Luận án : Hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 13

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Số liệu sử dụng trong Luận án là
trung thực. Những kết quả của Luận án chưa từng
được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.

Tác giả của Luận án
Nguyễn Tố Tâm
ii

LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa,
PGS.TS Lê Thị Hoà – người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn Tác giả
trong suốt quá trình thực hiện Luậ n án.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu của các
chuyên gia thuộc Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
trong quá trình khảo sát, thu thập số liệu. Tác giả xin cảm ơn các công ty niêm yết
thuộc Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã dành thời gian trả lời
phiếu khảo sát.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô trong Bộ môn Kiể m
toán, Viện Kế toán – Kiểm toán – Trường Đại học Kinh tế quốc dân đã đóng góp ý
kiến sửa chữa Luận án, cảm ơn quý thầy cô của Viện Đào tạo Sau đại học đã tạo
điều kiện giúp đỡ Tác giả trong quá trình học tập tại Trường.
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các đồng nghiệp Khoa Tài chính

2.2.! Chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết 15!
2.2.1.! Những tiêu chí phản ánh chất lượng thông tin kế toán tài chính 15!
2.2.2.! Yêu cầu về chất lượ ng thông tin kế toán tài chính đối vớ i các công ty
niêm yết 21!
2.2.3.! Vai trò của chất lượng thông tin kế toán tài chính của công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán 25!
2.2.4.! Một số nguyên nhân chính các công ty niêm yết cung cấp thông tin kế
toán tài chính kém chất lượng 27!
iv

2.3.! Tổ chức kiểm soát chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty
niêm yết 31!
2.3.1.! Xác định nội dung tổ chức kiểm soát chất lượng thông tin kế toán tài
chính… 32!
2.3.2.! Lượng hoá chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm
yết…… 32!
2.3.3.! Tổ chức kiểm soát nội bộ đối với chất lượng thông tin kế toán tài chính
của các công ty niêm yết 45!
2.3.4.! Tổ chức kiểm soát nhà nước đối với chất lượng thông tin kế toán tài
chính của các công ty niêm yết 61!
Kết luận chương 2 73!
CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC KIỂM SOÁT ĐỐ I
VỚI CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 74!
3.1.! Nguồn dữ liệu nghiên cứu 74!
3.2.! Phương pháp nghiên cứu định tính 75!
3.2.1.! Nghiên cứu tài liệu 75!
3.2.2.! Nghiên cứu tình hình thực tiễn 76!
3.2.3.! Phỏng vấn chuyên gia 77!
3.2.4.! Tổng hợp, phân tích 77!

Kết luận chương 4 117!
CHƯƠNG 5 – PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN TỔ CHỨC KIỂM SOÁT NHẰM TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG
THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 118!
5.1.! Phân tích kết quả nghiên cứu 118!
5.1.1.! Chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam 118!
vi

5.1.2.! Tổ chức kiểm soát nội bộ và mối liên hệ giữa tổ chức kiểm soát nội bộ
đối với chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam 125!
5.1.3.! Tổ chức kiểm soát nhà nước và mối liên hệ giữa tổ chức kiểm soát nhà
nước đối với chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việ t Nam 131!
5.2.! Các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng
thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam 133!
5.2.1.! Sự cần thiết tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua hoàn thiện
tổ chức kiểm soát nội bộ và kiể m soát nhà nước 133!
5.2.2.! Quan điểm xây dựng các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm
tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam 134!
5.2.3.! Các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất
lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trư ờng
chứng khoán Việt Nam 135!
5.2.4.! Điều kiện của giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường
chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường
viii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Giải thích thuật ngữ
BCTC
Báo cáo tài chính
BGĐ
Ban Giám đốc
CFFF
Conceptual Framework for financial reporting
Khuôn khổ lý thuyết lập báo cáo tài chính
COSO
Committee of Sponsoring Organizations
Hiệp hội các tổ chức tài trợ
CTNY
Công ty niêm yết
HĐQT
Hội đồng quản trị
IASB
International Accounting Standards Board
Ủy ban Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
IFAC
International Federation of Accountants
Liên đoàn Kế toán quốc tế
IFRS
International Financial Reporting Standards
Chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế

