BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
-----------------------
BÙI THỊ THÙY DUNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG TRỢ GIÚP
NGƯỜI BỆNH TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM
BẢO TRỢ XÃ HỘI THANH HÓA
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
---------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG TRỢ GIÚP
NGƯỜI BỆNH TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM
BẢO TRỢ XÃ HỘI THANH HÓA
Họ và tên sinh viên: Bùi Thị Thùy Dung
Lớp: D9CT4
Hệ: Đại học chính quy
Cán bộ hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Hương
HÀ NỘI, NĂM 2017
nghiệm và kiến thức của cá nhân còn nhiều hạn chế nên bài viết không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp
của quý thầy cô để bài khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Quảng Xương, tháng 6 năm 2017
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTXH
CBNV
CBVC - NLĐ
CTXH
LĐTB&XH
NVCTXH
PHCN
Bảo trợ xã hội
Cán bộ nhân viên
Cán bộ viên chức – người lao động
Công tác xã hội
Lao động Thương binh và Xã hội
Nhân viên công tác xã hội
Phục hồi chức năng
A. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Những năm vừa qua công tác chăm sóc và phục hồi chức năng cho người
Tuy nhiên, được chăm sóc, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng hay tại các
cơ sở y tế thì họ vẫn cần đến sự trợ giúp của công tác xã hội. Y bác sỹ chỉ giúp
người bệnh tâm thần điều trị bằng thuốc còn việc tăng cường tác động của các
yếu tố tích cực, giảm yếu tố tiêu cực từ môi trường xã hội đến người bệnh và
giúp họ tái hòa nhập cộng đồng là những công việc mà một nhân viên công tác
xã hội được đào tạo đúng chuyên môn có thể làm tốt. Mặc dù vậy số lượng
nhân viên công tác xã hội được đào tạo bài bản, đúng chuyên môn lại rất ít, sự
nhận thức của xã hội về nghề công tác xã hội còn hạn chế.
Là một trong những tỉnh đang triển khai và thực hiện rất tốt Đề án 1215,
“Thanh Hóa có khoảng 500.000 người bị bệnh tâm thần và người rối nhiễu
tâm trí chiếm khoảng 15% tổng dân số của tỉnh, trong đó có gần 50.000 người
mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã
được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên
giảm, có trên 18.000 người tâm thần nặng, lang thang có hành vi gây nguy
hiểm đến gia đình và cộng đồng”(17). Hiện nay Trung tâm Bảo trợ xã hội Thanh
Hóa là cơ sở chuyên biệt của tỉnh đang quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, điều
trị, phục hồi chức năng cho các đối tượng là người bệnh tâm thần, nhận thức
được tầm quan trọng của công tác xã hội trong việc hỗ trợ người bệnh tâm
thần, năm 2015 Ban lãnh đạo Trung tâm Bảo trợ xã hội Thanh Hóa đã xây
dựng đề án và được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Quyết định phê duyệt
“Mô hình phòng công tác xã hội trong Trung tâm”, được Giám đốc Sở Lao
động – Thương binh và Xã hội tỉnh Thanh Hóa quyết định thành lập phòng
Công tác xã hội và đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2016. Như vậy bên cạnh
việc điều trị bằng thuốc cho người bệnh tâm thần thì các hoạt động của nghề
công tác xã hội chuyên nghiệp đang dần được áp dụng tại đơn vị trong công
tác điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần.
