Ứng dụng siêu âm UBM đánh giá tình trạng vết thương xuyên phần trước nhãn cầu - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Vết thương xuyên nhãn cầu là một chấn thương nặng của mắt, là cấp
cứu trong nhãn khoa, gây tổn hại không hồi phục về mặt giải phẫu. Đây là
loại vết thương mắt thường gặp, chiếm 35 – 50% tổng số chấn thương mắt
[1]. Theo Đỗ Như Hơn, tỉ lệ vết thương xuyên chiếm 49,42% bệnh nhân chấn
thương mắt [2], vết thương xuyên phần trước nhãn cầu chiếm 62% [3].
Việc xử trí khâu đóng vết thương một cách kịp thời phục hồi lại mối
quan hệ về mặt giải phẫu ban đầu đem lại cho bệnh nhân cơ hội tốt nhất để
lấy lại chức năng thị giác tối ưu [4]. Hiện nay, với các tiến bộ trong y khoa,
thì việc xử trí cũng như điều trị vết thương xuyên nhãn cầu đã đạt được nhiều
kết quả tốt không những giữ được mắt cho bệnh nhân mà còn đem lại cho
bệnh nhân thị lực tốt. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp vết thương xuyên
chưa được xử trí tốt. Vết khâu còn kênh mép làm biến dạng giác mạc dẫn đến
quá trình làm sẹo của vết thương không tốt và gây ra loạn thị cao cho bệnh
nhân. Ngoài ra, việc xử lý không tốt vết thương còn gây ra tình trạng phù giác
mạc kéo dài hơn khiến cho quá trình can thiệp vào bán phần sau nếu có gặp
khó khăn hơn.
Việc khám và đánh giá vết thương xuyên phần trước nhãn cầu đã xử trí
trước đây chủ yếu dựa vào lâm sàng, sự đánh giá chủ quan của thầy thuốc, do
vậy có thể bỏ qua các bất thường của cấu trúc giác mạc do khâu không đúng
lớp giải phẫu. Hiện nay, với sự ra đời của các phương tiện hỗ trợ như siêu âm
sinh hiển vi (Ultrasound Biomicroscopy – UBM), chụp cắt lớp cố kết quang
học (Optical Coherence Topography – OCT) bán phần trước là rất hữu ích để
giúp đánh giá và theo dõi vết thương xuyên phần trước nhãn cầu sau khi đã
xử trí. Việc đánh giá vết thương đã khâu đúng lớp giải phẫu chưa, mép vết
thương có bị kênh, phù hay không là rất cần thiết trong quá trình điều trị. Từ


2

3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. VẾT THƯƠNG XUYÊN PHẦN TRƯỚC NHÃN CẦU
1.1.1. Khái niệm và phân loại vết thương xuyên phần trước nhãn cầu
Vết thương xuyên nhãn cầu là vết thương xuyên qua toàn bộ chiều dày
của thành nhãn cầu giác mạc ở phía trước, củng mạc ở phía sau, có thể gây phòi tổ
chức nội nhãn như: màng bồ đào, thể thủy tinh, dịch kính và võng mạc.
Vết thương xuyên nhãn cầu được chia thành hai phần: vết thương
xuyên phần trước và vết thương xuyên phần sau nhãn cầu.
Phân loại vết thương xuyên nhãn cầu theo vị trí tổn thương.
- Vùng I: Toàn bộ giác mạc.
- Vùng II: Từ rìa giác mạc đến cách rìa 5 mm.
- Vùng III: Từ củng mạc cách rìa 5mm đến hậu cực [5].
Vết thương xuyên phần trước nhãn cầu là những vết thương ở vùng I và
vùng II gây các tổn hại từ giác – củng mạc đến bao sau thể thủy tinh.
Vết thương xuyên phần sau nhãn cầu là những vết rách từ cách rìa giác mạc
5mm cho đến hậu cực, gây nên các tổn hại cho dịch kính và võng mạc [5].
1.1.2. Xử trí vết thương xuyên phần trước nhãn cầu
Mục tiêu: đảm bảo sự toàn vẹn của nhãn cầu để ngăn chặn hạ nhãn áp,
nhiễm trùng, tái lập lại giải phẫu ban đầu càng nhiều càng tốt, phục hồi chức
năng thị giác [6]
1.1.2.1. Xử trí vết thương giác mạc
Với vết thương nhỏ tự liền có thể điều trị với kháng sinh tại chỗ không
cần phẫu thuật. Với những vết thương lớn hơn một chút có thể điều trị bằng


4


rời.


