MỘT SỐ BIỆN PHÁP
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC XÃ HỘI CHO TRẺ 5- 6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM
NON HOA PHƯỢNG
PHẦN I
MỞ ĐẤU
1. Lý do chọn đế tài
Con người mới trong thời kì công nghiệp hoá – hiện đại hoá, giáo viên mầm non
ngày càng phải đối mặt với các hành vi có vấn đề của trẻ. Nguyên nhân chủ yếu đó là
người lớn càng dành ít thời gian hơn đối với trẻ để hiểu trẻ hơn, để biết trẻ cần gì và muốn
những gì. Nhiều cha mẹ dành cho con thời gian rất ít, số lượng cha mẹ quá bận rộn với
công việc tăng lên nhanh chóng chính vì vậy làm cho trẻ ít được tiếp xúc trò chuyện cùng
bố mẹ dẫn đến trẻ ít có kinh nghiệm xã hội hơn. Biết xây dựng những mối quan hệ thân
thiện là một kỹ năng sống rất cơ bản vì qua đây trẻ học được rất nhiều điều, ngoài việc
nắm vững tri thức, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, có phẩm chất kỹ năng sống tốt thì
cần phải có năng lực xã hội. Đặc biệt trong xu thế hội nhập với một xã hội không ngừng
biến đổi hiện nay, đòi hỏi con người phải thường xuyên ứng phó với những thay đổi hàng
ngày của cuộc sống, mục tiêu giáo dục không chỉ giúp con người học để biết, học để làm
mà còn học để làm người và học để cùng chung sống. Do đó, vấn đề phát triển năng lực xã
hội cho học sinh lứa tuổi mầm non là vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết. Học sinh mầm non
là những học sinh đang trong quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất về nhân
cách; những thói quen cơ bản chưa có tính ổn định mà đang trong quá trình hình thành và
củng cố. Chính vì vậy việc phát triển năng lực xã hội giúp các em có thể sống một cách an
toàn và khỏe mạnh biết bảo vệ bản thân là việc làm cần thiết. Chính những kết quả này se
là cơ sở, là nền tảng giúp học sinh phát triển nhân cách sau này, làm hành trang cho các
cháu bước vào đời.
Từ lúc ra trường đến nay, tôi được phân công đứng mẫu giáo lớn. Là một trong
những lứa tuổi cần phải chuẩn bị chu đáo một cách toàn diện về các mặt thể chất, trí tuệ,
những phẩm chất đạo đức và một số kỹ năng cần thiết của hoạt động học tập nhằm giúp trẻ
thích ứng với cuộc sống, với hoạt động học tập ở trường phổ thông.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ
a) Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trong công tác giáo dục trẻ mầm non hiện nay thì việc trang bị cho trẻ những kỹ
năng cần thiết và đó không phải là nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp 5 tuổi mà là
nhiệm vụ mỗi gia đình và của toàn xã hội.
Từ đó nâng cao nhận thức của phụ huynh về việc phát triển năng lực xã hội cho trẻ.
Có những biện pháp nghiên cứu cụ thể, hiệu quả để nắm được thực trạng tâm thế, trí
tuệ, kỹ năng học tập… của trẻ mẫu giáo lớn. Từ đó có những biện pháp phù hợp để cải
thiện thực trạng.
b) Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Khái quát hóa trên cơ sở phân tích những tài liệu có liên quan và điều tra, khảo sát
các bậc phụ huynh đến việc phát triển năng lực xã hội cần thiết từ đó phân tích, đánh giá
để có những biện pháp thiết thực nhất nhằm giúp trẻ có một sức khỏe và một thể trạng tốt,
nắm những kỹ năng cần thiết không bị áp lực hay gặp bất cứ một sức ép tâm lý nào ảnh
hưởng đến việc học tập của trẻ sau này.
3. Đối tượng nghiên cứu
Căn cứ vào yêu cầu của đề tài, tôi chọn đối tượng nghiên cứu là phát triển năng lực
cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường Mẫu giáo Hoa Phượng.
