I. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Như Bác Hồ đã nói:
“Dạy trẻ cũng giống như trồng cây non
Trồng cây non được tốt thì sau này các cháu thành người tốt”
Thấm nhuần lời dạy của Bác, công tác giáo dục mầm non – những người
chủ tương lai của đất nước đã, đang và sẽ là chủ trương lớn của toàn Đảng, toàn
dân. Để thực hiện tốt mục đích giáo dục này, bậc học mầm non đã có nhiều bước
chuyển lớn nhằm góp phần đặt nền móng đào tạo con người phát triển toàn diện –
có đủ sức khoẻ, đủ trí tuệ và tài năng.
Để thực hiện được mục tiêu đó đòi hỏi người giáo viên mầm non phải có
tấm lòng yêu nghề, mến trẻ thực sự. Cô giáo như người mẹ thứ hai, gần gũi, yêu
thương để giáo dục trẻ hình thành những cơ sở ban đầu về nhân cách. Một trong
những bộ môn của ngành học mầm non mà tôi quan tâm để đầu tư thực hiện nhiệm
vụ trên đó là bộ môn cho trẻ làm quen với văn học.
Đặc biệt là việc giúp trẻ có vốn từ phong phú và khả năng diễn đạt mạch lạc,
diễn cảm, dễ đi vào lòng người được tôi quan tâm nhất khi cho trẻ tiếp xúc với tác
phẩm văn học. Trong trường mầm non hoạt động văn học có một vai trò quan
trọng trong việc hình thành nhân cách cho trẻ và văn học phù hợp với tâm sinh lý
của trẻ. Trẻ thích những câu chuyện cổ tích có ông Bụt, bà Tiên hiện lên giúp đỡ
những người hiền lành, người nghèo khổ.
Hay qua câu chuyện thần thoại, truyền thuyết tâm hồn trẻ luôn tưởng tượng
bay bổng đầy ước mơ. Trẻ cảm phục lòng dũng cảm của các vị anh hùng trong tình
tiết chiến trận. Thông qua hoạt động văn học giúp trẻ nhận thức được thế giới xung
quanh, những truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc từ đó bồi dưỡng cho trẻ các
tính cách trung thực, hiền lành, chăm chỉ…Qua đó giáo dục trẻ lòng yêu thiên
nhiên, yêu quê hương đất nước.
1
2.Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
*Mục tiêu: Với đề tài này nhằm bồi dưỡng cung cấp thêm cho giáo viên một
số kiến thức, kỷ năng để tổ chức hoạt động Làm quen Văn học nhằm phát triển
ngôn ngữ cho trẻ có hiệu quả hơn. Kiến thức cung cấp cho trẻ phải có trình tự, hợp
lý và thống nhất, đồng thời phải chính xác, thiết thực và mang tính ứng dụng cao.
Việc hình thành và rèn luyện cho giáo viên kĩ năng tổ chức, tiến hành một số
hình thức cho trẻ 5 – 6 tuổi, trẻ làm quen Văn học ở trường mầm non là rất cần
thiết, giúp giáo viên phải tự giác học hỏi trong thực tiễn, sáng tạo và biết tự rút
kinh nghiệm. Muốn cho trẻ phát triển ngôn ngữ tốt, nhất là trẻ 5 - 6 tuổi, ngôn ngữ
của trẻ được phát triển diễn đạt mạch lạc thông qua hoạt động làm quen Văn học
thì người giáo viên phải biết truyền cảm xúc của mình cho trẻ, phải dạy trẻ bằng
chính thái độ và hành vi ứng xử của mình đối với những tác phẩm văn học.
*Nhiệm vụ: Thông qua hoạt động Làm quen Văn học để phát triển toàn diện
cho trẻ nhất là lĩnh vực phát triển ngôn ngữ. Việc tổ chức cho trẻ làm quen Văn học
là giáo viên phải biết đưa ra các biện pháp hữu ích.
Biết dạy trẻ cảm nhận nhịp điệu, âm điệu của bài thơ, ca dao, đồng dao, dạy
trẻ biết kể lại chuyện một cách diễn cảm, trẻ biết nói lên những cái hay, cái đẹp về
nội dung của tác phẩm, giúp trẻ ghi nhớ bài thơ, câu chuyện và đọc, kể lại một
cách diễn cảm. Từ đó, trẻ phát triển ngôn ngữ giao tiếp một cách biểu cảm và
mạch lạc.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là một số biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng môn làm quen văn học cho trẻ 5 – 6 tuổi lớp lá 2 trường mầm non
Krông Ana
4.Giới hạn của đề tài
- Phạm vi nghiên cứu là một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng môn
làm quen văn học cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Krông Ana
4
ngữ cho trẻ được tích hợp trong tất cả hoạt động giáo dục trẻ, và nhất là trong hoạt
động Làm quen văn học.
