BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------o0o----------
DƯƠNG THỊ NHÀN
TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN
CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------o0o----------
DƯƠNG THỊ NHÀN
TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN
CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số
: 60340301
1
2. Mục tiêu nghiên cứu
2
3. Câu hỏi nghiên cứu
3
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3
5. Phương pháp nghiên cứu
3
6. Những đóng góp của luận văn
4
7. Kết cấu luận văn
5
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu chất lƣợng thông tin
BCTC và tính thanh khoản chứng khoán
1.2.2. Chất lượng thông tin BCTC
13
1.3. Nhận xét tổng quan các nghiên cứu
14
Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết
16
2.1. Lý thuyết nền
17
2.1.1. Lý thuyết người đại diện
17
2.1.2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng
18
2.1.3. Lý thuyết tín hiệu
19
2.2. Tổng quan về chất lượng thông tin BCTC và tính thanh khoản của
31
2.3. Mối quan hệ giữa chất lượng thông tin BCTC và tính thanh khoản
chứng khoán
36
2.4. Mô hình lý thuyết nghiên cứu
39
Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu
41
3.1. Phương pháp nghiên cứu
41
3.1.1. Phương pháp chung
41
3.1.2. Phương pháp cụ thể
41
3.1.3. Khung nghiên cứu của luận văn
42
3.3.2.4. Thang đo đặc tính có thể so sánh (Comparable)
52
3.3.2.5. Thang đo đặc tính kịp thời (Timely)
54
3.3.2.6. Thang đo đặc tính có thể kiểm chứng được (Verifiability)
55
3.3.3. Mô hình hồi quy các đặc tính chất lượng thông tin BCTC tác động
đến tính thanh khoản của chứng khoán
56
3.3.4. Mô tả dữ liệu và phương pháp thu thập thông tin
58
3.3.5. Phương pháp cho điểm chất lượng BCTC
58
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
60
4.1.4.3 Đánh giá về đặc tính có thể hiểu được
69
4.1.4.4 Đánh giá về đặc tính có thể so sánh
70
4.1.4.5 Đánh giá về đặc tính kịp thời
71
4.1.4.6 Đánh giá về đặc tính Có thể kiểm chứng
72
4.2. Đánh giá độ tin cậy và giá trị thang đo chất lượng thông tin BCTC
và thang đo tính thanh khoản chứng khoán.
73
4.2.1. Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng Cronbach alpha.
73
4.2.2 Đánh giá giá trị thang đo – phân tích nhân tố khám phá (EFA)
76
5.1. Kết luận
86
5.2. Kiến nghị
87
5.2.1 Đặc tính thông tin thích hợp
88
5.2.2 Đặc tính thông tin trình bày trung thực
90
5.2.3 Đặc tính thông tin được trình bày dễ hiểu
92
5.2.4. Đặc tính thông tin được trình bày có thể so sánh được
93
5.2.5. Đặc tính thông tin công bố kịp thời
93
5.2.6. Đặc tính thông tin có thể kiểm chứng
: Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính (Hoa Kỳ)
HĐQT
: Hội đồng quản trị
HNX
: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE
: Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
IASB
: Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế
TTCK
: Thị trường chứng khoán
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1
Kết quả của bảng câu hỏi khảo sát
45
Bảng 4.5
Đánh giá độ tin cậy thang đo sự thích hợp
73
Bảng 4.6
Đánh giá độ tin cậy thang đo sự trình bày trung thực
74
Bảng 4.7
Đánh giá độ tin cậy thang đo có thể hiểu được
75
Bảng 4.8
Đánh giá độ tin cậy thang đo có so sánh được
75
Bảng 4.9
Đánh giá độ tin cậy thang đo có thể kiểm chứng
76
80
Bảng 4.15
Bảng kết quả các trọng số hồi quy
81
Bảng 4.16
Bảng kiểm định giả định phương sai của sai số
82
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1
Mô hình Thông tin kế toán bởi Maines và Wahlen (2006)
21
Hình 2.2
Mô hình của Shannon (1949)
22
Hình 2.3
Hình 3.2
Thang đo các yếu tố tạo nên sự thích hợp (Relevance)
48
Hình 3.3
Thang đo các yếu tố tạo nên đặc tính trình bày trung
thực (Truth)
Hình 3.4
Thang đo các yếu tố tạo nên đặc tính trình bày dễ
hiểu (Comprehensible)
Hình 3.5
50
52
Thang đo các yếu tố tạo nên đặc tính có thể so sánh
(Comparable)
54
Hình 3.6
Thang đo các yếu tố tạo nên đặc tính kịp thời (Timely)
liệu thông tin trên BCTC đó được các công ty niêm yết cung cấp có ảnh hưởng như
thế nào đến quyết định của nhà đầu tư?