4. Giới hạn nghiên cứu
Các cháu lớp lá 1 trường Mẫu giáo Hoa Phượng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
a, Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu: Sưu tầm các tài liệu, tìm sách, đọc báo,
phân tích tổng hợp tài liệu để có cơ sở lý luận về việc chuẩn bị tốt cho trẻ để phát triển
những kỹ năng xã hội cần thiết.
b, Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp điều tra: Dùng phiếu điều tra để phỏng vấn giáo viên, phụ huynh học
sinh và một số vấn đề liên quan đến việc phát triển năng lực xã hội cho trẻ.
của việc phát triển năng lực xã hội là rất cần thiết.
2. Thực trạng
Trẻ ở lúa tuổi mầm non rất hiếu động, ham tò mò và thích khám phá, thích làm
những điều mình thích nhưng không biết rằng làm những việc đó có đung hay không.
Nhưng chưa được người lớn quan tâm và thỏa mãn nhu cầu của trẻ, phụ huynh lúc nào
cũng có suy nghĩ trẻ đến trường phải biết đọc chữ mà quên đi rằng việc chuẩn bị cho trẻ
những kiến thức cơ bản về kỹ năng xã hội cũng không kém phần quan trọng. Bản thân tôi
nhận thấy việc chuẩn bị những kỹ năng xã hội cần thiết cho trẻ là một việc làm quan trọng,
chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu tìm ra nhũng biện pháp giúp cho phụ
huynh hiểu được vấn đề từ đó đưa ra những hình thức, phương pháp phù hợp để giáo dục
trẻ.
Qua một năm nghiên cứu và vận dụng đề tài này có sự chuyển biến rõ rệt:
Đối với trẻ: Trẻ đi học đều hơn, đạt tỷ lệ chuyên cần đạt 97% trở lên và ít gặp khó
khăn khi đến lớp, trẻ có kỹ năng tự phục vụ, trực nhật, sắp xếp bàn ghế khi ăn, tự treo
khăn, tự chuẩn bị đồ dùng khi ăn như mang chén, muỗng…sau khi ăn xong trẻ tự biết cất
đồ dùng và tự trải nệm khi ngủ.
Đối với các bậc cha mẹ: Cha mẹ coi trọng trẻ và tích cực tham gia vào các hoạt
động giáo dục trẻ ở nhà trường. Phụ huynh đã có thói quen phối hợp với giáo viên trong
việc dạy kỹ năng sống cho trẻ bằng cách phân việc cho trẻ như quyét nhà, dọn chiếu.. thay
vì cưng chiều trẻ.
Đối với giáo viên: Cô giáo chịu khó trò chuyện với trẻ nhiều hơn, trả lời những câu
hỏi vụn vặt của trẻ, không la mắng đối xử công bằng với trẻ, giải quyết công bằng với mọi
tình huống xảy ra giữa các trẻ trong lớp.
Chính vì chuẩn bị tốt về mặt tâm lý cũng như thể trạng và các kỹ năng học tập nên
kết quả là một số cháu đã được đi thi vở sạch chữ đẹp và thi làm toán trên mạng…
3. Nội dung và hình thức của giải pháp
a) Mục tiêu của biện pháp
Khi thực hiện biện pháp này nhằm mục đích làm cho giáo viên có sự chủ động hơn
làm và cái nào không nên làm.
Do đó vai trò của giáo viên và phụ huynh là rất quan trọng, giáo viên cần cho phụ
huynh thấy được những lợi ích của việc có bạn còn phụ huynh cần cho trẻ hiểu rằng bạn bè
là tuyệt vời, là người rất cần thiết cho cuộc sống để từ đó phát triển tình bạn ở trẻ.
- Biện pháp 2: Sử dụng tình huống có vấn đề nhằm hình thành cho bé một số kỹ
năng cần thiết.
Một trong những kỹ năng cần hình thành ở trẻ, đó là giúp các bé có khả năng biết từ
chối, kỹ năng biết xử lý tình huống khi bé cảm thấy không an toàn.