5

-

Nếu vết rách qua vùng rìa, mũi khâu đầu tiên là ở vùng rìa vì đây là mốc giải
phẫu dễ nhận biết nhất.

-

Mũi kim không đi quá 90% chiều dày giác mạc, độ dài mũi kim không quá
1,5 mm. Các tác giả khuyên nên khâu sát màng descemet, kim đi vào hai bên
mép rách ở vị trí cân nhau [5, 7].

Hình 1.3: Ảnh hưởng của vị trí khâu tới vết rách giác mạc
Nguồn: Hersh P., Zagelbaum M.B., Kenyon R. K., and Shingleton J. B., [7]

A. Vết thương sắc nét vuông góc, vị trí khâu cách đều từ mép vết
thương cho vết khâu tốt.
B. Chỉ khâu nông tạo vết thương há miệng ở bên trong
C. Chỉ khâu đi hết toàn bộ chiều dày giác mạc tạo một đường vào cho
vi sinh vật
D, E. Xuyên chỉ không đều tạo ra mép vết thương kênh
F. Vết rách có ngăn chỉ khâu nên đặt cách đều từ cạnh trong của vết
thương [7]
Nên tránh khâu vào vùng trục thị giác. Nếu bắt buộc phải khâu nên áp
dụng một số kỹ thuật giảm bớt sẹo: đâm kim lấy ít tổ chức giác mạc, đặt mũi
chỉ so le ở vùng trục thị giác và sử dụng kỹ thuật khâu không kẹp [7].

-

Sau khi khâu giác mạc phải phẫu tích kết mạc ở những điểm nghi ngờ tránh
bỏ sót các tổn thương củng mạc [5]


7

Hình 1.5: Các vết rách giác mạc hình sao
Nguồn: Hersh P., Zagelbaum M.B., Kenyon R. K., and Shingleton J. B., [7]

A. Khâu bắc cầu
B. Khâu miệng túi
C. Khâu mũi rời kết hợp keo dính tổ chức [7]
1.1.2.2. Xử trí vết thương củng mạc phần trước nhãn cầu
Vết thương ở vùng này cần bóc tách toàn bộ kết mạc và bao Tenon để
bộc lộ hoàn toàn hai đầu và hai mép vết rách củng mạc. Tuy nhiên, vết rách
củng mạc ở phần trước nhãn cầu dễ bộc lộ hơn và ít bị bỏ sót hơn các vết rách
ở phần sau nhãn cầu. Vùng củng mạc rìa là một trong số những điểm yếu của
nhãn cầu do đó cần phải khâu kỹ.
Xử trí vết thương củng mạc phần trước nhãn cầu theo các bước sau:
-

Phẫu tích rộng kết mạc vùng nghi ngờ có tổn thương để bộc lộ toàn bộ vết
thương củng mạc.

-

Làm sạch hai mép vết rách củng mạc: giải phóng tổ chức phòi kẹt, lấy dị vật,
xuất tiết, rửa sạch sắc tố bám …

Làm sạch phần mống mắt phòi kẹt, lấy bỏ dị vật, tách màng xuất tiết và biểu
mô phủ bằng nước muối sinh lý, sponge và spatule.

-

Đẩy nhẹ mống mắt vào tiền phòng. Nếu mống mắt vẫn kẹt cần kiểm tra xem
các mũi khâu trước có khâu phải mống mắt không.

-

Có thể chọc một lỗ nhỏ ở vùng rìa giác mạc, dùng spatule que tăm quét qua tiền
phòng để giải phóng chỗ dính mống mắt vào mặt sau vết thương.