Bảng 2.2. Lượng hoá các tiêu chuẩn thông tin kế toán tài chính 42!
Bảng 2.3. Các nhân tố sử dụng trong lượng hoá các thành phần của tổ chức KSNB
58!
Bảng 2.4. Lượng hoá ảnh hưởng của các thành phần trong tổ chức kiểm soát nội bộ
59!
Bảng 4.1. Bảng thống kê số lượng CTNY trên SGDCK TPHCM trong giai đoạn
2008-2012 85!
Bảng 4.2. Phân loại CTNY trên SGDCK TPHCM theo nhóm ngành tính đến ngày
31/12/2012 86!
Bảng 4.3. Thống kê tỷ lệ các loại ý kiến kiểm toán đối với BCTC của các CTNY
phi tài chính trên SGDCK TPHCM (2008 -2012) 89!
Bảng 4.4. Nội dung các ý kiến chấp nhận từng phần đối với BCTC các các CTNY
phi tài chính trên SGDCK TPHCM (2008 -2012) 90!
Bảng 4.5. Lượng hoá các tiêu chuẩn chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi
tài chính của SGDCK TPHCM 95!
Bảng 4.6. Lượng hoá chất lượng thông tin KTTC các CTNY phi tài chính trên
SGDCK TPHCM 100!
Bảng 4.7. Lượng hoá các thành phần trong tổ chức KSNB của CTNY phi tài chính
trên SGDCK TPHCM 102!
Bảng 4.8. Lượng hoá tổ chức KSNB của các CTNY phi tài chính trên SGDCK
TPHCM 105!
Bảng 4.9. Ảnh hưởng tổ chức KSNB với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY
phi tài chính trên SGDCK TPHCM 106!
Bảng 4.10. Mối tương quan giữa tổ chức KSNB với chất lượng thông tin KTTC của
các CTNY phi tài chính trên SGDCK TPHCM 107!
x

Bảng 4.11. Mối tương quan giữa môi trường kiểm soát với chất lượng thông tin
KTTC của các CTNY phi tài chính trên SGDCK TPHCM 108!
Bảng 4.12. Mối tương quan giữa hệ thống thông tin kế toán với chất lượng thông tin

Trong những năm qua, TTCK Việt Nam đã trở nên quen thuộc với các nhà
đầu tư trong nước vì nó được coi là một trong những phương thức đầu tư hợp lý.
Giá cả chứng khoán tăng cao rồi giảm xuống nhanh chóng trong những năm qua
làm niềm tin của các nhà đầu tư vào giá trị của các công ty giảm nhanh chóng vì giá
trị một loại cổ phiếu giảm sút phản ánh giá trị thực của CTNY tương ứng. Nhà đầu
tư quan tâm đến chất lượng thông tin tài chính, đặc biệt là thông tin kế toán tài
chính (KTTC) được trình bày trong báo cáo tài chính (BCTC) của CTNY vì đây là
nguồn thông tin quan trọng để họ đánh giá tình hình tài chính của công ty để từ đó
đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn.
Với vai trò quan trọng trong nền kinh tế, những biến động của thông tin
KTTC cũng như sự tăng – giảm giá cổ phiếu của các CTNY như một “phong vũ
biểu” thể hiện rõ nét sự thịnh vượ ng hay suy thoái của nền kinh tế. Các nhà đầu tư,
chính phủ hay bất kỳ người quan tâm nào khi tiến hành đầu tư vào CTNY đều xem
xét tới những thông tin về chiến lược kinh doanh, về tình hình tài chính của các
công ty đó. Những thông tin KTTC của các CTNY được các công ty kiểm toán, soát
xét và đưa ra ý kiến về sự trung thực, hợp lý. Bên cạnh đó, những thông tin này còn
được các sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) và các ủy ban chứng khoán nhà nước
(UBCKNN) kiểm tra, giám sát. Do đó, khi đầu tư vào CTNY những nhà đầu tư cảm
2