Giáo viên có thể thiết kế một số tình huống để tập cho trẻ tự giải quyết vấn đề. Những tình
huống này được sử dụng xuyên suốt trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ.
Ví dụ: Cô kể cho trẻ nghe mẩu chuyện
Hôm nay sau giờ tan học, Hà đang chờ mẹ đón về, cô bé rất lo lắng khi chờ mãi mà
không thấy mẹ tới, nhân lúc đó cô giáo không để ý và Hà đã chạy thật nhanh ra cổng để
đón mẹ. Bỗng có một người phụ nữ xuất hiện và đưa cho Hà một gói bánh và nói với Hà
hãy đi theo cô nhà cô con có rất nhiều bánh ngon nữa….. Sau khi kể cho trẻ nghe mẩu
chuyện đó, cô có thể hỏi trẻ một số câu hỏi để trẻ giải quyết tình huống.
+ Con có được tự ý chạy ra khỏi lớp khi chưa có sự đồng ý của cô không? Vì sao?
+ Nếu là con con có đi theo người đàn bà đã cho con bánh hay không? Vì sao?
Một số yếu tố khác cũng góp phần để trẻ phát triển một số kỹ năng cần thiết đó
chính là tạo cơ hội để trẻ thảo luận về các kỹ năng trong xã hội. Nếu giáo viên muôn trẻ
giúp đỡ, quan tâm đến người khác, biết tự bảo vệ mình thì trẻ phải được khuyến khích giải
quyết vấn đề. Trẻ cần được phát triển khả năng suy nghĩ về vấn đề xảy ra và tự giải quyết
chúng. Có như vậy mới phát triển được các kỹ năng giải quyết vấn đề. Cho trẻ tham gia
vào tình huống và giải quyết những tình huống đó dần dần chúng se học được nhiều điều
và đó se là những kiến thức quý báu để hình thành những kỹ năng cần thiết cho trẻ.
- Biện pháp 3: Hướng dẫn cha mẹ về nội dung và cách rèn luyện kỹ năng cần
thiết cho trẻ.
Tuổi mầm non là giai đoạn mà trẻ học về mình và học cách hành động với người
thành phố, các gia đình có điều kiện lại dễ bị hư hỏng hơn. Các em có quá nhiều điều kiện
vật chất tốt, thì lại dễ dàng hư hỏng, đua đòi theo bạn bè, thậm trí bỏ nhà đi bụi…Tất cả
những điều đó đều xuất phát từ việc cha mẹ không nắm bắt được tâm lý trẻ, và không
trang bị cho trẻ những kỹ năng xã hội cần thiết theo độ tuổi. Xã hội tác động vào các em
hàng giờ, hàng ngày, trong khi giáo dục của cha mẹ lại chỉ mang tính chất lý thuyết, thậm
chí có nhiều cha mẹ nghe nói có trung tâm dạy kỹ năng sống hè là đăng kí cho con theo
học mà không hiểu rằng : kỹ năng sống cần trang bị thường xuyên chứ không phải một hai
ngày. Thử hỏi, sau một vài ngày hè học kỹ năng theo kiểu tập trung, xô bồ, các con của
bạn đọng lại điều gì? Khi tiếp xúc với bạn bè, với những thói hư tật xấu liệu các em có đủ
bản lĩnh để đối phó, bước qua?