-

Khâu tiếp vết thương giác mạc. Bơm hơi tái tạo tiền phòng [5, 9].
1.1.2.4. Rửa tiền phòng
Khi tiền phòng có mủ, xuất tiết có thể cân nhắc rửa mủ tiền phòng
lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm vi sinh vật, loại trừ bớt mủ cũng như tác
nhân gây bệnh.
Khi thể thủy tinh đục vỡ tung giải phóng chất thể thủy tinh vào tiền phòng,
kẹt chất thể thủy tinh ở mép vết thương cần phải rửa sạch chất nhân [5]
1.1.2.5. Xử trí thể thủy tinh đục do vết thương xuyên trong cấp cứu
Hình thái đục thể thủy tinh trong vết thương xuyên phần trước nhãn cầu
rất đa dạng và phong phú vì vậy thái độ xử trí cũng rất khác nhau. Trong khi
xử trí cấp cứu khâu vết thương giác củng mạc, các tác giả đều thống nhất rằng
có hai tình huống phải lấy thể thủy tinh ngay đó là khi thể thủy tinh vỡ tung


9


Không có hiện tượng nhiễm trùng

-

Bệnh nhân ≥ 16 tuổi.
1.1.3. Sinh lý bệnh quá trình liền sẹo vết thương phần trước nhãn cầu
Vết thương xuyên phần trước nhãn cầu gây ra một loạt tổn hại các
thành phần nội nhãn. Các tổn hại ban đầu, ngay sau chấn thương hay những
biến chứng muộn làm thay đổi cấu trúc giải phẫu, sinh lý của mắt dẫn đến
giảm hoặc mất chức năng nhãn cầu.


10

Sự liền sẹo cũng giống như tất cả các cơ quan khác trong cơ thể là một
quá tình phức tạp, bắt đầu bằng hiện tượng đông máu (để cầm máu), phản ứng
viêm (để loại bỏ các tổ chức hoại tử), tiếp theo là sự tăng sinh tế bào, tăng
sinh tổ chức xơ mạch (để tạo lại tính toàn vẹn về giải phẫu) và quá trình ổn
định trật tự các cấu trúc (để tái tạo lại chức năng của tổ chức) [8].
1.1.3.1. Sinh lý bệnh quá trình liền sẹo vết thương giác mạc
Để cho tổ chức giác mạc đảm bảo các chức năng của nó, cần có những
yêu cầu sau: Các cấu trúc sợi của nhu mô phải xếp theo đúng trật tự của nó,
độ cong giác mạc phía trước và phía sau phải được tái tạo, không có phù nề
nhu mô và lực căng của nhu mô được tái tạo, không có tân mạch. Vì vậy, cần
khám kỹ tổn thương để đánh giá xem các yếu tố này bị ảnh hưởng ra sao.
Tế bào bị tổn hại kích thích quá trình liền sẹo vết thương. Biểu mô giác
mạc bị tổn hại, các cấu trúc dạng sợi các giác mạc bào trong nhu mô bị cắt
đứt, nội mô bị phá hủy hay bị di lệch ra khỏi chỗ bị thương. Các tế bào bị tổn
thương có thể bị quét đi mất do vận động của mi mắt, nước mắt và dòng thủy

những đặc tính tế bào học như các tế bào xơ. Tổ chức xơ được sản sinh ra
làm giác mạc bị đục.



Liền sẹo nhu mô
Các giác mạc bào là những tế bào lâu phản ứng nhất sau chấn thương.
Chúng chỉ bắt đầu tăng sinh ở vùng có vết thương và sản sinh ra collagen mới
sau khi các tế bào bề mặt đã phủ kín tổn thương. Lúc đầu các sợi collagen sắp
xếp một cách lộn xộn, dần dần khi vết thương ổn định, chúng sẽ sắp xếp theo
cấu trúc ban đầu của giác mạc nhưng không được hoàn hảo như cũ.



Rối loạn quá trình liền vết thương
Rách giác mạc toàn bộ chiều dày hiếm khi xảy ra đơn độc mà không đi
kèm các yếu tố có khả năng gây biến chứng tiềm tàng khác như xuất huyết,
kẹt tổ chức nội nhãn, mất tổ chức và nhiễm khuẩn. Một trong các yếu tố nói
trên có thể gây biến đổi quá trình liền sẹo vết thương.
Nếu các tế bào phát triển quá mức yêu cầu quá trình liền vết thương thì
cũng có thể gây tổn hại cho mắt. Chẳng hạn, biểu mô phát triển quá mức phát


12

triển xâm nhập vào trong tiền phòng gây nang biểu mô tiền phòng, các tế bào
biểu mô che phủ vùng bè gây ra tăng nhãn áp, tổ chức xơ từ vết thương hay từ
các tế bào nội mô bị dị sản tạo thành mảng xơ đục ở mặt sau giác mạc... [8].
1.1.3.2. Sinh lý bệnh quá trình liền vết thương củng mạc và vùng rìa


