HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
----------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“ Đánh giá vai trò của người cấp tiến trong thích ứng với rủi ro thiên tai
tại cộng đồng nuôi trồng thủy sản huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình”
Người thực hiện
: Trương Thị Trang
Lớp
: K58MTB
Khóa
: 58
Chuyên ngành
: Khoa học môi trường
Giáo viên hướng dẫn
: TS. Võ Hữu Công
Địa điểm thực tập
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Trương Thị Trang
i
MỤC LỤC
ii
DANH MỤC BẢNG
iii
DANH MỤC HÌNH
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt/ ký hiệu
Cụm từ đầy đủ
BCH
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thái Bình là một trong 28 tỉnh thành của cả nước tiếp giáp với biển.
Cùng với sự đa dạng, phong phú về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên
nhiên, Thái Bình được đánh giá là vùng lãnh thổ rất giàu tiềm năng, đặc biệt
là tài nguyên biển. Là tỉnh có 54 km đường biển, thường xuyên phải chịu
nhiều ảnh hưởng của thiên tai như bão lũ, mưa lớn…do vậy Thái Bình luôn
quan tâm đến việc ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai để giảm thiểu thiệt
hại. Đồng thời xây dựng phương án thích nghi gắn liền với phát triển kinh tế.
Theo báo cáo thống kê của BCH phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn
tỉnh Thái Bình (2017), tổn thất bình quân hàng năm do thiên tai tại địa phương
lên đến hàng chục tỷ đồng. Ước tính khoảng 38 % tổng diện tích đất đai và 25
% dân số phải chịu nguy cơ bão và lũ lụt. Chỉ tính đến cơn bão đầu tiên trong
năm 2016 (cơn bão có tên quốc tế là Mirinae đổ bộ vào Thái Bình từ đêm
ngày 27/7 kéo dài đến sáng ngày 28/7) đã khiến 2 người chết, 5 người bị
thương, gần 50.000 ha lúa có nguy cơ bị mất trắng, khoảng 1.900 ha diện tích
hoa màu bị ngập úng, 10.000 ha diện tích thủy sản bị ảnh hưởng, hơn 9.000
cây xanh bị đổ, gần 30 nhà bị tốc mái và nhiều hậu quả khác đã ảnh hưởng
nghiêm trọng đến đời sống cộng đồng cư dân địa phương. Đặc biệt, Huyện
Thái Thụy - một trong những huyện ven biển phải chịu thiệt hại nặng nề do
thiên tai.
Hiện nay, Thái Thụy đang là huyện có nhiều lợi thế, tiềm năng để phát
triển khai thác và nuôi trồng thủy sản với 27 km đường bờ biển và vùng bãi
triều rộng 13.000 ha. Vì huyện có chế độ khí hậu và các yếu tố tự nhiên khác
mang tính đan xen giữa biển và lục địa, độ phì nhiêu của đất đai thường thấp,
phần lớn diện tích có chế độ thủy văn bị mặn hóa theo mùa. Khả năng phát
triển của cây lương thực và các cây hoa màu khác tương đối kém và cho năng
suất không cao, một số diện tích được sử dụng làm muối chưa đem lại hiệu
quả kinh tế cho người dân. Vì vậy, với lợi thế vị trí ven biển của mình, huyện
1
3. Yêu cầu nghiên cứu
Tìm ra người cấp tiến và những phương pháp nuôi do họ sáng tạo đã
giúp cộng đồng nuôi trồng thủy sản địa phương thích ứng với rủi ro thiên tai,
giảm thiểu thiệt hại và mang lại hiệu quả năng suất cao. Từ đó đánh giá vai
trò của người cấp tiến dựa vào lợi ích họ mang lại cho cộng đồng NTTS trong
thích ứng với rủi ro thiên tai tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
4.1. Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thiên tai đến hoạt động nuôi trồng thủy sản
tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Từ đó đánh giá nhận thức và phản ứng
của người dân trước ảnh hưởng của thiên tai đến cộng đồng.
- Xác định và đánh giá sự tham gia của các bên liên quan đặc biệt là vai
trò của cộng đồng nuôi trồng thủy sản trong thích ứng với rủi ro thiên tai.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Xác định vai trò của người cấp tiến trong thích ứng với rủi ro thiên tai tại
cộng đồng nuôi trồng thủy sản có thế sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các
nhà quản lý địa phương, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả nuôi trồng
thủy sản tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm
- Người cấp tiến
Là người có ý tưởng, có sáng kiến độc đáo, luôn đi đầu trong cải tiến và
đổi mới, có sức ảnh hưởng đến cộng đồng và được mọi người công nhận
(Rogers,
Bao gồm những nhóm người dân sống trong cùng một làng, xã,
thôn/ấp/bản và có cùng các mối quan tâm chung (Tài liệu hướng dẫn đánh giá
rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, 2014).