Sau nhiều năm nghiên cứu, các chuyên gia Wedo-Wegood khẳng định: Giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ em cần có sự kết hợp giữa cha mẹ và nhà trường. Đó là quá trình giáo
dục thường xuyên từ suy nghĩ, hành vi, lối sống, và hoạt động. Dạy kỹ năng sống cho học
sinh không phải là bài giảng lý thuyết dài, hay những trò chơi mang tính vui vẻ., mà đó là
sự trải nghiệm, hành trình khám phá những cá thể khác nhau. Điều quan trọng nhất trong
việc học kỹ năng đó là chính bản thân các em phải có sự khám phá từ sâu bên trong mình,
phát hiện ra đâu là ưu điểm, đâu là nhược điểm của bản thân. Từ đó thông qua tình huống
thực tế, quá trình trải nghiệm để bản thân trở nên vững vàng, biết cách xử lý mọi tình
huống, cũng như chính các em phải tìm ra ước mơ của mình, và cách thức thực hiện đạt
được ước mơ đó. Cha mẹ là những người có thể dạy kỹ năng xã hôi cho con nhiều nhất và
hiệu quả nhất thông qua bài học về cuộc sống hàng ngày. Mọi sự giáo dục đều lấy nền tảng
giáo dục gia đình làm cốt lõi.
Cha mẹ mong muốn con nên người, cha mẹ mong muốn con thành người tài giỏi,
con vâng lời, con tiến bộ trong học tập… Hãy giáo dục cho con những kỹ năng cần thiết
trong cuộc sống hiện đại: Đó là bài học về lòng tin, sự linh hoạt trong giao tiếp, kỹ năng
ứng phó và giải quyết khó khăn, các kỹ năng mềm, phương pháp tư duy học tập hiệu
quả….Giáo dục kỹ năng cần có những bài học thực tế, nhằm giúp trẻ trải nghiệm và đặt
mình vào chính hoàn cảnh đó, và đưa ra phương pháp giải quyết vấn đề một cách linh
mẹ nên tạo cơ hội khuyến khích trẻ tham gia dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa, phụ ông bà lau
lá bánh chưng, bánh tét, cùng bố trang trí cây mai, cây quất, hay đi chợ cùng mẹ….
- Biện pháp 4: Hình thành kỹ năng xã hội cho trẻ mọi lúc, mọi nơi
Trong cuộc sống hàng ngày có rất nhiều cơ hội để trẻ tương tác xã hội. Các rắc rối
thường xuất hiện khi trẻ phải giải quyêt vấn đề. Trẻ có thẻ tự độc lập giải quyết vấn đề
hoặc cần được giúp đỡ khi cần.
Giáo viên cần tận dụng những lần đụng độ này như là những cơ hội để giúp trẻ hiểu
được những cảm xúc của chúng và cảm xúc của người khác.
Việc hình thành kỹ năng xã hội cho trẻ không phải một sớm một chiều mà nó nó là
một quá trình dài và đòi hỏi rất nhiều thời gian để rèn luyện. Đó là một sự lặp đi lặp lại
một thao tác, một hành vi nào đó, dần dần nó se trở thành kỹ năng đối với trẻ. Những kỹ
năng đầu tiên và quan trọng nhất của đứa trẻ luôn được tiếp nhận và rèn luyện trong một
môi trường tự nhiên, đó chính là môi trường tự nhiên trong xã hội.
Ở trường mầm non dưới sự hướng dẫn của giáo viên se góp phần không nhỏ trong
việc hình thành kỹ năng cho trẻ. Giáo viên tận dụng các thời điểm trong ngày, bất cứ khi
nào có cơ hội và cảm thấy trẻ hứng thú.
Ví dụ: Khi có một vài trẻ đang chờ đến lượt để chơi đu quay và một trẻ khác ở đâu
chạy đến xếp ngay ở đầu hàng, lúc này giáo viên có thể nêu các hành động đúng thông
qua lời nhận xét: Khi chơi thì chúng ta phải chờ đến lượt vì nếu mọi người không chờ đến
lượt của mình thì những bạn đang chờ se không chơi được và các bạn se cảm thấy buồn.
Không có đứa trẻ nào sinh ra đã là đứa trẻ hư, không có học sinh nào bản chất là học
sinh cá biệt, mọi đứa trẻ nếu được nhận phương pháp giáo dục phù hợp đều se nên người.