thấy độ an toàn cao hơn những công ty chưa niêm yết nhưng mức độ tin cậy của
thông tin vẫn đang có những đ iể m hoài nghi.
Theo Agrawal (2005), Brown.J. (2010), làn sóng của các vụ bê bối kế toán
xuất hiện gần đây trong cộng đồng tài chính quốc tế đã đặt ra những vấn đề về chất
lượng BCTC [44,58]. Một số công ty có vị thế đã có những gian lận nghiêm trọng
về kế toán như Enron, WorldCom, Marconi, Parmalat,v.v… làm giảm niềm tin các
nhà đầu tư đối với BCTC của CTNY. Theo Karamanou.I. (2005), Beekes.W.
(2006), Brown.L. (2006), Firth.M. (2007), Petra.S. (2007), việc công bố thông tin
tài chính và số liệu kế toán không trung thực đã đặt ra sự cần thiết tăng cường chất
lượng thông tin KTTC và kiểm soát thông tin bằng cách thiết lập cấu trúc quản trị

nghiệp.
Như vậy, thực tế đòi hỏi tăng cường chất lượng thông tin KTTC của các
CTNY trên TTCK thông qua tổ chức KSNB trong các CTNY và kiểm soát từ phía
nhà nước là tất yếu, cần được nghiên cứu và có những giải pháp phù hợp.
Theo tìm hiểu của Tác giả, các nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập nhiều
về tính minh bạch thông tin tài chính của CTNY trên TTCK, hay mối liên hệ giữa
quản trị công ty với chất lượng thông tin KTTC, hay một khía cạnh tác động của
KSNN tới chất lượng thông tin KTTC. Tuy nhiên những nghiên cứu trên chưa đề
cập đến sự tác động toàn diện của tổ chức kiểm soát tới chất lượng thông tin KTTC.
Do đó, đề tài “Hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cư ờng chất lượng thông tin
KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam” là mang tính cấp thiết. Đây cũng là cơ
sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường
chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của Luận án là tập trung vào nghiên cứu và giải quyết các
mối quan hệ giữa tổ chức KSNB và KSNN với chất lượng thông tin KTTC của
CTNY nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin ngày càng cao của các nhà đầu tư.
Cụ thể:
(1) Xác định những tiêu chuẩn của chất lượng thông tin KTTC nói chung và
trong các CTNY nói riêng.
(2) Xác định mối liên hệ giữa tổ chức KSNB trong CTNY với chất lượng thông
tin KTTC của CTNY nhằm xác định nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin
KTTC của các CTNY trên TTCK.
4

(3) Phân tích các nhân tố ảnh hưởng của KSNN đến chất lượng thông tin
KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam.
(4) Đánh giá thực trạng chất lư ợng thông tin KTTC và tổ chức kiểm soát tới
chất lượng thông tin KTTC của CTNY.
(5) Đề xuất các giải pháp tăng cường chất lượng thông tin KTTC của CTNY

tổ chức kiểm soát khác với các công ty phi tài chính do hàng hoá và dịch vụ cung
cấp thuộc loại đặc biệt so với các ngành khác. Để đồng nhất nội dung nghiên cứu về
tổ chức KSNB và đảm bảo số lượng CTNY thực hiện khảo sát, Tác giả tập trung
thực hiện thu thập số liệu các CTNY phi tài chính.
Tại Việt Nam, sự hình thành và phát triển của hai SGDCK (SGDCK Thành phố
Hồ Chí Minh - SGDCK TPHCM và SGDCK Hà Nội) tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà đầu tư, các CTNY trong nước lưu thông vốn. Theo Nghị định 58/2012/NĐ-
CP của Chính phủ ban hành ngày 20/7/2012, điều kiện niêm yết tại SGDCK
TPHCM cao hơn so với SGDCK Hà Nội về vốn, về yêu cầu kết quả kinh doanh.
Mặc dù số lượng CTNY tại SGDCK TPHCM ít hơn nhưng tổng giá trị niêm yết cao
hơn gấp 3 lần so với tổng giá trị niêm yết tại SGDCK Hà Nội (theo số liệu thống kê
đến hết ngày 31/12/2012). Các CTNY phi tài chính tại SGDCK TPHCM đa dạng
các ngành nghề và vị trí địa lý kinh doanh. Để đảm bảo thời gian thực hiện nghiên
cứu, Luận án tập trung thu thập dữ liệu về thông tin KTTC của các CTNY phi tài
chính tại SGDCK TPHCM và thời gian nghiên cứu là năm 2008 đến năm 2012.
Vậy phạm vi nghiên cứu của Luận án là tổ chức KSNB của CTNY và KSNN
với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam
tại SGDCK TPHCM.
1.5. Những đóng góp mới của Luận án
Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu là tổ chức kiểm soát với chất lượng thông
tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam, Luận án đã thực hiện
quá trình nghiên cứu, khảo sát, phân tích, nhận định. Những đóng góp mới của Luận
án gồm:
(1) Luận án đã sử dụng tổng hợp các phương pháp và mô hình đo lường các
tiêu chuẩn chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt
Nam tại SGDCK TPHCM. Nghiên cứu thực hiện đánh giá từng tiêu chuẩn chất
6