- Cộng đồng nuôi trồng thủy sản
Là tập hợp các hộ gia đình cùng thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng
và quản lý hoạt động nuôi trồng thủy sản trên một vùng nuôi, không phân biệt
địa giới hành chính và hình thức nuôi, cùng sử dụng chung nguồn nước cấp
và hệ thống thoát nước (Cao Lệ Quyên, 2015).
- Tính dễ bị tổn thương (TDBTT)
TDBTT là những đặc điểm và hoàn cảnh của một cộng đồng, môi trường
hoặc tài sản dễ bị ảnh hưởng của các tác động bất lợi từ thiên tai (Tài liệu
hướng dẫn đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, 2014).
Ví dụ: Người dân xây dựng nhà, công trình ở những khu vực dễ xảy ra sạt lở,
lũ quét; khu vực có nhiều nhà tạm, nhà cấp 4 trong vùng bão, lũ; ngư dân
đánh bắt thủy hải sản thiếu trang thiết bị đảm bảo an toàn, …
- Năng lực phòng, chống thiên tai
Là tổng hợp các nguồn lực, điểm mạnh, và các điều kiện và đặc tính sẵn
có trong cộng đồng, tổ chức và xã hội có thể được sử dụng nhằm đạt được các
mục tiêu đề ra (Tài liệu hướng dẫn đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng
đồng, 2014).
Ví dụ: Năng lực ứng phó (tổ chức di dời kịp thời, diễn tập, tổ chức thành lập
các nhóm ứng phó nhanh, cứu hộ); Hệ thống công trình (nhà kiên cố, hệ thống
đê điều); ý thức, kinh nghiệm, kỹ năng của cộng đồng và người dân.
5
1.1.2. Những khái quát chung về đổi mới
1.1.2.1. Định nghĩa về đổi mới
Đổi mới có thể được định nghĩa đơn giản như là một “ ý tưởng mới, thiết
bị hay phương pháp mới”. Tuy nhiên, đổi mới thường được xem như là việc
số sự đổi mới dễ dàng được hiểu bởi hầu hết các thành viên của một hệ thống
xã hội; một số khác thì phức tạp hơn và được áp dụng chậm hơn.
- Tính thử nghiệm
Là mức độ mà một sự đổi mới có thể được thử nghiệm một cách hạn chế.
Ý tưởng mới có thể được thử nghiệm trên các kế hoạch trả góp thường sẽ
được thông qua nhanh chóng hơn những đổi mới không được thử nghiệm.
- Khả năng quan sát
Là mức độ mà các kết quả của một sự đổi mới có thể được nhìn thấy từ
những người khác. Dễ dàng hơn là đối với cá nhân để xem kết quả của một sự
đổi mới, nhiều khả năng họ đang áp dụng. Điều này sẽ thúc đẩy việc những
người liên quan với nhau cùng thảo luận về ý tưởng mới đó, như là bạn bè
hay hàng xóm của một người áp dụng thường yêu cầu thông tin đánh giá về
sự đổi mới.
1.1.2.3. Sự lan tỏa của đổi mới
Sự lan toa của đổi mới là một lý thuyết nhằm giải thích làm thế nào, tại
sao và ở mức tỷ lệ nào những ý tưởng mới được lan truyền. Lý thuyết này
được tiến hành nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1903 bởi nhà nghiên cứu
Gabriel Tarde, người đầu tiên vẽ ra đường cong khuếch tán hình chữ S. Tarde
đã xác định quá trình ra quyết định đổi mới gồm năm giai đoạn:
1. Kiến thức
2. Thuyết phục
3. Quyết định thông qua hoặc từ chối
4. Thực hiện
5. Xác nhận quyết định
7
Một khi sự đổi mới xảy ra, những đổi mới có thể được lan truyền từ nhà
đổi mới sang các cá nhân và nhóm người trong xã hội, có nghĩa là nó phải trải
qua 5 giai đoạn như trên. Quá trình này giống như một vòng đời của đổi mới
gian.