Nhìn vào những kinh nghiệm từ các nước phát triển về nghề công tác xã
hội trên thế giới và một số thành tựu của lĩnh vực công tác xã hội tại Việt Nam
đồng. Ở giai đoạn này có nghiên cứu của tác giả Robert Faris và Warren
Dunham nghiên cứu tại chỗ ở của người bệnh tâm thần giữa những năm 1922
và 1934 tại Chicago, kết quả chỉ ra tỷ lệ tâm thần phân liệt ở nông thôn thấp
hơn ở thành thị.(9,2)
Giai đoạn thứ hai từ 1950 đến 1980: Sau thế chiến thứ 2 có nhiều quân
nhân bị bệnh tâm thần, tỷ lệ người bệnh tâm thần trong quân đội ngày một gia
tăng đã nhận được sự quan tâm và nghiên cứu, nhiều cuộc điều tra trong quân
đội được tiến hành. Từ đây, khái niệm điều tra trong cộng đồng bắt đầu được
sử dụng. Các nhà nghiên cứu cũng bắt tay vào điều tra về bệnh tâm thần trong
cộng đồng dân cư và sử dụng hình thức bảng hỏi để thu thập thông tin. Một số
nghiên cứu có thể kể đến ở giai đoạn này đó là điều tra ở Midtown Manhattan
do chuyên viên xã hội tiến hành đánh giá người bệnh dựa vào hậu quả của
bệnh tâm thần, kết quả điều tra cho thấy 23% mẫu bị bệnh tâm thần nặng.
Điều tra tại Stirling County ở New York trên 1.010 hộ dân dựa trên bộ câu hỏi
và dựa trên Cẩm Nang Hướng Dẫn Thống Kê Chuẩn Đoán về các Chứng
Bệnh Tâm thần lần 1 của Hiệp hội tâm thần Mỹ, kết quả chỉ ra tỷ lệ bệnh tâm
thần chiếm 20% dân số. Những nghiên cứu trong giai đoạn này đã cung cấp
được số liệu về tỷ lệ bệnh tâm thần trong cộng đồng, nhờ việc sử dụng bảng
hỏi mà những kết quả đưa ra có tính thống nhất và khách quan. Tuy nhiên
chưa có sự thống nhất trong phương pháp chẩn đoán và thu thập số liệu giữa
các cuộc điều tra. Bên cạnh đó, các công cụ nghiên cứu trong giai đoạn này
không dựa vào các tiêu chuẩn chẩn đoán, chủ yếu sử dụng các bảng hỏi tự
thuật về các dấu hiệu căng thẳng, đau buồn(9,3).
Giai đoạn thứ ba từ 1980 đến 1990: Trong giai đoạn này các bảng hỏi vẫn
được sử dụng để điều tra. Cùng với đó là sự ra đời của ICD 10 (International
Classification of Diseases 10th Edition – Bảng phân loại Quốc tế về bệnh tật
lần thứ 10) và DSM IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental
Disorders 4th edition – Cẩm nang chuẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm
giúp các nghiên cứu về dịch tễ học tâm thần ngày càng chính xác và hợp lý
hơn.
2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Là một quốc gia đang phát triển, trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt và
gian khổ, đất nước bị tán phá nặng nề chính vì vậy muốn bắt kịp với sự phát
triển của thế giới thì con người Việt Nam cũng phải không ngừng cố gắng,
không ngừng thay đổi. Những áp lực của cuộc sống hiện đại khiến cho số
người bị mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần ngày một gia tăng, trở thành
vấn đề nhức nhối trong đời sống xã hội.
Mặc dù ở Việt Nam chưa có cuộc tổng điều tra trên phạm vi toàn quốc về
vấn đề sức khỏe tâm thần nhưng cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
tình trạng bệnh tâm thần ở một số tỉnh thành.
Một trong những nghiên cứu cần nhắc đến đầu tiên đó là của tác giả
Nguyễn Văn Siêm thực hiện, nghiên cứu trên một phường tại Thành phố Đà
Nẵng, khảo sát toàn bộ các hộ trong phường với tổng số hộ dân là 23758.