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều bước tiến để cùng hòa nhịp
với môi trường kinh doanh quốc tế, tất cả đang chuyển dịch theo hướng toàn cầu
hóa kèm theo đó là những cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính và lạm phát. Để theo
kịp tốc độ phát triển nhanh và sự cạnh tranh khốc liệt như tình hình hiện tại, các
công ty niêm yết đang cố gắng thỏa mãn ở mức tối đa những gì mà những đối tượng
sử dụng thông tin bên ngoài cần.
Khi áp dụng lý thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith vào thị trường chứng
khoán, người ta xem nó là sự kết hợp từ rất nhiều yếu tố. Yếu tố đầu tiên chính là
doanh nghiệp và các thông tin mà doanh nghiệp này cung cấp. Những thông tin do
doanh nghiệp cung cấp được thể hiện trên các BCTC. Vậy có thể nói, những thông
tin được trình bày trên BCTC của doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc
kết nối một công ty với rất nhiều đối tượng sử dụng thông tin khác nhau bên ngoài
doanh nghiệp, nó đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những
thông tin hữu ích, có thể giúp cho người sử dụng thông tin ra quyết định một cách
hợp lý, thỏa mãn mục tiêu của họ.
Chứng khoán là một loại hàng hóa vốn, rất trừu tượng và giá trị của nó
không liên quan đến hình thức vật lý mà dựa vào giá trị trong tương lai của nó. Việc
này đòi hỏi nhà đầu tư phải quan tâm nhiều đến đơn vị phát hành. Họ muốn biết rõ
các thông tin về đơn vị đó, như kết quả kinh doanh, tình hình chứng khoán…trước
khi quyết định mua hay bán chứng khoán. Trong một thị trường hiệu quả, giá các
chứng khoán không tách rời giá trị kinh tế mà các nhà đầu tư tính toán, ước tính cho
chứng khoán đó. Giá trị kinh tế của chứng khoán được xác định thông qua dự đoán
2
của các nhà đầu tư về rủi ro, lợi nhuận và sự không chắc chắn. Nếu giá của thị
trường chứng khoán có độ lệch so với giá trị kinh tế ước tính thì trong trường hợp
Phân tích ảnh hưởng của chất lượng thông tin BCTC tới tính thanh khoản
chứng khoán.
Đưa ra các giải pháp và đề xuất kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Từ những vấn đề được trình bày ở trên, để đạt được mục tiêu nghiên cứu như
đã giới thiệu, luận văn cần đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu như sau:
Câu hỏi 1: Cơ sở lý luận nào để đánh giá chất lượng thông tin BCTC, tính
thanh khoản chứng khoán và mối quan hệ giữa chúng.
Câu hỏi 2: Tính thanh khoản chứng khoán các công ty niêm yết tại Việt Nam
đang được đánh giá ở mức độ nào?
Câu hỏi 3: Các yếu tố của chất lượng thông tin BCTC có tác động như thế
nào đến tính thanh khoản của chứng khoán các công ty niêm yết tại Việt Nam?
