1
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
LÊ HUYỀN TRANG
KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ DỰ PHÒNG HEN PHẾ QUẢN
CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TRẺ MẮC HEN
TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
HÀ NỘI - 2016
2
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
LÊ HUYỀN TRANG
KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ DỰ PHÒNG HEN PHẾ QUẢN
CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TRẺ MẮC HEN
tử vong do hen, theo Nguyễn Năng An ước tính khoảng 4 triệu người mắc
hen và khoảng 3000 người tử vong mỗi năm.
Từ năm 1992 “Chiến lược toàn cầu về phòng chống hen” (GINA) đã
được hình thành và được cập nhập liên tục hàng năm để tăng cường kiểm
soát, điều trị và dự phòng hen. Những phương pháp dự phòng hen có hiệu
quả, an toàn và thuận tiện đã làm giảm tỷ lệ hen nặng cũng như giảm chi phí
cho điều trị cơn hen cấp, đưa người bệnh trở lại cuộc sống bình thường hoặc
gần như bình thường.
Mặc dù hen là bệnh viêm mãn tính đường thở nhưng đa số người bệnh
có thể chung sống thoải mái với bệnh hen. Vài năm gần đây thông tin về bệnh
hen được cập nhật liên tục và phổ biến rộng rãi trên báo, đài, vô tuyến truyền
hình và các trang mạng xã hội. Công nghệ thông tin phát triển giúp trao đổi
thông tin giữa thầy thuốc và bệnh nhân được nhanh chóng [3]. Đối tượng
được tư vấn về hen phế quản không chỉ là những bệnh nhân hen, người có
nguy cơ mắc hen, gia đình, người chăm sóc người bệnh hen mà gồm cả những
người quan tâm đến hen và những thành viên trong cộng đồng mà người bệnh
4
hen sinh sống. Tư vấn giáo dục hen phế quản được đánh giá là loại hình can
thiệp có chi phí thấp nhưng lại có hiệu quả cao trong phòng chống hen [4].
Cần nhớ rằng thầy thuốc chỉ được cho người bệnh dùng thuốc chữa hen khi
người bệnh đã được tư vấn kĩ về bệnh hen. Tại Việt Nam, mới đây trong
nghiên cứu trên người bệnh về các thông tin liên quan đến điều trị và kiểm
soát hen thì chỉ có 29.1% người có điều trị dự phòng hen và 57.9% trường
hợp chưa dùng thuốc dự phòng hen nào [5]. Đây thực sự là con số đáng báo
động với công tác dự phòng HPQ nói riêng và công tác dự phòng y tế nói
chung.Và thực tế hiện nay vẫn còn một số lượng bệnh nhân nhi vẫn phải
nhập viện, nguyên nhân là do sự hiểu biết để phòng bệnh của người chăm sóc
Reisseissen.
Năm 1819, Laennec xác định cơn khó thở là do co thắt cơ Reisseissen.
Năm 1860, Samter chứng minh bệnh hen do tiếp xúc với lông mèo.
Năm 1873, Blackley chứng minh phấn hoa và một số loại cỏ có thể là
nguyên nhân gây hen.
Năm 1902, việc C.Richer gây được shock phản vệ trên thực nghiệm
(giải thưởng Nobel 1913) đã đặt cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn về hen
phế quản và các bệnh dị ứng.
Năm 1910, Dale phát hiện ra Histamine.Năm 1936, Chakravarty tìm ra
Serotonin.Năm 1940, Ado lưu ý đến vai trò của Acetylcholin.
6
Sau đó, nhiều tác giả nghiên cứu và tìm ra vai trò của rất nhiều loại chất
trung gian hoá học (lymphokin, leucotrien, cytokin), các loại tế bào (tuyến ức,
lympho B, lympho T) và cả kháng thể (IgE) trong cơ chế bệnh sinh của hen.
