hiệu quả hơn tiềm năng du lịch
sẵn có, phục vụ du khách trong và ngoài nước.
- Khu di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn, khu phức hợp Mỹ Sơn Thạch Bàn , khu di
tích Lăng Bà Thu Bồn cùng với Hội An tạo thành khu du lịch khép kín.
- Nghề điêu khắc đá truyền thống cùng với các đặc sản riêng của vùng cũng là
một tiềm năng thế mạnh của vùng nếu được chú trọng khai thác.
- Người dân địa phương hiền hòa mến khách tạo cảm giác thân thiện cho du
khách mỗi khi đến với Mỹ Sơn Duy Phú.
+ Tiềm năng về cơ sở hạ tầng
- Có hệ thống giao thông đa dạng, tương đối hoàn chỉnh, thuận lợi liên kết với
các xã lân cận, với các huyện vùng cao và thị trấn Nam Phước
- Đường Thôn, ngõ xóm và trục đường chính phần lớn đã được bê tông hóa
thuận lợi nhu cầu đi lại giao thương và sản xuất của người dân.
- Tuyến DT610 kết nối với đường vào khu di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn đã
được nâng cấp, phục vụ cho du khách dễ dàng tiếp cận tham quan khi đến với
Mỹ Sơn.
- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản được ổn định
Điểm yếu:
- Cơ sở hạ tầng tuy được đầu tư nâng cấp cải thiện nhưng còn thiếu đồng bộ
giữa các tuyến đường, giữa các khu, điểm du lịch.
- Hoạt động Marketing, quảng cáo và xúc tiến du lịch thiếu tính chuyên nghiệp
và đầu tư cao.
- Chưa khai thác, bảo tồn đúng mức.
- Thiếu nhân lực lành nghề
+ Điểm yếu nhất là ngoại ngữ
+ Trình độ chuyên môn, cung cách phục vụ chưa tốt.
Cơ hội:
- Nền kinh tế quốc gia hội nhập toàn cầu
Cơ sở vật chất-kỹ thuật phục vụ du lịch như hệ thống các điểm du lịch, các
điểm tham quan, vui chơi giải trí còn thiếu; hệ thống cơ sở lưu trú du lịch quy
mô còn nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển du lịch trong tỉnh.
Hệ thống giao thông đường bộ cần được quan tâm nâng cấp hơn nữa,
nhất là các điểm tuyến lộ đến các điểm du lịch.
Để ngành du lịch Quảng Nam phát triển bền vững, không tụt hậu với các
tỉnh miền khác thì cần phải có chính sách ưu đãi hỗ trợ cho các thành phần
kinh tế tham gia đầu tư phát triển du lịch. Quan tâm công tác giữ gìn tôn tạo
các du tích lịch sử văn hóa, các tài nguyên nhân văn và bảo vệ môi trường
sinh thái…
Tuy nhiên, có những cái chúng ta nhìn thấy, song còn nhiều điều chúng ta
chưa khám phá và đánh giá nó một cách đầy đủ. Mặt khác, theo xu hướng
toàn cầu hóa hiện nay, việc đất nước ta tham gia hội nhập đem lại cho các