UBM tại bệnh viện Princess Margaret – Toronto, Canada năm 1989. Sau đó
phiên bản thương mại đầu tiên được công ty Zeiss – Humphrey đưa ra vào
năm 1991.
Công nghệ thiết kế siêu âm sinh hiển vi (UBM) khởi đầu được Pavlin,
Shera và Foster phát triển, dựa trên các đầu thu 35MHz hoặc 50 MHz, đặt vào
trong một máy quét (siêu âm) lâm sàng kiểu B (B – mode scanner). Các đầu
thu tần số cao hơn sẽ cho hình ảnh của các cấu trúc ở nông nhưng có độ phân
giải cao hơn. Trong khi các đầu thu tần số thấp hơn thì có khả năng thâm nhập
sâu hơn nhưng độ phân giải của hình ảnh lại kém hơn. Máy siêu âm sinh hiển
vi hiện có trên thị trường hoạt động ở các tần số 35 MHz và 50 MHz, và cho
hình ảnh với độ phân giải vật lý theo chiều ngang và theo trục lần lượt là gần
50 và 25 µm. Độ đâm xuyên vào sâu trong các mô đạt gần 18 mm. Máy quét
siêu âm bao phủ một trường rộng tới 14 x 18 mm, với 256 đường thẳng đứng
trên hình ảnh. Tốc độ quét có thể cao tới 22 hình/ giây [11].
Siêu âm UBM được thực hiện khi bệnh nhân nằm ngửa, mắt mở. Vì
tinh thể áp điện của đầu dò không có màng bao bọc do đó không được tiếp
xúc trực tiếp với bề mặt nhãn cầu để tránh tổn thương giác mạc. Bởi vậy, phải
có một cốc đặc biệt đặt giữa hai mi mắt để giữ cho mắt mở. Cốc được đổ đầy
nước cất hoặc methylcellulose tiệt khuẩn để duy trì môi trường truyền dẫn
sóng âm. Đầu dò đặt trong dung dịch nước muối sinh lý cách bề mặt nhãn cầu
khoảng 2 – 4 mm. Khoảng cách này đảm bảo không làm tổn thương giác mạc.
Siêu âm UBM có độ phân giải 50 µm do đó hình ảnh được nhìn thấy tương tự
như những hình ảnh trên kính hiển vi điện năng thấp. Phần mềm đo lường của


14

siêu âm UBM tính khoảng cách và diện tích bằng cách đếm các điểm ảnh dọc
theo đường đo hoặc bên trong khu vực quy định sau đó nhân với kích thước
điểm ảnh theo lý thuyết [11, 12].

Mống mắt là khu vực có mức độ phản âm cao và độ âm vang đồng
nhất. Phía trước mống mắt và thể mi là cựa củng mạc, mốc giải phẫu quan
trọng đo các thông số của bán phần trước.
Hậu phòng là khoang mức độ phản âm thấp nằm giữa mặt trước màng dịch
kính và mặt sau mống mắt, luôn khảo sát được ở chế độ siêu âm tổng quát.

Hình 1.7: Hình ảnh siêu âm mắt UBM bình thường chế độ tổng quát
Nguồn: />
Chế độ siêu âm góc cho phép quan sát chi tiết cấu trúc của góc tiền
phòng và đo các thông số của góc như độ mở góc, khoảng mở AOD500
(Angle opening distance), diện tích góc tiền phòng (ARA - Angle recess area)
… qua phần mềm đánh giá góc Sonomed Pro 2000 [11, 12, 16, 17].