Vì vậy, dạy cho trẻ Mầm non nói chung và cho trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng biết
cảm nhận văn học của giáo viên Mầm non là cực kỳ quan trọng trong việc giáo dục
ngôn ngữ cho trẻ.
Giáo viên cần có những kiến thức, kỷ năng, biện pháp, thủ thuật, biết tận
dụng các cơ hội có được mới có thể nâng cao chất lượng tổ chức Làm quen Văn
học để phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tốt nhất.
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Lớp có đầy đủ cơ sở vật chất trang thiết bị, đồ dùng dạy học phục vụ cho cô
và trẻ. Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường phân công cho 2 giáo viên
đứng lớp đều trẻ, tâm huyết với ngành học, yêu nghề mến trẻ, có phẩm chất nghề
nghiệp, có trình độ chuyên môn tiếp thu nhanh với những đổi mới trong chương
trình.
Giáo viên luôn được sự quan tâm chỉ đạo sát sao về chuyên môn tạo điều
kiện thuận lợi cho việc học tập bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Giáo viên đều là
người địa phương gần trường, gần lớp, gần gũi với phụ huynh.
Với tổng số học sinh 5 – 6 tuổi là 37 cháu; trong đó nữ 20; dân tộc 1; nữ dân
tộc 1
Được sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh, nên tôi
vận dụng các biện pháp mới cũng thuận lợi hơn.
Bên cạnh những ưu điểm trên trong thời gian nghiên cứu đề tài tôi cũng gặp
không ít vấn đề hạn chế và có mặt yếu kém như:
Số trẻ đông, một số trẻ thể lực yếu nên tiếp thu chậm hơn so với các bạn.
Gia đình học sinh còn khó khăn nên phụ huynh chưa cho trẻ tiếp xúc nhiều
với các loại hình nghệ thuật.
- Từ khảo sát thực tế tôi thu được kết quả sau:
07 trẻ/ 37 trẻ
19%
4
Thuộc và đọc, kể diễn cảm
15 trẻ/ 37 trẻ
41%
Từ kết quả trên tôi nhận thấy có những nguyên nhân cần được khắc phục và
thay đổi, cần có những biện pháp cụ thể để có thể giúp trẻ cảm nhận tốt hơn môn
Làm quen văn học
* Nguyên nhân khách quan:
Trẻ trở nên vui vẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động, đọc kể diễn cảm
một cách lưu loát. Và trẻ có sự tiến bộ trong cách ứng xử, kỹ năng sống tốt hơn.
Giáo viên có những kiến thức cơ bản, những biện pháp, những kỹ năng, thủ
thuật đọc thơ, kể chuyện diễn cảm, để truyền thụ kiến thức, đưa đến cho trẻ những
cảm xúc, những hình tượng tuyệt diệu của ngôn ngữ một cách có hệ thống. Từ đó
hướng chú ý của trẻ vào phát âm chuẩn xác, vốn từ phát triển, lời nói mạch lạc,
nghệ thuật
* Nguyên nhân chủ quan:
Giáo viên chưa chủ động linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động chơi,
các buổi sinh hoạt, nếu có thì chủ yếu là trong tiết học. Chưa thực sự đầu tư vào
công tác dạy trẻ đọc, kể diển cảm. Một số cháu nói tiếng địa phương, nói ngọng,
nói lắp.
Cô giáo dạy trở nên mềm dẻo, linh hoạt. Các cháu đọc diễn cảm các tác
làm phong phú lời nói của trẻ.