Khảo sát dựa trên tiêu chuẩn ICD 10 (International Classification of Diseases
10th Edition – Bảng phân loại Quốc tế về bệnh tật lần thứ 10), tác giả đã sử
dụng 2 phiếu khảo sát: khảo sát sàng lọc “Phiếu sức khỏe gia đình” sau đó nếu
phát hiện có dấu hiệu nghi bệnh, người bệnh tiến hành “Bảng phỏng vấn bệnh
tâm thần phân liệt”. Kết quả điều tra cho thấy: tỷ lệ mắc chung là 0.52 –
0.61% dân số. Tỷ lệ mắc điểm là 0.49 – 0.53%. Tỷ lệ mắc mới trong một năm
là 0.29 – 0.56%. Xác suất mắc bệnh là 1.26 – 1.44%. Tỷ lệ bệnh nhân nam
nhiều hơn bệnh nhân nữ. Tỷ lệ người bệnh khởi phát cao nhất là thuộc độ tuổi
từ 15 – 25. Tuổi khởi phát trung bình ở nam là 20 – 25, nữ là 25 – 30. Tỷ lệ
độc thân ở người bệnh nam là 40.58%, ở người bệnh nữ là 38.71%. Tỷ lệ ly
hôn, ly thân là 5.33%. Nghiên cứu này được tiến hành từ những năm 1977 và
sau đó tiếp tục vào những năm 1999. Đề tài thực hiện cả bốn công đoạn của
nghiên cứu dịch tễ học theo quan điểm của các nhà y học đó là: mô tả, phân
và Dự án Atlantic Philanthropies, Giáo trình gồm 5 chương trong đó chương I
giới thiệu chung về sức khỏe tâm thần và đề cập đến vai trò, chức năng của
Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng; chương II
giới thiệu khái quát về công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần;
chương III trình bày về các nội dung can thiệp CTXH trong chăm sóc sức
khỏe tâm thần tại cộng đồng; chương IV cung cấp một số kiến thức và cách
can thiệp của nhân viên CTXH trong làm việc với nhóm đặc thù; chương V
trình bày những vấn đề và nguy cơ mà người chăm sóc người bệnh tâm thần
có thể gặp phải và cách phòng tránh(12,5-6). Theo hướng nghiên cứu này, tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hương và Trần Đình Tuấn đã biên soạn giáo trình “Quản
lý ca về chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần”, Giáo trình đã
đề cập đến quy trình quản lý trường hợp trong chăm sóc và phục hồi chức
năng cho người tâm thần, các kỹ năng cơ bản trong thực hành quản lý trường
hợp với người tâm thần(13). Đây là cơ sở rất quan trọng để nhân viên CTXH
làm việc với người bệnh tâm thần có thể tìm hiểu và vận dụng vào công việc
cụ thể của mình.
Đó đều là những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực công tác xã hội trong trợ
giúp người bệnh tâm thần, còn những đề tài nghiên cứu các phương pháp của
công tác xã hội với đối tượng này còn khá ít, chủ yếu là những đề tài luận văn
thạc sỹ như của tác giả Lại Tiến Thắng năm 2016 nghiên cứu về nhân viên
công tác xã hội tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình,
luận văn thạc sỹ năm 2016 của tác giả Vũ Trường Lâm nghiên cứu về phương
pháp công tác xã hội nhóm đối với người bệnh tâm thần phân liệt tại Trung
tâm Bảo trợ xã hội Thanh Hóa. Qua đây ta có thể thấy các nghiên cứu về công
tác xã hội với người bệnh tâm thần ở Việt Nam còn chưa phổ biến đặc biệt là
nghiên cứu về phương pháp công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp người bệnh
tâm thần.
3. Mục tiêu nghiên cứu
nghiên cứu về thực trạng các hoạt động CTXH cá nhân và những yếu tố ảnh
hưởng đến CTXH cá nhân trong trợ giúp người bệnh tâm thần.
Không gian nghiên cứu: Trung tâm Bảo trợ xã hội Thanh Hóa
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2015 đến tháng 6/2017.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu
Đây là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập,
nghiên cứu, tìm kiếm, khảo sát, tham khảo các thông tin, số liệu từ các nguồn
như sách, báo, khóa luận, tạp chí, trên mạng internet... từ đó rút ra những
thông tin cần thiết và xử lý theo yêu cầu của khóa luận nhưng vẫn đảm bảo
tính khách quan.
8.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Dựa trên hình thức hỏi đáp gián tiếp bằng bảng các câu hỏi được soạn thảo
trước, điều tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời
các câu hỏi, người được hỏi đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời
của mình vào phiếu hỏi rồi gửi lại cho điều tra viên.