Từ năm 1985 đến nay nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, viêm đóng
vai trò quan trọng trong hen dẫn đến tình trạng co thắt phế quản, tăng tính
phản ứng phế quản và từ đó có nhiều bước cải tiến trong việc điều trị và
phòng bệnh hen.
Chương trình khởi động toàn cầu phòng chống hen (Global Initiative for
Asthma) gọi tắt là GINA ra đời nhằm mục đích để ra chiến lược quản lý
khống chế và kiểm soát bệnh hen [7].
1.1.2. Định nghĩa bệnh HPQ
Có rất nhiều định nghĩa về HPQ từ trước đến nay. Tuy nhiên, hiện nay
mọi người đều thống nhất sử dụng định nghĩa đầy đủ và cập nhật theo GINA
2015:
“Hen phế quản (HPQ) là một bệnh lý với nhiều hình thái khác biệt,
thường đặc trưng bởi tình trạng viêm đường hô hấp mãn tính. Hen được xác
tỷ lệ mắc hen ở học sinh dưới 13 tuổi: 3,3%. Năm 2001 ước tính có 4 triệu
người mắc HPQ [9].
Những nghiên cứu của trung tâm Miễn dịch dị ứng – miễn dịch lâm sàng
bệnh viên Bạch Mai dự báo tỷ lệ mắc HPQ ở nước ta là 6-7%. Tỷ lệ hen ở học
sinh một số trường trung học phổ thông tại Hà nội năm 2006 là 8,74% [10].
Nghiên cứu gần đây của Trần Thúy Hạnh - trung tâm Miễn dịch dị ứng
– miễn dịch lâm sàng bệnh viên Bạch Mai dự báo tỷ lệ mắc HPQ ở nước ta là
3,9%, trong đó tỷ lệ hen ở trẻ em là 3,1%[11].
Tử vong do HPQ:
Tỷ lệ tử vong do HPQ là rất nhỏ. Tuy nhiên những năm gần đây số
người tử vong do HPQ có xu hướng tăng lên, trung bình thế giới có 40-60
8
người trong 1 triệu dân chết vì HPQ. Ở Mỹ năm 1977 có 1674 trường hợp tử
vong vì HPQ, đến năm 1998 đã có trên 6000 trường hợp tử vong vì HPQ [2], [12].
Tại Việt Nam, hiện chưa có thống kê đầy đủ về số ca tử vong do hen
trong cả nước, nhưng ngày càng có nhiều người tử vong do hen. Tuy nhiên
điều đáng lưu ý là 85% các trường hợp tử vong có thể phòng ngừa được nếu
gia đình, xã hội, thầy thuốc và bệnh nhân quan tâm hơn tới điều trị dự phòng
HPQ. Việc quản lý và điều trị dự phòng hen nhằm đáp ứng các yêu cầu của
chương trình khởi động toàn cầu về phòng chống hen GINA [7], [13].
Gánh nặng bệnh tật:
Đối với người bệnh: Hen phế quản là một bệnh mạn tính thường gặp ở
trẻ em và là một trong những nguyên nhân buộc trẻ phải nghỉ học nhiều ngày.
Có tới 40% trẻ em phải nghỉ học mỗi khi lên cơn, trung bình trẻ bị hen phải
nghỉ học 10 -15 ngày trong năm [14].
Đối với gia đình: Hen phế quản tác động xấu đến tâm lý gia đình, coi
người bệnh như một gánh nặng.
bệnh học của hen. Tính di truyền chiếm 40-60% các trường hợp HPQ.Nếu bố
hoặc mẹ bị hen thì nguy cơ mắc hen ở con là 25%, nếu cả bố và mẹ bị hen thì
nguy cơ này tăng lên tới 50%.
- Béo phì: được cho là một trong các yếu tố nguy cơ gây hen, trong đó phải kể
đến leptin có thể là chất gây ảnh hưởng chức năng đường thở và tăng nguy cơ
phát bệnh hen.