Cô giáo cần đem đến cho trẻ tác phẩm văn học như một tác phẩm nghệ
thuật, mở ra ý nghĩa của nó, truyền cho trẻ thái độ xúc cảm đối với các nhân vật
của tác phẩm, có nghĩa là truyền đạt bằng ngữ điệu thái độ của mình đối với các
nhân vật. Để làm được điều đó, trước khi cho trẻ làm quen với tác phẩm, hiểu và
rung động với nó, giáo viên cần phải biết phân tích nội dung và nghệ thuật của tác
phẩm. Và giáo viên phải nắm được kỷ thuật đọc và kể, phát âm rõ ràng, sử dụng
7
các phương tiện biểu cảm ngữ điệu (tốc độ, nhịp điệu, ngừng nghỉ, điều chỉnh độ
nhanh chậm, cường độ giọng…)
Trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi có khả năng suy nghĩ sâu hơn về nội dung các tác
phẩm văn học và hiểu một số đặc trưng của hình thức thể hiện nội dung, có nghĩa
là trẻ có thể phân biệt được các loại thể văn học và đặc trưng của từng loại. Trẻ dễ
dàng phân biệt văn xuôi với thơ, chỉ ra rằng thơ có sự nhịp nhàng, có thể phân biệt
dựa vào tính nhịp điệu và cấu tạo vần, sự ngân vang của các câu thơ.
Vì vậy, giáo viên cần phải hướng sự chú ý của trẻ vào các đặc trưng thể loại,
khi đó trẻ sẽ nhận thức sâu sắc hơn những giá trị của các tác phẩm văn học, và sẽ
hứng thú tham gia vào đàm thoại, đọc, kể, đóng kịch.
Ví dụ: Cho trẻ đọc những bài thơ, đồng dao sau đây, trẻ vừa cảm nhận phân
biệt được thể loại, vừa luyện phát âm cho trẻ như bài “ hoa kết trái hay bài nu na
nu nống”
Sau khi đọc truyện cổ tích cần phân tích cho trẻ hiểu và rung cảm được cả
nội dung tư tưởng, cả những giá trị nghệ thuật, cả đặc trưng của thể loại cổ tích để
những hình tượng kì diệu của cổ tích lưu giữ dài lâu trong tình yêu mến của trẻ.
Ví dụ: Sau khi kể chuyện Tích Chu, cần hỏi: “Cô vừa kể cho các cháu nghe
câu chuyện gì? Tại sao cháu biết? Nhân vật nào các cháu yêu thích nhất? Tại sao?
Các cháu nhớ lại xem câu chuyện bắt đầu và kết thúc như thế nào? Ai nhớ được bà
nói gì với Tích Chu khi cháu chạy về nhà thấy bà hóa thành chim? Những từ nào
Không nên yêu cầu trẻ ghi nhớ ngày lập tức vì điều này làm cho trẻ xao lãng
chú ý vào nhạc tính của bài thơ. Hãy để cho các cháu trước hết cảm nhận vẻ đẹp,
sự du dương của bài thơ, nhận thức sâu hơn nội dung của nó. Sau khi đọc cần trao
đổi để làm rõ trẻ có hiểu hay không.
Chẳng hạn, sau khi đọc bài thơ Làm anh của Phan Thị Thanh Nhàn, cô có
thể nêu câu hỏi: Bài thơ nói về cái gì (làm anh phải như thế nào); Thế làm anh phải
thế nào? Ai có em bé nói cho cô và các bạn nghe: Phải dỗ em, phải nhường em, có
em rất vui… Sau khi thảo luận cô đọc bài thơ một lần nữa (nếu bài thơ ngắn thì
đọc hai lần) và yêu cầu trẻ nhớ lại, bởi vì khi đó trẻ đã nắm được nội dung, cảm
nhận được hình thức nghệ thuật, nhớ được những từ riêng biệt.
9
Cô giáo lựa chọn cháu nào cần gọi lên đọc. Các cháu nhớ tốt hay ngược lại,
hoặc những cháu còn hạn chế về giọng điệu. Điều này phụ thuộc vào nội dung của
bài thơ, khối lượng dài hay ngắn và những nhiệm vụ cụ thể đặt ra cho tiết học.
Nhờ sự tri giác này, cùng với nội dung giúp trẻ nắm được cả hình thức nghệ
thuật có thể gọi là toàn vẹn và theo đó những từ ngữ hình tượng chuyển vào vốn từ
tích cực của trẻ đã được phát triển.
Biện pháp 2: Giáo viên phải tự rèn luyện cho mình các thủ thuật ngữ âm khi
đọc tác phẩm văn học
Đối với trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, có thể nêu ra những nhiệm vụ mới trong
việc dạy trẻ kể lại các tác phẩm văn học, kĩ năng truyền đạt lại nội dung chuyện kể,
chuyện dân gian, một cách thứ tự, biểu cảm, chặt chẽ không cần đến những câu hỏi
gợi ý của cô, truyền đạt lại lời thoại có biến đổi ngữ điệu tương ứng với tình cảm
của các nhân vật, sử dụng các phương tiện biểu cảm.