Điều quan trọng hình thành kỹ năng cho trẻ là phụ thuộc vào cách dạy dỗ con cái của các
bậc phụ huynh và phương pháp trang bị kiến thức về cuộc sống của cha mẹ, các cô giáo
dành cho trẻ.
c) Mối quan hệ giữa các biện pháp
Tất cả các biện pháp khi dạy kỹ năng sống cho trẻ đều quan trọng và luôn hỗ trợ cho nhau.
d) Kết quả khảo nghiệm
Đầu năm
Mức độ
Cuối năm
Tăng
SL
SL
SL
%
5
21,7 11
47,8 6
7
30,4 9
39,1 2
9
hiểu biết cho bản thân. Trẻ được học một cách nhẹ nhàng và làm thỏa mãn nhu cầu được
chơi, được học, được làm mọi việc của trẻ. Hình thành kỹ năng sống cho trẻ góp phần gúp
cho giáo viên bớt đi những công việc đơn giản hàng ngày để trẻ được lao động tự phục vụ
cho bản thân.
PHẦN III
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Chuẩn bị cho trẻ kỹ năng sống là việc làm cần thiết cấp bách, phải được tiến hành
một cách nghiêm túc. Chính vì vậy cần nắm vững nội dung và tầm quan trọng của việc
chuẩn bị kỹ năng sống cho trẻ. Chuẩn bị cho trẻ vốn tri thức, biểu tượng và kỹ năng thực
hiện hoạt động trí óc nhất định. Hình thành cho trẻ kỹ năng điều khiển hành vi của mình,
biết điều khiển hành động cử chỉ việc làm phù hợp với yêu cầu chung của xã hội, của gia
đình, của nhà trường, tập thể lớp. Hình thành những động cơ kích thích trẻ học tập, làm
cho trẻ thích đi học, muốn được học và xem đó là một công việc thích thú, hấp dẫn, quan
trọng cần phải làm.
Cần hướng dẫn trẻ các kỹ năng vận động khéo léo đôi bàn tay, giúp trẻ diễn đạt ngôn ngữ
rõ ràng, mạch lạc.
2. Kiến nghị
Để thực hiện tốt đề tài này chúng tôi những người làm công tác giáo dục trực tiếp
đứng lớp giảng dạy trên địa bàn có cả dân tộc thiểu số, một số phụ huynh chưa thực sự
quan tâm đến việc học của con em mình, còn một số phụ huynh lại quá coi trong việc học
của con em mình mà lại quên đi rằng chuẩn bị kỹ năng sống cho trẻ cũng là một trong
những việc làm hết sức quan trọng và cần phải được tiến hành thường xuyên và liên tục.
Để chuẩn bị kỹ năng sống cho trẻ ngày càng tốt hơn, hứng thú hơn rất mong các cấp lành
đạo quan tâm hơn nữa trong việc mở các buổi tập huấn về rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ,
bổ sung thêm trang thiết bị, đồ dùng cho các môn học để phục vụ cho các tiết dạy được tốt
hơn. Bản thân tôi se luôn cố gắng và cố gắng hơn nữa trong việc làm thêm đồ dùng, đồ
chơi và tạo mọi điều kiện để trẻ tiếp thu bài được tốt hơn. Cố gắng tuyên truyền để các bậc
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
PHỤ LỤC
PHẦN I
MỞ ĐẤU
1. Lý do chọn đế tài
2. Mục tiêu, nhiệm vụ
a) Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
b) Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Giới hạn nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN II
NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
2. Thực trạng
3. Các biện pháp
a) Mục tiêu của biện pháp
b) Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
- Biện pháp 1: Tạo niềm vui ở trẻ khi có bạn
- Biện pháp 2: Sử dụng tình huống có vấn đề nhằm hình thành cho bé một số kỹ
năng cần thiết.
- Biện pháp 3: Hướng dẫn cha mẹ về nội dung và cách rèn luyện kỹ năng sống cho
trẻ.
- Biện pháp 4 Hình thành kỹ năng sống cho trẻ mọi lúc, mọi nơi
c) Mối quan hệ giữa các biện pháp
d) Kết quả khảo nghiệm
PHẦN III
Trang
4
Tạp chí giáo dục mâm non
Bộ giáo dục và đào tạo