- Giới tính: ở trẻ em tỷ lệ hen ở nam lớn hơn nữ, trẻ càng lớn thì tỷ lệ nữ mắc
hen có xu hướng tăng lên và khi đến gần tuổi trưởng thành thì tỷ lệ hen ở nữ
lớn hơn nam.
b) Yếu tố môi trường
- Dị nguyên: dị nguyên là những chất có tính kháng nguyên, khi lọt vào cơ thể
có khả năng kích thích cơ thể sản sinh ra các kháng thể và kết hợp đặc hiệu
10
với kháng thể đó, tạo nên tình trạng dị ứng.Dị nguyên được chia làm hai
nhóm: dị nguyên nội sinh và ngoại sinh.Trong HPQ các di nguyên được
quan tâm tới là: bụi nhà, phấn hoa, lông động vật, côn trùng (gián), nấm
mốc…
- Nhiễm trùng: nhiều vi khuẩn, virus, kí sính trùng gây viêm nhiễm đường hô
hấp dẫn đến HPQ.
- Ô nhiễm môi trường: các chất gây ô nhiễm không khí từ chất thải, khí thải
công nghiệp, bụi…khi xâm nhập vào đường hô hấp gây kích ứng niêm mạc
phế quản làm tăng phản ứng phế quản gây nên phản ứng dị ứng.
- Khói thuốc lá: trong khói thuốc có chứa các chất có hại như polycyclic,
hydrocarbon, nicotine, CO… gây tăng phản ứng phế quản, tăng xuất tiết phế
quản làm tăng mức độ nặng của bệnh hen.
- Gắng sức: Gắng sức có thể làm xuất hiện cơn HPQ sau 1-10 phút. Vận động
thể lực mạnh làm tình trạng khó thở xuất hiện và nặng lên nhanh.
hẳn ở tuổi dậy thì; 41,8% cơn hen giảm nhẹ và có 4,2%-10,8% HPQ xuất hiện
ở tuổi dậy thì, khoảng 10% HPQ xuất hiện ở tuổi trên 60.
Giới:
Ở trẻ em dưới 5 tuổi, tỷ lệ HPQ ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái. Năm 2000, Cagney
và cộng sự nghiên cứu trên 2020 trẻ từ 5-14 tuổi tại Western Sydney – Australia và
thấy rằng yếu tố nguy cơ phát triển HPQ ở trẻ trai gấp 1,5 lần trẻ gái [20].
Trước tuổi dậy thì HPQ gặp nhiều ở trẻ trai hơn trẻ gái, đến tuổi thanh
niên và trưởng thành tỷ lệ HPQ là ngang nhau ở 2 giới . Ở trẻ em tùy theo tác
giả, tỷ lệ mắc hen giữa nam/nữ dao động từ 1,3 đến 1,7 lần.
Yếu tố cơ địa:
Có mối liên quan giữa HPQ và cơ địa dị ứng, những trẻ có cơ địa dị
ứng hoặc có những bệnh dị ứng khác như chàm thể tạng, viêm mũi dị ứng,
mày đay, viêm xoang dị ứng... dễ bị HPQ hơn những trẻ không có cơ địa dị
ứng hoặc bệnh dị ứng [21].