Phương pháp dạy trẻ kể lại chuyện trong các tiết học phụ thuộc vào trình độ
phát triển lời nói mạch lạc của trẻ từng nhóm, lớp, vào nhiệm vụ cô đặt ra, vào đặc
trưng của câu chuyện đem ra kể.
Cô kể tác phẩm văn học có thể cô kể với nhiều hình thức khác nhau. (kể theo
Điều rất quan trọng là làm sao cho khi trẻ kể chuyện lời nói hình ảnh nghệ
thuật của nhân vật trong chuyện thành lời của riêng trẻ. (trẻ kể diễn cảm biết kết
hợp cử chỉ điệu bộ). Nếu câu chuyện không dài, trẻ có thể kể lại một cách đầy đủ.
Câu chuyện dài hơn cần chia thành các phần và cho trẻ kể theo các phần đó (cô nêu
nhận xét trước lôgic các phần đó). Cần nêu ra những câu hỏi dự định trước cho các
cháu gặp khó khăn khi kể lại. Chỉ dùng câu hỏi để gởi ý, nhắc nhở, (chú ý không
có quá nhiều câu hỏi). Câu hỏi phải cụ thể, không làm cho trẻ lãng quên nội dung
câu chuyện. Thỉnh thoảng cô nhắc trẻ một vài hành động nhân vật, một vài từ ngữ
trẻ bỏ qua hoặc quên (từ ngữ đó liên quan đến nội dung chính của câu chuyện).
Cô giáo quyết định lựa chọn cháu nào lên kể đầu tiên. Các cháu có lời nói
phát triển hay ngược lại, có thể chọn cháu nhút nhát hơn để rèn sự tự tin và ngôn
ngữ cho trẻ. Sự lựa chọn phù thuộc vào mức độ khó khăn của câu chuyện, vào
nhiệm vụ cụ thể đặt ra cho tiết học và vào đặc điểm cá nhân của trẻ.
11
Ví dụ: Nếu câu chuyện có khối lượng không lớn, nội dung đơn giản, cô có
thể yêu cầu các cháu yếu hơn. Câu chuyện dài có thể cho những trẻ nhanh nhẹn kể
nối tiếp. Điều quan trọng là làm sao có thể gọi từng cháu. Đối với những trẻ ít tập
trung chú ý cần động viên khuyến khích trẻ. Có thể dạy trẻ tập nhập vai đóng kịch
cùng cô và các bạn khác (cho trẻ vào vai nhân vật đơn giản nhất trong câu chuyện).
Có như vậy mới phát triển ngôn ngữ cho trẻ mạch lạc hơn.
Ở trường mầm non cần xây dựng góc sách, trang trí tranh ảnh, môi trường
chữ viết. Cách xếp đặt các đối tượng trong trang trí phải tiện lợi cho việc trẻ quan
sát và không cản trở các hoạt động chung của trẻ. Giáo viên phải tổ chức cho trẻ
thường xuyên sử dụng đồ chơi và đồ dùng. Khi trẻ em sử dụng đồ vật, đồ dùng,
tranh ảnh giáo viên cần khuyến khích giúp đỡ và chỉ dẫn cho trẻ cảm nhận chúng.
Đối với trẻ mẫu giáo cần có nhiều tranh ảnh, mô hình và màn hình.
Nhưng việc sử dụng chúng như thế nào cũng cần phải có kế hoạch và tổ
chức chu đáo, bảo quản tốt. Trong trường mầm non có các mối quan hệ như: Trẻ
vật) làm như vậy?” ; “Theo con, bạn Gấu nên làm gì?...
+ Sử dụng loại câu hỏi dự đoán kích thích trẻ phỏng đoán, suy nghĩ diễn
biến và kết quả: Kể hoặc đọc cho trẻ một câu chuyện. Trong lúc đọc/ kể có thể
dừng lại một vài lần và hỏi: “Các con nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo?”.
+ Sử dụng các câu hỏi miêu tả: “Câu chuyện xảy ra ở đâu?”; “Các nhân vật
trong truyện là ai?” ; “Điều gì xảy ra trong phần đầu câu chuyện?: “Tại sao con
nghĩ nó lại kết thúc như thế?” ; “Giải thích tại sao con lại nghĩ như vậy?” ; “Con có
thích câu chuyện này không? Tại sao?”.