Câu hỏi 4: Giải pháp nào để nâng cao tính thanh khoản trong mối quan hệ
với chất lượng thông tin BCTC các công ty niêm yết tại Việt Nam.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
a. Đối tƣợng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là chất lượng thông tin BCTC và
tính thanh khoản của chứng khoán.
b. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát là thông tin BCTC và tính thanh khoản chứng khoán các
công ty niêm yết tại HOSE và HNX tại thời điểm năm 2014
Thời gian thực hiện nghiên cứu: năm 2015
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp hỗn hợp, bao gồm
phương pháp định tính và định lượng.
Phương pháp định tính: được sử dụng để phỏng vấn các chuyên gia nhằm
khẳng định sự cần thiết của các thang đo đánh giá tính thanh khoản phù hợp với thị
trường Việt Nam, các thang đo để đánh giá chất lượng thông tin BCTC có tác động
đến tính thanh khoản.
công ty niêm yết sẽ tự hoàn chỉnh BCTC để nhằm thu hút đầu tư, tăng nguồn
vốn cho doanh nghiệp mình.
5
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu chất lượng thông tin BCTC và
tính thanh khoản chứng khoán
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Một số đề xuất nhằm góp phần nâng cao tính thanh khoản chứng
khoán trong mối liên hệ với chất lượng thông tin BCTC của các công ty niêm yết
tại Việt Nam
6
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHẤT LƢỢNG
THÔNG TIN BCTC VÀ TÍNH THANH KHOẢN CHỨNG KHOÁN.
Trong phần này tác giả chỉ trình bày các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
và trên thế giới với nội dung liên quan đến tính thanh khoản và các yếu tố của chất
lượng thông tin kế toán có tác động đến tính thanh khoản. Khi tìm hiểu về sự tương
quan giữa chất lượng thông tin BCTC đối với tính thanh khoản, các nghiên cứu đã
tiếp cận các vấn đề theo nhiều hướng khác nhau:
Góc độ chất lượng thông tin BCTC: các tác giả đã quan tâm đến tính hữu ích,
sự minh bạch, điều chỉnh lợi nhuận, công bố lại BCTC, gian lận BCTC, công
bố thông tin bắt buộc và tự nguyện.
cậy của thông tin báo cáo.
Đỗ Hoài Giang (2003) trong luận văn thạc sĩ, tác giả nghiên cứu về rủi ro
trên thị trường chứng khoán Việt Nam thể hiện thông tin không cân xứng, lựa chọn
đối nghịch và rủi ro đạo đức là những vấn đề rất phức tạp, nhạy cảm và có vai trò
quan trọng trong các giao dịch kinh tế, đặc biệt là các giao dịch tài chính. Tuy
nhiên, công tác thông tin trên thị trường chứng khoán chưa thực sự được các công
ty coi trọng. Những hạn chế đó đã dẫn đến chất lượng thông tin trên thị trường còn
thấp và kết quả là đã có nhiều biểu hiện của lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức
trên thị trường. Qua đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm cân bằng hoá thông
tin giữa các nhà đầu tư trên thị trường. Mặc dù vậy, bài nghiên cứu vẫn còn hạn chế
trong việc vận dụng các mô hình toán kinh tế để tách riêng tác động của thông tin
không cân xứng tới hoạt động của thị trường, trên cả phương diện lý thuyết và thực
tế.
1.1.2. Chất lƣợng thông tin BCTC
BCTC là quá trình lập, trình bày và công bố. Hầu như các nghiên cứu trong
nước tập trung vào các khía cạnh khác nhau của thông tin BCTC. Vì vậy, luận văn
sẽ xem xét các nghiên cứu trong nước theo từng hoạt động của quá trình này.