lượng thông tin KTTC của các CTNY nhằm xác định nộ i dung nào là trọng tâm từ
đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường chất lượng thông tin KTTC cho các

Kết quả kiểm định và hồi quy tương quan cho thấy:
Thứ nhất, chất lượng thông tin KTTC của CTNY phi tài chính trên SGDCK
TPHCM được đánh giá tốt;
Thứ hai, chất lượng KTTC của CTNY chịu tác động của nhiều yếu tố song xét
trên giác độ quản lý, KSNB và KSNN có ảnh hưởng mạnh tới chất lượng thông tin
này;
Thứ ba, tổ chức KSNB có ảnh hưởng tới chất lượng thông tin KTTC của
CTNY phi tài chính trên SGDCK TPHCM, trong đó môi trường kiểm soát có ảnh
hưởng mạnh nhất, tiếp đến là thủ tục kiểm soát và hệ thống thông tin kế toán;
Thứ tư, tổ chức KSNN có ảnh hưởng tới chất lượng thông tin KTTC của
CTNY phi tài chính trên SGDCK TPHCM, trong đó ảnh hưởng của tổ chức bộ máy
kiểm soát, giám sát chất lượng thông tin KTTC được ước lượng là mạnh.
1.6. Kết cấu của Luận án
Luận án gồm 6 chương:
Chương 1 – Giới thiệu đề tài: Trình bày lý do lựa chọ n đề tài, mục tiêu nghiên
cứu, câu hỏi nghiên cứu và những đóng góp mới của Luận án.
Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về tổ chức kiểm soát
nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính các công ty niêm yết
trên thị thư ờng chứng khoán. Chương này đã tổng hợp cơ sở lý luận, tổng quan
nghiên cứu về tổ chức kiểm soát chất lượng thông tin KTTC của CTNY. Những lý
thuyết về kiểm soát, tổ chức kiểm soát, thông tin của CTNY, chất lượng thông tin
KTTC của CTNY, vai trò của kiểm soát thông tin KTTC của CTNY được đề cập
trong chương. Từ đó nội dung tổ chức kiểm soát chất lượng thông tin KTTC của
CTNY được xác định gồm: Lượng hóa chất lượng thông tin KTTC của CTNY, tổ
chức KSNB tới chất lượng thông tin KTTC của CTNY (qua lượng hóa KSNB của
CTNY và xác định mối quan hệ giữa KSNB với chất lượng thông tin KTTC của
CTNY), tổ chức KSNN tới chất lượng thông tin KTTC của CTNY (qua xác định
các tổ chức quản lý ảnh hưởng tới chất lượng thông tin KTTC của CTNY, thủ tục
kiểm soát, những kinh nghiệm của KSNN trên thế giới về thông tin KTTC của
CTNY trên TTCK).

khảo sát và những giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất
lượng thông tin KTTC của CTNY trên TTCK Việt Nam.
9