16

Hình 1.8: Hình ảnh siêu âm trên mắt bình thường (chế độ góc) [18]
Nguồn: />
Tác giả Pavlin và Foster để xuất các thông số khác nhau để đánh giá
bán phần trước nhãn cầu trên UBM mà tới nay vẫn được sử dụng như chuẩn.
Nhưng trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ đánh giá các chỉ số độ dày
giác mạc, độ sâu tiền phòng và độ dày thể thủy tinh.
-

Đo độ dày giác mạc: Bệnh nhân được yêu cầu nhìn cố định vào một vật tiêu ở
trên trần nhà, đầu dò được nhúng vào dung dịch methylcelluose 1%, hoặc
nước cất trong một cốc được đặt trên củng mạc. Trung tâm giác mạc được xác
định bằng cách thu lại được hình ảnh trong đó đường kính đồng tử là lớn nhất,
tính thẳng góc được xác định bằng cách điều chỉnh đầu dò siêu âm đến khi
các đường phản âm của của các lớp giác mạc khác nhau thẳng trục [19]. Độ

dày nhất mật độ âm tương đối đồng nhất và mức độ phản âm thấp. Lớp tế bào
nội mô và màng Descemet không phân biệt được chúng cùng nhau tạo thành
một đường phản âm cao ở mặt sau giác mạc [13].
Giác mạc phù thể hiện là lớp biểu mô dày lên không đồng đều so với bề
mặt giác mạc trơn nhẵn bình thường, lớp nhu mô dày lên và tăng mật độ phản
xạ âm [23].


18

Hình 1.11: Giác mạc phù. Mũi tên: lớp biểu mô dày lên [23]
Vết khâu kênh mép thể hiện trên siêu âm UBM là các đường phản âm
tương ứng các lớp giác mạc ở hai mép vết khâu không trùng khít với nhau, bề
cong giác mạc ghồ ghề. Vết khâu xử trí tốt, bề cong bình thường của giác mạc
được tái lập lại, đường phản âm theo các lớp giác mạc ở hai mép vết khâu liên
tục với nhau không gập góc, gồ ghề.

Hình 1.12: Siêu âm trước và sau phẫu thuật chỉnh sửa vết khâu [24]
Hình A: Siêu âm UBM trước phẫu thuật chỉnh vết khâu, mũi tên: cạnh
ngoài của vết thương, đầu mũi tên cạnh trong vết thương, dấu sao: điểm dính
mống mắt vào vết khâu. B: Siêu âm UBM sau phẫu thuật cho thấy sự ghép lại
đúng mép vết thương. Mũi tên trắng chỉ ra điểm bắt đầu của vết thương xuyên
trên bề mặt giác mạc [24].


Đánh giá củng mạc


19


âm cao tiếp theo khoang tiền phòng, và có mật độ âm vang đồng nhất. Trong
chấn thương xuyên mống mắt có thể bị đứt chân hay thủng thể hiện trên siêu
âm UBM là vùng phản âm của mống mắt không liên tục, bị đứt đoạn, có một
vùng giảm âm xen vào. Mống mắt có thể bị dính vào mặt sau vết khâu giác
mạc biểu hiện đường phản âm của mống mắt không thẳng, gập góc tại điểm
dính mống mắt vào giác mạc. Mất toàn bộ mống mắt sẽ không thấy vùng
phản âm của mống mắt tại vị trí giải phẫu bình thường.


Đánh giá thể thủy tinh
Thể thủy tinh bình thường khảo sát ở chế độ tổng quát có các phần:
trung tâm bao trước thể thủy tinh là một đường tăng âm rõ nhất. Vùng vỏ và
nhân thể thủy tinh có mật độ phản âm thấp và đồng nhất, tiếp theo đường tăng
âm ở trung tâm bao sau. Các tổn thương thể thủy tinh trong chấn thương
xuyên thường là đục vỡ thể thủy tinh có thể vỡ bao trước hay bao sau, với
biểu hiện đường phản âm của bao thể thủy tinh dày lên, và không liên tục.
Nếu đục vỡ bao trước có thể thấy vùng tăng âm trong tiền phòng, nếu đục vỡ
bao sau thì chỉ thấy được sự không liên tục của đường tăng âm của bao sau,
cần kết hợp với siêu âm B để xác định có chất nhân thể thủy tinh trong dịch
kính. Vùng vỏ và nhân lúc này xuất hiện các khối tăng âm không đồng nhất.
Đục thể thủy tinh chiều dày thể thủy tinh cũng tăng hơn so với bình thường.


21

Hình 1.14: Đục vỡ thể thủy tinh rách bao trước[25]


Đánh giá thể mi:
Bong thể mi trên siêu âm UBM: Do cơ thể mi tách hoàn toàn ra khỏi

giác mạc được tái lập không biến dạng giác mạc. Tương ứng trên siêu âm
UBM đường tăng âm mặt ngoài và mặt trong giác mạc liên tục không gấp
khúc, đứt đoạn, mép vết thương trùng kín với nhau.