Hình 1.2: Sự lan tỏa của đổi mới theo Rogers, 1962
9
Trên đồ thị thể hiện những nhóm người chấp nhận đổi mới bằng đường
màu xanh và thị phần của nó (đường màu vàng) cuối cùng sẽ đạt đến mức bão
hòa. Đường cong được chia thành các phần theo nhóm người chấp nhận, về
mặt Toán học dựa trên đường cong Bell. Những nhóm này được phân loại dựa
trên sự khác biệt về độ lệch chuẩn so với đường cong bình thường. Đồ thị cho
thấy tỷ lệ phần trăm thấp ở điểm bắt đầu, cao hơn khi việc chấp nhận tăng lên
và san lấp mặt bằng cho đến khi chỉ một tỷ lệ phần trăm nho những người
chậm trễ không thông qua.
Rogers định nghĩa nhóm người chấp nhận là sự phân loại các cá nhân trong
một hệ thống xã hội dựa trên tính sáng tạo. Rogers đưa ra tổng cộng năm
nhóm người chấp nhận để chuẩn hóa và sử dụng trong nghiên cứu sự lan toa
của đổi mới. Năm nhóm người chấp nhận là: những người đổi mới (2,5 %),
người chấp nhận sớm (13,5 %), phần lớn những người chấp nhận sớm (34 %),
phần lớn những người chấp nhận muộn (34 %) và những người chậm trễ (16
%). Sự sẵn sàng và khả năng chấp nhận của mỗi người phụ thuộc vào nhận
thức, sự quan tâm, đánh giá và quyền thông qua của họ. Mọi người có thể rơi
vào những nhóm người khác nhau với những đổi mới khác nhau. Một người
nông dân có thể là người chấp nhận sớm những đổi mới về cơ khí nhưng cũng
là người chấp nhận phần lớn các đổi mới về sinh học. Tóm lại, sự lan toa
được thể hiện theo những cách khác nhau và nó phụ thuộc chủ yếu vào nhóm
người chấp nhận và quá trình ra quyết định.
1.2. Tình hình nghiên cứu vai trò của người cấp tiến trên thế giới và ở
Việt Nam
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Everett Rogers - một giáo sư về xã hội học nông thôn đã cho ra đời tác phẩm
đầu tiên của ông: cuốn sách mang tên Diffusion of Innovations. Rogers đã
tồng hợp 508 nghiên cứu sự lan toa qua các lĩnh vực ban đầu: nhân học, xã
hội học sớm, xã hội học nông thôn, xã hội học công nghiệp và xã hội học y tế.
Sử dụng tổng hợp của mình, Rogers đã đưa ra một lý thuyết về việc áp dụng
đổi mới giữa các cá nhân và tổ chức. Các nghiên cứu của Rogers sau này nằm
trong số những nghiên cứu phổ biến nhất và được trích dẫn nhiều nhất.
11
Phương pháp luận của ông được theo dõi chặt chẽ trong các nghiên cứu về sự
lan toa gần đây, ngay cả khi lĩnh vực này đã mở rộng và chịu ảnh hưởng bởi
các nguyên tắc phương pháp luận khác như phân tích mạng xã hội và truyền
thông.
Tuy nhiên, với đối tượng nghiên cứu chính là người cấp tiến thì các
nghiên cứu về sự lan toa của đổi mới cần được xem xét, chỉnh lý và phát triển
để áp dụng vào quá trình thực hiện đề tài. Đến nay, mặc dù chưa có một
nghiên cứu nào về đánh giá vai trò của người cấp tiến, nhưng từ phương diện
nghiên cứu khoa học và các nghiên cứu liên quan đến sự lan toa của đổi mới,
sẽ xây dựng một phương pháp nghiên cứu hoàn chỉnh để thực hiện đánh giá
vài trò của người cấp tiến trong thích ứng với rủi ro thiên tai tại cộng đồng
nuôi trồng thủy sản huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.2.2.1. Hiện trạng nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
- Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản
Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường bờ biển dài rất
thuận lợi cho phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Trong 17
năm qua (1995 – 2016), ngành thủy sản Việt Nam đã có những bước chuyển
biến mạnh mẽ, trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển thủy sản
các cấp cần phối hợp với người dân để đưa ra định hướng và giải pháp nhằm
phát triển ngành thủy sản ngày càng bền vững trong tương lai. Đồng thời giữ
vững nhịp độ tăng trưởng liên tục trong suốt chặng đường vừa qua.
- Đối tượng nuôi
Hoạt động nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam nằm rải rác dọc theo chiều dài
đất nước với sự đa dạng, phức tạp về điều kiện khí hậu và địa hình nên mỗi
vùng miền sẽ có sự phong phú, đa dạng về đối tượng nuôi khác nhau.