Đưa ra câu hỏi với thái độ khuyến khích, giọng nói nhẹ nhàng. Thu hút sự
chú ý của trẻ trước khi nêu câu hỏi, nêu câu hỏi chung cho cả lớp. Gọi những trẻ
giơ tay nhưng không chỉ tập trung vào một trẻ khá. Cần chú ý đến những trẻ nhút
nhát, rụt rè hoặc chậm chạp.
Đưa ra những câu hỏi mở: Hỏi trẻ các câu hỏi gợi mở như “Con sẽ làm gì
sau giờ kể chuyện hôm nay?”, chúng ta sẽ nhận được câu trả lời chi tiết hơn từ trẻ.
Tránh sử dụng câu hỏi chỉ yêu cầu trẻ trả lời “Có/không” : “Hôm nay giờ kể
chuyện có vui không?”…
13
Sử dụng đa dạng các dạng câu hỏi khuyến khích trẻ gọi tên, kể tên, nêu đặc
điểm, nêu nhận xét, cảm nghĩ, kết luận, giải thích…để kích thích sự phát triển tư
duy và ngôn ngữ cho trẻ.
Sử dụng tranh, ảnh để gợi ý:
Lựa chọn tranh: Có thể sử dụng tranh đơn lẻ theo chủ đề hoặc tranh liên
hoàn theo nội dung một câu chuyện cụ thể.
Tranh lựa chọn theo chủ đề là các tranh phản ánh cuộc sống của con người
và con vật. Tranh mô tả môi trường sống (thiên nhiên, xã hội), các hành động của
con người và con vật trong cuộc sống hàng ngày, trong học tập, lao động và vui
chơi. Tranh mô tả con người, con vật, các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ nào
đó. Tranh giáo dục tình cảm, giáo dục lối sống, giáo dục tình yêu thương gia đình,
Ngoài ra giáo viên có thể cho trẻ tạo sơ đồ câu chuyện bằng cách nối hình
theo trình tự không gian, thời gian hay theo cách sắp xếp của cá nhân mỗi trẻ. Một
câu chuyện có thể xây dựng một sơ đồ hoặc nhiều sơ đồ, điều đó tùy thuộc vào nội
dung câu chuyện cũng như tùy thuộc vào khả năng của trẻ trong lớp.
Giáo viên cùng trẻ tham gia xây dựng xác lập nên sơ đồ dàn ý của chuyện
giúp cho trẻ nhớ được bố cục của chuyện. Qua dàn ý mà trẻ cùng lập nên, trẻ nhớ
được các sự kiện chính trong câu chuyện. Từ đó, trẻ có thể kể chuyện được dễ
dàng. Trong quá trình lập dàn ý của truyện, giáo viên đưa ra các câu hỏi giúp trẻ
định hướng tốt hơn: “Trong câu chuyện có những nhân vật nào?”; “Chuyện gì đã
xảy ra?”; “Nhân vật đó đi đâu? Làm gì? Làm như thế nào?”…
Đây là biện pháp đòi hỏi ở trẻ khả năng vận dụng linh hoạt các kiến thức,
kinh nghiệm đã có, tính tích cực sáng tạo của mình trong quá trình kể chuyện. Sử
dụng tốt biện pháp này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tự kể chuyện. Với những
trẻ nhút nhát, trẻ cũng có thể từng bước hoàn chỉnh câu chuyện của mình dù ở mức
độ đơn giản. Với những trẻ nhanh nhẹn, hoạt bát, thì các gợi ý của sơ đồ sẽ là đòn
bẩy để trẻ phát huy trí tưởng tượng sáng tạo của mình bộc lộ qua lời nói, qua cử
chỉ, điệu bộ, nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
15
Biện pháp 4: Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho trẻ qua các môn học khác
Việc rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho trẻ không chỉ diễn ra ở tiết học văn học
mà còn được diễn ra trong các hoạt động học tập khác như:
Môn khám phá khoa học
Chơi vận động
Làm quen hoạt động tạo hình
Làm quen chữ cái…
Vì thế các bài thơ trong các bộ môn đó không hề mất đi ý nghĩa văn học của nó
mà còn giúp trẻ hiểu một cách dễ dàng nội dung của tác phẩm, đặc biệt là kỹ năng
đọc diễn cảm của trẻ dần phát triển .
phối hợp các giải pháp và biện pháp với nhau để làm cho những tri thức mà trẻ
nhận được càng thêm phong phú và là động lực cho trẻ phát triển lời nói mạch lạc.