Kết luận chương 1
Luận án đã xác định đối tượng nghiên cứu là ảnh hưởng của tổ chức KSNB và
KSNN tới chất lượng thông tin KTTC của CTNY phi tài chính. Phạm vi nghiên cứu
của Luận án là tổ chức KSNB của CTNY và KSNN với chất lượng thông tin KTTC
của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam tại SGDCK TPHCM. Luận án
tập trung thu thập dữ liệu về thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính tại
SGDCK TPHCM và thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2012.
Mục tiêu tổng quát của Luận án là tập trung vào nghiên cứu và giải quyết các
mối quan hệ giữa tổ chức KSNB và KSNN với chất lượng thông tin KTTC của
CTNY để đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin ngày càng cao của các nhà đầu tư. Từ
đó, xác định câu hỏi nghiên cứu tổng quan: “Tổ chức kiểm soát toàn diện như thế
nào để tăng cường chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt
Nam?”
Luận án đã xác định những đóng góp mới như:
(1) Luận án đã sử dụng đã tổng hợp các phương pháp và mô hình đo lường
các tiêu chuẩn của chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên
TTCK Việt Nam tại SGDCK TPHCM;
(2) Luận án đã xác định sự ảnh hưởng thuận chiều của kiểm soát trong nội bộ
CTNY đối với chất lượng thông tin KTTC của CTNY;
(3) Luận án đã chỉ ra tác động của tổ chức KSNN tới chất lượng thông tin
KTTC của CTNY;
(4) Luận án đã tổng hợp đánh giá thực trạng về chất lượng thông tin KTTC
của các CTNY trên TTCK Việt Nam hiện nay;
(5) Luận án đã sử dụng phương pháp định tính, phương pháp định lượng
được sử dụng nhằm kiểm định mối liên hệ giữa tổ chức KSNB và KSNN với chất
lượng thông tin KTTC của các CTNY. Thông qua việc xây dựng mô hình kinh tế

đoạn: Định hướng, tổ chức thực hiện, cung cấp nguồn lực và điều hành, trong đó
kiểm tra là một chức năng được thực hiện ở tất cả các giai đoạn trong quá trình quản
lý.
11

Theo Nguyễn Ngọc Bích (2006) quản lý là việc tổ chức, điều khiển và theo
dõi thực hiện như đường lối của chính quyền quy định. Như vậy, quản lý là sự tác
động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được các
mục tiêu đã định [24, tr699].
Quá trình quản lý bắt đầu từ việc lập kế hoạch và xây dựng các mục tiêu có
liên quan. Việc lập kế hoạch được trợ giúp bởi việc tổ chức và cung cấp những
nguồn lực cần thiết – kể cả con người. Sau đó các nhà quản lý có những hoạt động
cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu đã xây dựng. Thông thường những hoạt động
đó tự nó chưa được coi là đầy đủ. Mọi việc hiếm khi được thực hiện đúng như dự
định và sai lầm cũng có thể xảy ra khi những điều kiện môi trường thay đổi. Do đó,
các nhà quản lý cần những biện pháp và hành động phụ thêm để có được những
mục tiêu tốt hơn, ngăn ngừa những loại hành động không mong muốn. Chức năng
kiểm soát chính là đem lại những biện pháp, hành động và thủ tục cần thiết cho
những nhà quản lý. Như vậy, kiểm soát tồn tại như một “khâu” độc lập của quá
trình quản lý nhưng đồng thời lại là một bộ phận chủ yếu của quá trình đó.
Kiểm soát là cần thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người,
trong tổ chức cũng như toàn bộ xã hội. Kiểm soát là một quy trình giám sát các hoạt
động để đảm bảo rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch và chỉnh sửa
các sai lệch quan trọng. Đích cuối cùng mà quá trình quản lý hướng tới chính là
việc đạt được mục tiêu đã đặt ra trong khuôn khổ một tổ chức nhất định. Việc thực
hiện các kế hoạch luôn phải đối mặt với những thay đổi của môi trường bên trong
và bên ngoài tổ chức, nếu không có kiểm soát, các nhà quản lý sẽ không có thông
tin để ra các quyết định thích hợp nhằm thích ứng và đối phó với sự thay đổi này, vì
vậy, mục tiêu đặt ra khó có thể thực hiện được. Chính vì vậy, nghiên cứu và thực
hiện kiểm soát luôn là nội dung gắn liền với quản lý.

điều hành đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Trên
cơ sở phân tích một số quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, Tác
giả đưa ra khái niệm về kiểm soát như sau: “Kiểm soát là chức năng quan trọng
trong quản lý, đ ượ c thực hiện tại các cấp độ và giai đoạn khác nhau trong quản lý
theo cách thức phù hợp với đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Kiểm soát bao gồm việc đo lường, đánh giá đối tượng kiểm soát nhằm đạt được
hiệu quả trong quản lý”.
13