1.1.2.1. Qúa trình tạo lập thông tin BCTC
Qúa trình tạo lập thông tin BCTC được bắt đầu từ việc ghi nhận các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh thông qua hệ thống xử lý nghiệp vụ của hệ thống kế toán, đảm
bảo các nghiệp vụ ghi nhận phù hợp với các quy định, chuẩn mực kế toán hiện
hành. Như vậy, thông tin BCTC sẽ phụ thuộc vào việc xử lý của hệ thống kế toán
8
và các quy định, chuẩn mực được ban hành. Tổng hợp các nghiên cứu của các tác
giả trong nước về vấn đề này như sau:
Võ Văn Nhị (2011), trong nghiên cứu đề tài cấp bộ, tác giả đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu: Phương pháp hệ thống, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, phân
tâm, dựa vào đó tác giả xem xét khả năng thỏa mãn của nhà đầu tư khi sử dụng các
thông tin này. Từ đó đưa đến kết luận, vấn đề trình bày và công bố thông tin BCTC
của các công ty niêm yết chưa thực sự hữu ích đối với các nhà đầu tư như: việc tính
toán các số liệu tài chính khó khăn, thiếu thông tin, tiếp cận thông tin khó khăn và
thông tin được công bố chưa kịp thời.
Nguyễn Đình Hùng (2010), trong luận án tiến sĩ, tác giả xác định sự minh
bạch thông tin tài chính có thể xem là sự sẵn có của các thông tin tài chính cho
người sử dụng và nó được thể hiện qua các đặc tính: sự kịp thời, sự thuận tiện, sự
chính xác, sự đầy đủ và sự nhất quán. Tác giả xác định 6 yếu tố kiểm soát sự minh
bạch: Hệ thống chuẩn mực kế toán, quy định liên quan đến công bố BCTC, Hệ
thống kiểm soát nội bộ, Ban giám đốc, Kiểm toán độc lập và Ban kiểm soát. Từ
việc khảo sát sự tác động của 6 yếu tố này đến các đặc tính của sự minh bạch các
công ty niêm yết tại Việt Nam, tác giả đưa ra những kiến nghị liên quan đến 6 yếu
tố để tăng cường sự minh bạch thông tin tài chính các công ty niêm yết tại Việt
Nam.
Lê Trường Vinh (2008) nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh
bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư”. Trong
nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra 2 nhóm đặc điểm ảnh hưởng đến mức độ
công bố thông tin. Loại thứ nhất bao gồm các đặc điểm thuộc về tài chính và loại
thứ hai là các đặc điểm thuộc về quản trị doanh nghiệp. Những đặc điểm thuộc về
tài chính bao gồm: quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, tình hình tài chính, tài
sản cầm cố, hiệu quả sử dụng tài sản. Những đặc điểm về quản trị doanh nghiệp:
mức độ tập trung vốn chủ sở hữu, cơ cấu HĐQT, quy mô HĐQT. Và do giới hạn về
đề tài nên tác giả chỉ đi sâu vào tìm hiểu về nhóm đặc điểm tài chính ảnh hưởng đến
mức độ công bố thông tin.
Ngoài ra, năm 2011 trong bài viết của tác giả Đặng Thị Thúy Hằng, tác giả
quan tâm đến công bố thông tin ở một góc độ khác về công bố thông tin kế toán.
10
11
nào?, họ phát hiện ra rằng, có một mối quan hệ tích cực giữa chất lượng của thông
tin BCTC và hiệu quả đầu tư, đồng thời các công ty có thể có một sự đầu tư hiệu
quả với sự gia tăng thông tin BCTC của họ.
Trong năm 2010, Ali Rahmani, Seyed Ali Hoseini và Narges Rezapour trong
nghiên cứu về quan hệ sở hữu chế và thanh khoản cổ phiếu trong Iran, chỉ ra rằng
có một mối quan hệ tích cực giữa các sở hữu tổ chức và tính thanh khoản cổ phiếu,
ngoài ra mức độ tập trung của sở hữu tổ chức gây ra thanh khoản cổ phiếu trong
công ty giảm. Trong nghiên cứu của họ, mối quan hệ này đã được quan sát thấy
trong trường hợp của các tiêu chí giao dịch như quy mô giao dịch và tiêu chí
Amihud về các tiêu chí thông tin như mức chênh lệch giá chứng khoán giữa cung và
cầu.