8.3. Phương pháp quan sát
Thông qua các tri giác như nghe nhìn, tác giả thu thập các thông tin từ
thực tế tại Trung tâm và tại cộng đồng nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của
đề tài. Phương pháp này sẽ giúp một lần nữa khẳng định thực tiễn công tác xã
hội cá nhân trong trợ giúp người bệnh tâm thần tại Trung tâm Bảo trợ xã hội
tỉnh Thanh Hóa.
8.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
Là phương pháp thu thập thông tin hỏi đáp. Phương pháp này được sử
dụng để tìm hiểu sâu sắc về các phản ứng, suy nghĩ, thái độ tình cảm, động cơ,
quan điểm chính kiến của nhân viên trực tiếp phục vụ người bệnh tâm thần
cũng như ý kiến của lãnh đạo Trung tâm về thực tiễn công tác xã hội cá nhân
tại đơn vị mình. Đồng thời phỏng vấn suy nghĩ, ý kiến của người bệnh và gia
thuật can thiệp đối với những vấn đề xã hội để tạo nên sự chuyển biến của xã
hội.
Dưới góc độ tiếp cận từ khía cạnh tác động của CTXH đối với con người
và môi trường xã hội, năm 2011 Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào
tạo CTXH quốc tế đã thống nhất và đưa ra định nghĩa về CTXH như sau:
“CTXH là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan
hệ của con người và thức đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và
giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người. CTXH
sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào
can thiệp sự tương tác của con người với môi trường” (11,9). Một số quan điểm
khác tiếp cận với CTXH theo hướng nhấn mạnh đến sự tăng cường chức năng
xã hội cho cá nhân, gia đình, đặc biệt là cho nhóm đối tượng có hoàn cảnh khó
khăn cần được trợ giúp, ví dụ như Hiệp hội các nhân viên công tác xã hội
chuyên nghiệp của Mỹ cho rằng: “CTXH là một hoạt động chuyên nghiệp
nhắm giúp đỡ các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng phục hồi hay tăng
cường năng lực và chức năng xã hội để tạo ra những điều kiện xã hội cần
thiết, giúp họ đạt được mục tiêu” (2,13). Các nhà nghiên cứu về CTXH
Philippines cho rằng: “CTXH là một nghề bao gồm các hoạt động cung cấp
các dịch vụ nhằm thúc đẩy hay điều phối các mối quan hệ xã hội và sự điều
chỉnh hòa hợp giữa cá nhân và môi trường xã hội để có xã hội tốt đẹp
hơn”(2,12).
Ở trên là những định nghĩa của thế giới về CTXH, còn ở Việt Nam, các
nhà khoa học cho rằng: “Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn mang tính chất
tổng hợp cao, được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ
trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề. Công tác xã hội theo đuổi
mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội”(2,16).
Trong Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020 đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 32/2010/QĐ-TTg thì CTXH đã
Trong bài viết của mình tác giả sử dụng khái niệm về CTXH như sau:
“Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp
các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và
tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính
sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết
và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội”.
1.1.2. Khái niệm công tác xã hội cá nhân
Trước khi định nghĩa công tác xã hội cá nhân là gì chúng ta cần hiểu thế
nào là cá nhân.
Cá nhân là thuật ngữ mô tả sự độc lập tự do, không lặp lại của mỗi con
người, là sự thống nhất hai mặt sinh học và xã hội. Về mặt sinh học, cá nhân là
một cơ thể sống đơn nhất có cấu trúc thân thể và đặc điểm sinh lý riêng, do đó
mới có sự khá nhau về năng lực, trình độ, phẩm chất, lối sống của mỗi cá
nhân. Về mặt xã hội, bản chất mỗi cá nhân là tổng hòa các mối quan hệ xã hội,
do đó mới có khả năng tu duy, lao động, ngôn ngữ, giao tiếp... Mỗi cá nhân có
đặc điểm tâm sinh lý xã hội khác với biệt với các cá nhân khác. Do đó cần tôn
trọng tính độc lập của mỗi cá nhân, không được coi mọi cá nhân đều như
nhau. Khi đánh giá, hoặc giao công việc cho mỗi người cần dựa vào những
đặc điểm cụ thể trên cả hai mặt cá nhân và xã hội. Mỗi cá nhân với sự nỗ lực
phấn đấu cao và được rèn luyện trong tập thể và môi trường xã hội có thể
vươn tới những giới hạn trên cả bản thân mình.