12
Halken S và cộng sự nghiên cứu những cá nhân có tiền sử bị viêm mũi
dị ứng cho thấy 6% có nguy cơ bị HPQ, trong khi nếu không có tiền sử dị ứng
này thì nguy cơ chỉ là 1,3%.[22]
Triệu chứng lâm sàng của HPQ:
Các triệu chứng của hen thường xuất hiện hoặc nặng lên khi có các yếu
tố kịch phát như:
13
1.2.2. Thực hành về dự phòng HPQ
14
Để chữa hen có hai loại thuốc quan trọng nhất được dùng đó là thuốc cắt
cơn và thuốc dự phòng. Cha/mẹ trẻ mắc hen phải nhớ được tên thuốc cắt cơn
là ventolin. Việc cha/mẹ biết thuốc cắt cơn hen là thuốc giãn phế quản và nhớ
được tên thuốc cắt cơn sẽ có ích cho trẻ trong trường hợp cần phải dùng thuốc
khi cơn hen xuất hiện hoặc trong cộng đồng nếu nhớ được tên thuốc dùng để
cắt cơn hen có thể hỗ trợ người mắc bệnh hen khác trong các tình huống khẩn
cấp. Nghiên cứu thực hiện năm 2009 chỉ khoảng 50% các bà mẹ có con bị hen
biết chọn thuốc giãn phế quản là thuốc cắt cơn hen [23], cũng tại bệnh viện
Nhi trung ương năm 2010 trên 80% các mẹ cho biết đã cho con dùng kháng
sinh khi em bé có cơn hen [24]. Theo hướng dẫn điều trị hen của GINA, khi
có cơn hen thì thuốc giãn phế quản phải được lựa chọn đầu tiên, kháng sinh là
một trong các thuốc không nên dùng để điều trị cơn hen trừ khi có bằng
chứng rõ ràng người bệnh có nhiễm khuẩn kèm theo [25]. Nhiều cha/mẹ vẫn
cho rằng kháng sinh và thuốc ho là một trong những loại thuốc quan trọng để
chữa hen. Theo các chuyên gia, người mắc bệnh hen nhất thiết phải phân biệt
được thuốc cắt cơn và thuốc dự phòng hen và phải sử dụng đúng 2 loại thuốc
này. Việc nhầm lẫn cách dùng 2 loại thuốc chữa hen quan trọng này có thể
khiến cho việc kiểm soát hen không đạt kết quả [26] thêm vào đó sử dụng
thuốc chữa hen không hợp lí không chỉ khiến cho việc kiểm soát hen trở nên
khó khăn hơn mà còn khiến cho giá thành chữa hen tăng cao, làm tăng gánh
nặng chi phí kinh tế cho cả người bệnh và cộng đồng. Đi khám hen định kì là
một trong những bước phải thực hiện để giúp cho việc kiểm soát hen thành
công. Để đảm bảo việc theo dõi hen thường xuyên người bệnh cần được khám
[27].
Hướng dẫn sử dụng bình xịt định liều( đối với từ 5 tuổi trở lên):
16
Bước 1: Mở nắp hộp thuốc
Giữ bình xịt thẳng đứng, đáy bình quay lên trên
Bước 2: Lắc mạnh bình xịt 5-7 lần
Đặt bình xịt vào miệng giữa hai hàm răng, ngậm kín
môi lại
Bước 3: Bắt đầu hít vào nhẹ và xịt thuốc. Cần phối
hợp đồng thời xịt thuốc và hít vào thật Nhanh, thật
Sâu, thật Dài
Bước 4: Nín thở trong khoảng 20 giây (đếm
chậm từ 1-10)
Bước 5: Sau hít xúc miệng bằng nước sạch
Bước 6: Đóng nắp hộp thuốc
17
Hướng dẫn xử dụng bình xịt babyhaler( đối với bệnh nhân dưới 5
tuổi)
STT
hiều. Người trực tiếp chăm sóc tuổi càng cao thì khả năng này càng hạn chế.
Nơi ở:
Thành phố là nơi tập trung dân cư đông đúc, điều kiện sinh hoạt chật chội,
con người luôn phải tiếp xúc với với môi trường ngột ngạt, các chất gây ô
nhiễm môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh hen xuất hiện. Bên cạnh
những yếu tố nguy cơ, ở thành phố lớn, các bệnh nhân có ý thức về bệnh tật
hơn, chú trọng việc phòng và điều trị bệnh, có điều kiện đến bệnh viện hơn. Ở
nông thôn nhận thức của người dân cũng kém hơn, không chú ý đến dự phòng
và điều trị bệnh.