14
+ Vùng Đồng bằng sông Hồng: tập trung phát triển nuôi trồng thủy sản nước
mặn, lợ tại 3 tỉnh ven biển Hải Phòng, Thái Bình và Nam Định. Ngoài ra,
vùng cũng có điều kiện thuận lợi cho phát triển NTTS nước ngọt gồm các tỉnh
nằm sâu trong đất liền nhưng có hệ thống kênh rạch chằng chịt như Hà Nội,
Hải Dương. Đối tượng nuôi chủ yếu là: tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cua biển,
cá song, cá vược, cá hồng, cá rô phi, ngao, sò.
+ Vùng Trung du miền núi phía Bắc: do địa hình phần lớn là núi và cao
nguyên, hơn nữa thời tiết có phần khắc nghiệt, thường xuất hiện hạn hán, khô
nóng và sương muối, là điều kiện không thuận lợi cho phát triển NTTS. Vì
vậy, hoạt động nuôi trồng ở đây mang tính chất cá thể với quy mô nho, lẻ chủ
yếu phát triển NTTS nước ngọt, tập trung vào các đối tượng nuôi như: cá
chim, cá trắm, cá chép …
+ Vùng Đông Bắc: có điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè rất mát
mẻ nhưng mùa đông lại rất lạnh; địa hình chia thành 3 vùng khác nhau: vùng
núi, vùng trung du và đồng bằng ven biển, vùng ven biển và hải đảo. Vì vậy,
nơi đây có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển NTTS. Điển hình là tỉnh
Quảng Ninh, một trong hai tỉnh thuộc vùng Đông Bắc tiếp giáp với biển. Hiện
nay, tỉnh Quảng Ninh đang tập trung nuôi những đối tượng như: tôm thẻ chân
trắng, tôm sú và cá biển.
bằng sông Cửu Long – vùng có diện tích NTTS lớn nhất nước ta.
+ Nuôi quảng canh: hay còn gọi là nuôi truyền thống. Là hình thức nuôi bằng
nguồn giống và nguồn thức ăn tự nhiên có trong ao hồ, đầm ở nông thôn và
các vùng ven biển. Với hình thức này, người nuôi sẽ tiết kiệm được nhiều chi
phí từ khâu cải tạo ao nuôi, chọn, thả giống đến khâu chăm sóc và thu hoạch
nhưng cho hiệu quả năng suất thấp và gặp rủi ro cao trong nuôi trồng.
+ Nuôi quảng canh cải tiến: là hình thức nuôi chủ yếu bằng nguồn giống và
thức ăn tự nhiên, nhưng có bổ sung thêm giống nhân tạo ở mức độ nhất định,
đồng thời có đầu tư cải tạo thủy vực nhằm tăng năng suất.
+ Nuôi bán thâm canh: là hình thức nuôi chủ yếu bằng giống nhân tạo và thức
ăn nhân tạo, nhưng kết hợp với nguồn thức ăn tự nhiên trong thủy vực. Ngoài
16
ra, ao nuôi còn được đầu tư cơ sở hạ tầng như điện, thiết bị cơ khí, thủy lợi…
nhất là chủ động về nguồn nước cung cấp. Có khả năng xử lý và khống chế
môi trường bằng hệ thống máy bơm sục khí.
+ Nuôi thâm canh: là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ăn
nhân tạo, được đầu tư cơ sở hạ tầng đầy đủ (quy hoạch hệ thống ao hồ, thủy
lợi, giao thông, điện nước, cơ khí…), có thể chủ động khống chế các yếu tố
môi trường. Mật độ thả giống cao, năng suất lớn.
+ Nuôi siêu thâm canh (công nghiệp): là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con
giống và thức ăn nhân tạo với mật độ rất cao. Sử dụng máy móc và thiết bị
hiện đại nhằm tạo cho vật nuôi môi trường sống sinh thái và các điều kiện tối
ưu, sinh trưởng tốt nhất, không phụ thuộc vào thời tiết và mùa vụ, trong thời
gian ngắn nhất có thể đạt được hai mục tiêu năng suất và lợi nhuận.
- Một số khó khăn và thách thức trong nuôi trồng thủy sản hiện nay
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành thủy sản nước ta vẫn còn nhiều
tồn tại, yếu kém và phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức.
- Khai thác, sử dụng tiềm năng nguồn lợi thủy sản chưa hiệu quả, thiếu