Tôn trọng phẩm giá và năng lực cá nhân, tính khác biệt của mỗi cá nhân,
tính tự quyết của cá nhân là những nguyên tắc đạo đức cần được chú trọng
trong công tác xã hội cá nhân. Vậy công tác xã hội cá nhân là gì?
Công tác xã hội cá nhân cũng được các chuyên gia, các nhà khoa học tiếp
cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Ở mỗi cách tiếp cận có điểm mạnh và ứng
dụng riêng, nổi bật là hai hướng tiếp cận thứ nhất là khẳng định công tác xã
hội cá nhân là một phương pháp của công tác xã hội chuyên nghiệp, hướng
thứ hai nhấn mạnh vào cách thức tiếp cận và giúp đỡ chuyên môn sâu về nhân
sử dụng khái niệm về bệnh tâm thần được đề cập trong giáo trình Chăm sóc
sức khỏe tâm thần của khoa Công tác xã hội trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh tâm thần được
định nghĩa như sau: “Là những bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn do
nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra: nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sang chấn
tâm thần, bệnh cơ thể... làm rối loạn chức năng phản ánh thực tại. Các quá
trình cảm giác, tri giác, tư duy, ý thức… bị sai lệch cho nên bệnh nhân tâm
thần có những ý nghĩ, cảm xúc, hành vi, tác phong không phù hợp với thực
tại, với môi trường xung quanh”(8).
Phạm vi các bệnh tâm thần rất rộng. Bệnh tâm thần là loại bệnh rất phổ
biến, công nghiệp ngày càng phát triển, sự tập trung dân cư vào các thành phố
ngày càng đông, cuộc sống ngày càng căng thẳng thì bệnh ngày càng tăng. Có
những bệnh tâm thần nặng (các bệnh loạn thần), quá trình phản ánh thực tại sai
lệch trầm trọng, hành vi, tác phong bị sai lệch nhiều. Có những bệnh nhân tâm
thần nhẹ (các bệnh tâm căn, nhân cách bệnh), quá trình phản ánh thực tại cũng
như hành vi tác phong rối loạn ít, bệnh nhân vẫn còn có thể sinh hoạt, lao động,
học tập được, tuy có giảm sút.
Bệnh tâm thần thường không gây chết đột ngột nhưng làm đảo lộn sinh
hoạt, gây căng thẳng cho các thành viên trong gia đình và tổn thất cả về kinh tế.
Bệnh tâm thần nếu không được chữa trị kịp thời có thể dẫn đến trạng thái tâm
thần sa sút, người bệnh trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Phát hiện
sớm và ngăn chặn kịp thời là để ngăn chặn sự tiến triển xấu này.
Lâu nay khi nghe đến ba từ người tâm thần, người ta thường liên tưởng đến
hình ảnh nhưng người ăn mặc quái dị, có những hành vi không giống ai, đứng
la hét ngoài đường... hoặc thông qua phim ảnh, sách báo họ lại hình dung ra
những người có tình khí hung dữ bất thường, hành vi ghê gớm không thể đoán
trước... tuy nhiên không phải người tâm thần nào cũng như vậy.
Ở bài viết của mình, tác giả sử dụng khái niệm về người bệnh tâm thần
vào những rối nhiễu tâm thế và ảnh hưởng lớn tới đến sức khỏe đôi khi là tính
mạng của chính họ.