Nghề nghiệp:
Người trực tiếp chăm sóc trẻ có nghề nghiệp ổn định thì khả năng tuân thủ
điều trị và tái khám cao hơn.
Trình độ học vấn:
Người trực tiếp chăm sóc trẻ có trình độ học vấn cao thì khả năng tiếp cận với
các nguồn thông tin về phòng bệnh tốt -> hiệu quả điều trị cho trẻ bị bệnh tốt.
Một số nghiên cứu can thiệp về tư vấn giáo dục cho thấy ở những đối tượng
có trình độ học vấn càng cao thì hiệu quả đạt được sau tư vấn cao hơn so với
nhóm có trình độ học vấn thấp.
Số con trong gia đình:
Những gia đình có ít con cái thì người chăm sóc trẻ có nhiều thời gian chăm
sóc và quan tâm đến bệnh tật của con hơn những gia đình đông con.
Tiền sử gia đình có người mắc bệnh HPQ:
19
Với những trẻ có tiền sử gia đình có người mắc bệnh HPQ thì khả năng trẻ
mắc bệnh HPQ cao nhưng đồng thời họ cũng có kinh nghiệm phát hiện các
dấu hiệu và triệu chứng sớm của HPQ.
Tìm hiểu thông tin về bệnh HPQ:
trẻ phải nghỉ học trong năm vì hen. Điều đó cho thấy tình hình kiểm soát hen
tại khu vực này còn đang ở mức thấp [31].
Theo ISAAC (2004) cho thấy độ lưu hành hen đã thay đổi từ 1,6% đến
36,8%.Hen trẻ em gặp nhiều ở các vùng đô thị, thành phố hơn so với vùng
nông thôn, ở các nước phát triển tỷ lệ mắc hen cao hơn ở nước đang phát
triển.Tỷ lệ hen ở trẻ em vào khoảng 1- 30% tuỳ từng vùng. Tỷ lệ bệnh nhân
hen nhập viện khá cao: Singapore: 9%, Việt Nam: 26%, Philippine: 27%,
Trung Quốc: 33% .
Arlene Butz đã tiến hành một nghiên cứu từ tháng 8/2001 đến tháng 8/
2003 tại Marylyn được thực hiện ở 188 bệnh nhi, bố, mẹ và người chăm sóc
trẻ nhằm đánh giá hiệu quả của biện pháp tham vấn sức khoẻ về bệnh HPQ và
nâng cao chất lượng cuộc sống của các gia đình có trẻ bị hen. Kết quả cho
thấy việc giáo dục sức khoẻ về HPQ đã nâng cao kiến thức về HPQ cho cả
cha mẹ và bản thân trẻ [32].
Tại Singapore, Prabhakaran L và cộng sự (2008) tiến hành nghiên cứu
ở 67 bố, mẹ bệnh nhân hen với mục tiêu đánh giá hiệu quả của chương trình
giáo dục hen tại bệnh viện. Kết quả cho thấy, trước tư vấn tỷ lệ bố, mẹ bệnh
nhi có khái niệm đúng về bệnh hen phế quản là 89,7%, sau tư vấn là 95,6%,
trước tư vấn tỷ lệ bố, mẹ bệnh nhi nhận biết các dấu hiệu của bệnh hen chỉ là
72,05% nhưng sau tư vấn tỷ lệ bố, mẹ bệnh nhi biết được các dấu hiệu của
bệnh hen là 97% với p < 0.001 [33].
Nghiên cứu của ARIAP cho thấy bệnh nhân hen phế quản chưa được
theo dõi và quản lý đúng mức: 88% bệnh nhân hen không biết rằng tình trạng
21
bệnh của họ có thể kiểm soát được, 90% người được hỏi không hề sử dụng
corticosteroid hít - một dạng điều trị phòng ngừa hen rất hiệu quả[34].