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm
vi và hiệu quả ứng dụng
- Kết quả khảo nghiệm: Qua điều tra học sinh 100% các cháu đều thích đọc
diễn cảm. Thăm dò ý kiến của đồng nghiệp của lãnh đạo khi áp dụng các giải pháp
được nhất trí 100%. Kết quả khi vận dụng giải pháp này 100% các cháu đều hứng
thú tham gia tích cực việc đọc diễn cảm
- Giá trị khoa học: Mang lại những kiến thức về rèn kỹ năng trong việc dạy
đọc diễn cảm cho trẻ. Giúp cho tâm hồn trẻ được trong sáng hơn, yêu nghệ thuật
văn học.
*Đối với cô: Những năm mới ra trường kinh nghiệm còn ít, chưa biết cách
áp dụng những phương pháp trên nên kết quả đạt ở trẻ chưa cao và còn tốn nhiều
thời gian. Từ khi tôi sử dụng sáng kiến này kết quả đạt được rõ rệt lên lớp nhẹ
nhàng hơn.
*Đối với trẻ:
Qua điều tra và thăm dò ý kiến khi áp dụng biện pháp đã đạt được một số kết
quả khảo nghiệm như sau:
17
TT
Các nội dung
Số trẻ đạt
Tỉ lệ
1
* Đối với phụ huynh:
Hiểu được những suy nghĩ và mong muốn của con mình, tạo điều kiện cho
trẻ được tiếp xúc với nhiều loại chuyện tranh. Thường xuyên đọc, kể chuyện cho
trẻ nghe và yêu cầu trẻ kể chuyện đọc thơ cho ba mẹ nghe.
III. Phần kết luận, kiến nghị
1. Kết luận
Môn “Làm quen văn học”, là một trong những nội dung giáo dục rất quan
trọng. Nó giúp hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức, tình cảm cho trẻ.
Trong đó kỹ năng đọc diễn cảm đóng vai trò hết sức cần thiết, nó không chỉ giúp
trẻ cảm nhận được tác phẩm văn học một cách tốt nhất mà còn là cơ sở cho sự cảm
thụ văn học của trẻ ở các bậc học tiếp theo.
Trẻ cảm nhận được những giá trị nội dung, nghệ thuật phong phú trong tác
phẩm văn học, khơi gợi ở trẻ sự rung động, hứng thú đối với văn học, có ấn tượng
về những hình tượng nghệ thuật, cái hay cái đẹp của tác phẩm và thể hiện sự cảm
nhận đó qua các hoạt động mang tính chất văn học nghệ thuật như đọc thơ, kể
chuyện, chơi trò chơi đóng kịch, cao hơn nữa là tiến tới sáng tạo ra những vần thơ,
câu chuyện theo trí tưởng tượng của mình, góp phần hình thành và phát triển toàn
diện nhân cách trẻ.
Trong đề tài này, tôi tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu kỹ năng đọc diễn
cảm của trẻ mẫu giáo lớn, từ việc tìm hiểu tình hình, xác định nguyên nhân về việc
đọc diễn cảm của trẻ ở trường mầm non
2. Kiến nghị
18
Đối với nhà trường: Nhà trường cần tăng cường hơn nữa các lớp tập huấn, tổ
chức cho giáo viên tham quan học tập ở các đơn vị bạn. Bổ sung thêm một số đồ
dùng, đồ chơi để giáo viên tổ chức hoạt động đạt hiệu quả hơn. Tiếp tục đầu tư cơ
dục 2007.
4. Tài liệu đại học chính quy.
5.Chuyên đề giáo dục mầm non.
6. Sách bồi dưỡng thường xuyên
20
MỤC LỤC
Trang
I. Phần mở đầu...................……………………...………………………........…...1
1. Lý do chọn đề tài...........……………………………………………………........1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài .................………………………………..……...3
3. Đối tượng nghiên cứu...........………………………………………………..…...3
4. Giới hạn của đề tài.....................…………………………………………..…......3
5.Phương pháp nghiên cứu...................…………………………………..…….......4
II. Phần nội dung..............…………………………………………………….......4
1. Cơ sở lý luận..........…………………………………………………....……........4
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu ...…………………………………....…...…....…5
3. Nội dung và hình thức thực hiện giải pháp ....………………………….…....….7
a. Mục tiêu của giải pháp................................……………………………….....…..7
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp...................................…....….....…...7
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.......……………………..........……17
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi nghiên
cứu…..............…………….......................................................………..…............18
III. Phần kết luận, kiến nghị………………......................................……….......19
1. Kết luận……………………….....................…………………….....……….....19
2. Kiến nghị……………………………….................……….....…………….......19
21