Môi trường gia đình cũng có một ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển
tâm lý, sức khỏe tâm thần của trẻ. Trong thời kỳ thơ bé, vì hoàn cảnh gia đình
khác nhau, trẻ em sẽ trải qua những sự kiện khác nhau. Có trẻ có những trải
nghiệm đau buồn như gia đình có bạo lực, cha mẹ chết, hoặc trẻ bị bỏ rơi, bị
bạo hành, thiếu sự quan tâm chăm sóc của người bảo hộ, hình thức giáo dục
không đúng của bố mẹ. Những sự kiện này sẽ tác động tiêu cực đến sức khỏe
thể chất và tinh thần của trẻ tại thời điểm đó. Nguy hiểm hơn nó còn ảnh hưởng
đến sức khỏe tâm thần của trẻ những giai đoạn phát triển sau này.
Các nguyên nhân môi trường và xã hội: Các yếu tố môi trường và xã hội
của mỗi cá nhân được xem như là sự bao bọc đồng thời cũng là những nguyên
nhân gây ra các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Một xã hội an toàn lành mạnh sẽ
tạo một môi trường phát triển thuận lợi cho thể chất và tinh thần của người dân.
Tuy nhiên, cuộc sống hiện nay đang có nhiều nguy cơ rình rập từ tự nhiên và xã
hội như thiên tai, hạn hán, lũ lụt, tai nạn giao thông, bạo lực học đường tác
động tiêu cực đến đời sống kinh tế và tình cảm của mỗi cá nhân, các vấn đề về
sức khỏe tâm thần cũng từ đó mà nảy sinh. Các yếu tố xã hội như tội phạm,
xung đột gia đình, thất nghiệp, mất người thân... có thể gây ra mất cân bằng
hóa chất trong não bộ, dẫn đến các rối loạn tâm thần và sẽ tiến triển thành bệnh
khi các căng thẳng này liên tục xảy ra, mức độ ngày một gia tăng và không
được can thiệp hỗ trợ kịp thời.
Đáp ứng với yêu cầu phát triển của kinh tế toàn cầu, nhiều quốc gia, nhiều
môi trường xã hội đang phải đối mặt với những biến đổi, với khoảng cách giàu
nghèo ngày một gia tăng. Cơ cấu xã hội của cộng đồng thay đổi do sự phát
triển và mở rộng của các thành phố, sự đô thị hóa hay di dân ồ ạt, chênh lệch
thu nhập, thất nghiệp và bào lực ngày một tăng cao. Tất cả những yếu tố ấy trở
thành nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tiêu cực đến vấn đề sức
Nhu cầu được tôn trọng, sự tôn trọng tạo cho con người lòng tự tin và tính
độc. Khi sự tôn trọng không được đáp ứng người ta tin rằng họ không được
người khác chấp nhận nên sinh cảm giác tự ti mặc cảm đôi khi người bệnh sẽ
không hợp tác làm việc cùng nhân viên chăm sóc. Trên thực tế, có rất nhiều
người bệnh tâm thần bị chính những người thân trong gia đình, những người
xung quanh khinh thường. Sự khinh thưởng, thiếu tôn trọng nó không chỉ được
thể hiện qua ngôn ngữ mà còn qua hành vi và thái độ. Để đáp ứng nhu cầu này
của người bệnh, nhân viên CTXH cần có thái độ thân mật, cởi mở và lắng nghe
ý kiến của người bệnh.
Nhu cầu tự hoàn thiện là mức cao nhất trong hệ thống phân loại nhu cầu.
Bất kỳ ai cũng muốn hoàn thiện bản thân mình. Đối với những người bệnh tâm
thần họ cũng muốn bản thân mình tốt hơn, trở thành một người có ích hơn,
được khẳng định giá trị của bản thân thông qua việc được tham gia những hoạt
động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao hay các hoạt động lao động khác.
Do tính chất của bệnh tật nên người bệnh tâm thần thường gặp rất nhiều
khó khăn trong việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người. Tự bản thân họ
đáp ứng nhu cầu đã khó lại thêm tác động và rào cản của xã hội khiến cho các
nhu cầu bị thiếu hụt hoặc không được đáp ứng. Những điều này làm ảnh hưởng
rất nhiều đến quá trình điều trị bệnh và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm
thần. Những lúc như thế này người bệnh rất cần đến sự trợ giúp của CTXH.