Năm 2003, Hội Hen Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Khoa Dị ứng – Miễn
- Người chăm sóc có trẻ mắc HPQ đến điều trị nội trú hoặc ngoại trú lần đầu.
- Người chăm sóc có trẻ mắc HPQ không đồng ý tham gia NC.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.3.2. Mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Đơn vị mẫu: Người chăm sóc có trẻ mắc HPQ.
- Mẫu và phương pháp chọn mẫu: Theo báo cáo quý 1 năm 2015 của khoa
Miễn dịch – dị ứng – khớp lượng bệnh nhân hen vào điều trị nội trú và điều trị
ngoại trú là 227 bệnh nhân. Vì vậy chúng tôi tiến hành chọn toàn bộ người
chăm sóc có trẻ mắc HPQ đến điều trị tại Khoa Miễn dịch – Dị ứng – Khớp
23
trong khoảng thời gian từ 15/9/2015 đến 15/3/2016 và kết quả chúng tôi đã
phỏng vấn được 250 người chăm sóc có trẻ mắc HPQ.
2.3.3. Biến số và chỉ số nghiên cứu
Biến độc lập:
+ Yếu tố nhân khẩu học: Tuổi, giới, nơi ở, nghề nghiệp, trình độ học vấn; số
con trong gia đình;
+ Yếu tố thông tin về HPQ: tìm hiểu thông tin về HPQ, biết trẻ mắc HPQ, ai
cho biết trẻ mắc HPQ, nơi chẩn đoán HPQ, tiền sử bệnh HPQ, tiền sử dị ứng
của trẻ, tham gia CLB Hen.
Biến phụ thuộc:
+ Kiến thức về dự phòng HPQ: đặc điểm của bệnh, đặc điểm dịch tễ của
bệnh, kiểm soát bệnh, yếu tố khởi phát, yếu tố nguy cơ, thời điểm đưa trẻ đi
KCB;
+ Thực hành về dự phòng HPQ: thực hành xịt thuốc dự phòng cho trẻ.
Cách đánh giá về thực hành xịt thuốc dự phòng của người chăm sóc cho
thập được hoàn chỉnh ở mức cao nhất có thể.
- Trong khi phỏng vấn, ĐTV sẽ thông báo mục đích và nội dung chính của
nghiên cứu và cũng sẽ giải thích rõ các thắc mắc của người tham gia nghiên
cứu.
- ĐTV phải kiểm tra phiếu điều tra ở tất cả các mục để tránh bỏ sót. Cần phải
hoàn chỉnh phiếu điều tra trước nộp lại phiếu cho GSV.
- Tập hợp phiếu, hoàn chỉnh phiếu để chuẩn bị cho nhập số liệu.
25
Quy trình thu thập số liệu:
Trẻ được khám và chẩn đoán mắc bệnh HPQ tại
Khoa khám bệnh BV Nhi TW
Vào điều trị nội trú hoặc điều trị ngoại trú
tại khoa Miễn dịch – dị ứng – khớp
Phỏng vấn kiến thức và thực hành về dự phòng
HPQ
2.3.6. Quản lý, xử lý và phân tích số liệu
Xử lý số liệu:
- Tất cả những phiếu phỏng vấn đã thu thập được trong sẽ được nghiên
cứu viên kiểm tra đầy đủ thông tin.
- NCV rà soát kết quả của các phiếu thu thập số liệu ngay trong đêm hôm
đó và điều chỉnh thiếu sót vào ngày hôm sau nếu có thiếu sót thông tin.
- Một số dữ liệu không phù hợp đã được NCV hiệu chỉnh ngay trong ngày
hôm sau trên đối tượng đó.
- Số liệu đã được mã hóa, làm sạch trước và sau khi nhập vào máy tính
bằng phần mềm Epi data 3.1.
-Từng phiếu được nghiên cứu viên rà soát, loại bỏ những thông tin thừa
trên từng phiếu, và hầu như không có thông tin thiếu vì đã được hiệu chỉnh