2.1.1.2. Thông tin
Thông tin là một khái niệm đã có từ lâu đờ i, là một khái niệm rất rộng. Tùy
thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu, mà đưa ra những định nghĩa khác nhau và giới
hạn khái niệm đó lại phục vụ mục đích nghiên cứu.
Đối với các nhà quản lý kinh tế: Thông tin là những tín hiệu được thu nhận,
được hiểu và được đánh giá là có ích cho việc ra quyết định;
Đối với các nhà điều khiển học: Thông tin là một phạm trù phản ánh nội dung
và hình thức vận động của các sự vật và hiện tượng. Theo quan điểm hệ thống thì
thông tin là sự hạ n chế tính đa dạng của mỗi hệ thống sự vật đối với môi trường,
thông tin là tính trật tự của các đối tượng vật chấ t có những mối liên hệ biện chứng;
Đối với các nhà triết học: Thông tin là một phạm trù triết học phản ánh sự vận
động và tương tác của các hiện tượng, sự vật và quá trình tư duy. Thông tin là quá
trình phản ánh và tiếp nhận phản ánh, biến phản ánh thành hiểu biết, thành tri thức;
Đối với các nhà xã hội học: Thông tin quản lý trong hệ thống kinh tế xã hội là
sự phản ánh nội dung và hình thức vận động, liên hệ giữa các đối tượng, yếu tố của
hệ thống đó và giữa hệ thống đó với môi trường.
Thông tin có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, thông tin gắn liền với quá trình điều khiển và cần được kiểm soát:
Bản thân thông tin không có mục đích tự thân. Nó chỉ tồn tại và có ý nghĩa trong
một hệ thống điều khiển nào đó – nơi phát thông tin. Thông tin được trao đổi từ hệ
thống này sang hệ thống khác trong mối liên hệ với nhau. Việc kiểm soát nơi phát

(1) Kiểm soát thông tin không tồn tại độc lập, không phải là một thể thống
nhất hay cơ chế hoạt động. Nó thể hiện mối liên hệ giữa hệ thống điều khiển (hay
người sử dụng) với môi trường trong nội bộ hoặc bên ngoài;
(2) Kiểm soát thông tin không tồn tại cho đến khi nó thực sự được sử dụng.
Kiểm soát thông tin mang tính thường xuyên đảm bảo tính chất thống nhất, kết
nối giữa các thành phần thông tin. Thông tin được sử dụng và cần có sự kiểm soát
nhằm đảm bảo minh bạch thông tin, tăng độ tin cậy thông tin. Các thông tin sai lệch
và không được kiểm soát sẽ làm ảnh hưởng đến người sử dụng thông tin.
15

Do đó, kiểm soát thông tin là một yêu cầu tất yếu để đảm bảo thông tin không
bị sai lệch, thông tin không bị bóp méo. Để kiểm soát thông tin cần thực hiện tổ
chức kiếm soát thông tin phù hợp với đặc điểm của thông tin đó.
2.1.2. Tổ chức kiểm soát thông tin
Thuật ngữ tổ chức được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo Hoàng Phê
(2008), tổ chức là tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợ i
chung, nhằm một mục đích chung [17, tr1249]. Theo cách định nghĩa này, tổ chức
đề cập đến tổ chức về nhân sự với mục tiêu hoạt động chung, chưa đề cập đến các
mối quan hệ bên trong giữa các yếu tố khác trong hệ thống.
Theo Hornby (2010) tổ chức (organization) có nhiều cách hiểu khác nhau : (1)
tổ chức là tập hợp một nhóm người nhằm đạt đư ợc mục tiêu cụ thể; (2) tổ chức là
hoạt động sắp xếp cho một việc cụ thể; (3) tổ chức là cách thức liên hệ giữa những
thành phần khác nhau; (4) tổ chức là sự chuẩn bị kỹ lưỡng, logic một công việc cụ
thể. Theo cách định nghĩa này, tổ chức được nhìn nhận dưới rất nhiều khía cạnh
khác nhau như tổ chức con người, cách thức sắp xếp công việc, cách thức đánh giá
chất lượng công việc [80, tr1037].
Tổ chức theo nghĩa rộng phải bao hàm các mối liên hệ giữa các thành phần
khác nhau trong hệ thống bao gồm cả nhân sự và công việc. Mục tiêu chung của tổ
chức là tạo ra mối liên hệ tối ưu giữa các yếu tố của hệ thống, theo TS. Phạm Bính
Ngọ (2011) [33,tr26-28].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status