1.1.4. Khái niệm Trung tâm Bảo trợ xã hội
Bảo trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội, cộng đồng bằng những
biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi
ro, bất hạnh, nghèo đói... vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ
khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình,
nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ
vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.
Trung tâm Bảo trợ xã hội (dưới đây gọi tắt là Trung tâm) là đơn vị sự
nghiệp trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội. Trung tâm chịu sự
quản lý, chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của Giám đốc Sở Lao động – Thương
1.1.6. Những biểu hiện của công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp người
bệnh tâm thần
1.1.6.1. Hỗ trợ chăm sóc y tế
Là những hoạt động chuyên môn nhằm giúp đỡ, theo dõi, điều trị và phòng
ngừa bệnh, thương tích và suy yếu về thể chất, tinh thần ở người. Cụ thể trong
trợ giúp người bệnh tâm thần:
Nhân viên công tác xã hội giúp đỡ người bệnh và gia đình người bệnh tâm
thần tuân thủ quy trình điều trị, phương pháp chăm sóc người tâm thần, theo
dõi việc sử dụng thuốc của người bệnh đúng thời gian, đúng liều dùng.
Xây dựng cách thức đối phó với nguy cơ lạm dụng thuốc cũng như chất gây
nghiện cho người bệnh tâm thần.
Đánh giá các yếu tố nguy cơ, các yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần để
xây dựng kế hoạch can thiệp, trợ giúp.
1.1.6.2. Tham vấn, tư vấn
Tham vấn là một quá trình trợ giúp tâm lý, thông qua quá trình này nhằm
giúp người bệnh nhận thức được hoàn cảnh vấn đề để thay đổi cảm xúc, suy
nghĩ và hành vi và tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của mình.
Trong trợ giúp người bệnh tâm thần, thông qua những buổi trò chuyện cùng
người bệnh đang rơi vào tình trạng khủng hoảng tâm lý giải tỏa bớt cảm xúc
tiêu cực, thay đổi nhận thức về tình trạng bệnh của bản thân và tìm kiếm những
sự giúp đỡ chuyên môn. Chỉ khi nào người bệnh có một trạng thái tâm lý thoải
mái và ổn định thì họ mới có thể yên tâm điều trị bệnh.
Tư vấn là sự phát biểu ý kiến về vấn đề được hỏi nhưng không có quyền
quyết định. NVCTXH cần thực hiện tốt vai trò tư vấn của mình trong trường
hợp, người bệnh và gia đình thiếu hiểu biết về sức khỏe tâm thần hoặc những
dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần hay thiếu kiến thức về những chế độ chính
sách cho người bệnh tâm thần và gia đình người bệnh tâm thần, họ mong muốn
cho các hoạt động dành cho người bệnh của đơn vị mình công tác. Việc kết
nối nguồn lực có thể thông qua các hoạt động như kỷ niệm ngày lễ, tết, ngày
tâm thần Thế giới,....
1.1.6.5. Quản lý ca
Đây là hoạt động nhằm giúp cá nhân người bệnh tâm thần nhận được các
dịch vụ hỗ trợ thông qua việc kết nối và điều phối các nguồn lực. Đây là hoạt
động quản lý diễn ra trong suốt quá trình điều trị bệnh và phục hồi chức năng
cho người bệnh tâm thần.
Hoạt động này sẽ được tiến hành thông qua các hoạt động nhỏ như: Thu
thập thông tin và đánh giá tình hình đối tượng, xác định nhu cầu của người
bệnh; xây dựng kế hoạch ca đáp ứng nhu cầu người bệnh; xác định các
chương trình và nguồn cung cấp dịch vụ, thu xếp và điều phối việc cung cấp
dịch vụ cho người bệnh; điều hành hiệu quả kế hoạch ca và điều chỉnh kế
hoạch phù hợp với nhu cầu và tình hình thực tế; là người liên lạc trung gian
giữa đối tượng và các nguồn lực; biện hộ cho đối tượng tiếp cận được dịch vụ
phù hợp.
1.1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp
người bệnh tâm thần