23

1.3.2. Hình ảnh vết thương xử lý không tốt trên lâm sàng và siêu âm UBM
Hình ảnh phù giác mạc trên lâm sàng biểu hiện là giác mạc mất độ
trong bóng như bình thường và tăng chiều dày giác mạc với khám đèn khe.
Trên UBM vùng phù giác mạc thể hiện tăng độ phản âm so với giác mạc lành.
Vùng phù giác mạc cũng được thể hiện là tăng chiều dày giác mạc trên UBM.
Vết khâu không tốt thể hiện trên siêu âm UBM là giác mạc tại vị trí vết
khâu tăng mật độ phản âm, chiều dày giác mạc tại vị trí vết khâu tăng lên, đường
tăng âm tương ứng với các lớp từ biểu mô tới nội mô giác mạc không liên tục,
trùng khớp với nhau, làm biến dạng đường cong bình thường của giác mạc.

Hình 1.18: Hình ảnh vết khâu kênh mép trên lâm sàng và siêu âm
Hình ảnh vết khâu trên lâm sàng với khám đèn khe cho thấy vết khâu
giác mạc phù nề, hình dạng giác mạc biến dạng, tuy nhiên khó phân biệt sự
biến dạng này do mất tổ chức giác mạc hay kênh mép vết khâu. Trên siêu âm
UBM đã chứng minh được sự kênh hoàn toàn các cạnh vết khâu [24].
1.3.3. Đối chiếu hình ảnh một số tổn thương khác trên lâm sàng và siêu
âm UBM
Trong chấn thương xuyên tổn thương thường gặp là đục vỡ thể thủy
tinh. Khám lâm sàng hình ảnh thể thủy tinh đục vỡ chất nhân ra tiền phòng,
tiền phòng nông với khám đèn khe. Trên siêu âm UBM biểu hiện trong tiền
phòng có khối tăng âm, độ sâu tiền phòng giảm và đường tăng âm của bao
trước và bao sau dày lên có thể thấy được đường rách bao, vùng nhân thể thủy
tinh tăng mật độ phản âm. Kèm theo đo độ dày thể thủy tinh tăng.

UBM để đánh giá mắt bị chấn thương theo hai nhóm chấn thương nhãn cầu
kín và chấn thương nhãn cầu hở. Các tác giả đã thống kê một số tổn thương
trong chấn thương nhãn cầu hở là: đứt dây Zinn 54,8%, dính mống mắt
26,2%, đứt chân mống mắt 26,2%, dị vật nội nhãn 14,3%, đục vỡ thể thủy
tinh 11,9%, mất mống mắt 11,9%, lệch thể thủy tinh 11,6%, xuất huyết tiền
phòng 9,5% [25].
Deramo A.V., (1998) đã chứng minh tính hữu ích của siêu âm UBM
trong phát hiện và khoanh vùng dị vật nội nhãn phần trước nhãn cầu mà có
thể không được phát hiện bằng các phương pháp khác [28].
Kucukevcilioglu M., và cộng sự (2013) báo cáo trường hợp siêu âm
UBM đánh giá tình trạng rách bao sau, trước phẫu thuật thay thể thủy tinh do
chấn thương mà trên lâm sàng còn nghi ngờ [27].
Năm 2014 tác giả Kucukevcilioglu M., và cộng sự, đã báo cáo một
trường hợp, siêu âm UBM xác nhận sự kênh lên của giác mạc do khâu không
đúng hoàn toàn chiều dày giác mạc rách. Và đã đưa ra thảo luận là siêu âm
UBM có thể được sử dụng trong việc lập kế hoạch trước phẫu thuật của các
trường hợp có vết rách giác mạc phức tạp, nó có thể được ứng dụng để chỉnh
sửa lại vết khâu của các vết thương xuyên. Theo tác giả hiện nay đã giới thiệu
đầu dò siêu âm dùng một lần, bệnh nhân không cần phải nằm ngửa và không
cần phải dùng cốc siêu âm, kỹ thuật này có tiềm năng sử dụng như một công
cụ chẩn đoán trước phẫu thuật để hiểu rõ hơn cấu trúc của các vết thương
trong chấn thương phần trước nhãn cầu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status