Nekounam và các cộng sự (năm 2012) có bài nghiên cứu về mối quan hệ
giữa cơ cấu sở hữu với tính thanh khoản cổ phiếu. Trong nghiên cứu này, ảnh
hưởng của cơ cấu sở hữu được xem xét ở hai khía cạnh là hình thức sở hữu và tập
trung quyền sở hữu tác động đến tính thanh khoản. Mẫu khảo sát gồm 74 công ty, là
các thành viên của sàn giao dịch chứng khoán tại Tehran, đã được lựa chọn trong
khoảng thời gian 5 năm (2005-2009). Mô hình hồi quy tuyến tính với mức độ tin
cậy 95%, sử dụng phần mềm Excel và SPSS để kiểm tra các giả định và nghiên cứu
về mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu (biến độc lập) và thanh khoản (biến phụ thuộc).
Kết quả cho thấy mối quan hệ giữa mức độ thể chế quyền sở hữu, mức độ quyền sở
hữu quản lý và mức độ sở hữu tập trung có tác động tiêu cực đến tính thanh khoản.
Ngoài ra còn có tác động tích cực trong mối quan hệ giữa mức độ sở hữu tổ chức và
tính thanh khoản.
Tới năm 2013, cũng nghiên cứu tại Tehran, 28. Maryam và Kolthoum đã có
bài nghiên cứu về tính thanh khoản. Bài nghiên cứu này cũng tương tự như nghiên
cứu của Nekounam và các cộng sự (2012), cho kết quả có mối quan hệ tiêu cực
nhân thích hợp hơn thông tin BCTC của ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước.
Khác với những nghiên cứu đặc tính chất lượng riêng lẻ của thông tin BCTC
nêu trên, nhóm tác giả khác nghiên cứu chất lượng thông tin BCTC thông qua việc
đo lường các đặc tính dựa trên quan điểm của FASB và IASB. Phương pháp này
chủ yếu là đo lường trên cơ sở các khái niệm.
Đầu tiên là nghiên cứu của Jonas và Blanchet (2000), trong nghiên cứu này
tác giả đã xây dựng các yếu tố tạo nên 11 đặc tính chất lượng thông tin BCTC theo
FASB. Từ đó, Geert Braam và các cộng sự (2009 và 2013) phát triển nghiên cứu
14
của mình để đo lường chất lượng thông tin BCTC của Anh và Mỹ bằng phương
pháp “hoạt động hóa” các đặc tính chất lượng để đánh giá những thông tin tài chính
và phi tài chính nhằm xác định tính hữu ích của chúng.
1.3. Nhận xét tổng quan các nghiên cứu
Sau khi xem xét tổng quan các nghiên cứu khoa học trong nước và ngoài
nước có liên quan tương đối đến vấn đề của đề tài luận văn, tác giả có thể kế thừa
một số đặc điểm như:
Mối quan hệ giữa chất lượng thông tin kế toán với rủi ro thanh khoản của cổ
phiếu.
Mối quan hệ tích cực giữa chất lượng thông tin BCTC và hiệu quả đầu tư,
Những thông tin nào trên BCTC mà nhà đầu tư quan tâm.
Các nhân tố tác động lên tính thanh khoản chứng khoán
Đồng thời, tác giả có một số nhận xét sau:
Khái niệm chất lượng thông tin BCTC được các nghiên cứu xem xét trên
nhiều khía cạnh khác nhau, mang tính riêng lẻ, từ đó việc đo lường chất
lượng thông tin BCTC chỉ ở mức độ các thông tin tài chính và mức độ công
bố, chưa phản ánh được chất lượng thông tin BCTC toàn diện theo hướng
tính hữu ích của thông tin nhằm giúp người sử dụng thông tin BCTC ra quyết