Hướng dẫn ôn thi vào lớp 10 PTTH môn Ngữ văn - Pdf 43

HƯỚNG DẪN ÔN LUYỆN THI TUYỂN SINH
MÔN: NGỮ VĂN 9
PHẦN VĂN BẢN

A. PHẦN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
I. Truyện.
1. CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG - NGUYỄN DỮ
a. Tác giả:
- Nguyễn Dữ sống khoảng đầu thế kĩ XVI. Đây là thời kì mở đầu cho một chặng dài lịch sử tối tăm của xã
hội nước ta thời phong kiến.
- Ông là học trò giỏi của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm, chịu ảnh hưởng tiết tháo của người
thầy, sau khi đỗ hương cống, làm quan được một năm, Nguyễn Dữ lui về ẩn cư ở vùng núi Thanh Hoá.
- “ Truyền kì mạn lục” là tác phẩm duy nhất còn lại của ông. Đây được coi là áng “thiên cổ kì bút” với 20
truyện được viết theo thể truyền kì.
b. Tác phẩm:
b.1: Nguồn gốc và vị trí đoạn trích:
- Truyện lấy từ tích “ Vợ chàng Trương”
- Đại ý: Từ câu chuyện về nỗi oan nghiệt của Vũ Nương, tác giả nhằm ca ngợi phẩm chất đẹp đẽ của
người phụ nữ đồng thời phản ánh số phận của họ trong xã hội phong kiến.
b.2: Tóm tắt:
Xưa có chàng Trương Sinh cảm mến tư dung tốt đẹp của Vũ Nương nên đã đem trăm lạng vàng cưới về.
Cuộc sum họp chưa được bao lâu thì Trương Sinh đi lính. Vũ Nương ở nhà sinh con, chăm sóc mẹ già, lo
ma chay chu đáo. Trương Sinh trở về, nghe lời con nhỏ, nghi là vơ không chung thuỷ, một mực đổ oan,
đánh đập, đuổi đi. Vũ Nương bị oan, gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Một đêm Trương Sinh
cùng con nhỏ ngồi bên ngọn đèn dầu, đứa con chỉ bóng trên tường và nói đó là người hay tới đêm đêm.
Lúc đó chàng mới biết là vợ oan. Cùng làng có Phan Lang chạy loạn đã dạt vào động rùa, tình cờ gặp lại
Vũ Nương. Khi Phan Lang trở về, Vũ Nưong gửi chiếc hoa vàng cùng lời nhắn với Trương Sinh. Trương
Sinh lập đàn tràng giải oan trên bến Hoàng Giang.Vũ Nương trở về loang loáng trên sông rồi biến mất.
b3. Phân tích nhân vật:
- Nhân vật Vũ Nương: Cần làm rõ các luận điểm:
+ Dù ở hoàn cảnh nào, VN đều tỏ rõ là người phụ nữ đẹp người đẹp nết:

2: CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH – PHẠM ĐÌNH HỔ
1. Tác giả: (1768-1839) tục gọi là Chiêu Hổ, nguờ làng Đan Loan, huyện Đường Giang, tỉnh Hải Dương.
Ông là một nho sĩ sống trong thời chế độ phong kiến đã khủng hoảng trầm trọng nên có tư tưởng muốn ẩn
cư.
Ông có nhiều tác phẩm thuộc nhiều lĩnh vực. “ Vũ trung tùy bút” là một tác phẩm văn xuôi có giá trị gồm
88 chuyện nhỏ, viết theo thể tùy bút.
2. Tác phẩm:
a. Vị trí: Rút từ tập “ Vũ trung tùy bút”
b. Đại ý: Phản ánh cuộc sống xa hoa của chúa Trịnh và sự nhũng nhiễu của bọn quan lại đương thời.
c. Phân tích:
- Thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh:
+ Chúa cho xây nhiều cung điện, đình đài “ liên miên” ở các nơi để thỏa ý “ thích chơi đèn đuốc”, ngắm
cảnh đẹp…
+ Những cuộc dạo chơi tốn kém ở Tây Hồ diễn ra thường xuyên, huy động rất đông người hầu hạ, bày
nhiều trò giải trí lố lăng…
+ Việc thu vật “phụng thủ” thực chất là cướp đoạt những của quý trong thiên hạ về tô điểm cho nơi ở của
chúa.
+ Dung túng cho hành động tác oai tác quái của bọn hoạn quan, mặc kệ đời sống nhân dân cơ cực, khốn
đốn.
- Bọn hoạn quan hầu cận:
+ Đối với bề trên: ra sức nịnh bợ, bày ra những trò ăn chơi sa đọa, bịt mắt chúa bởi những thói xa
hoa,phồn thịnh giả tạo, khiến cho chúa bị hoàn toàn bị mê muội.
+ Đối với nhân dân: ỷ vào nhà chúa mà hoành hành, tác oai tác quái. Thủ đoạn của chúng được tái hiện
trong tác phẩm là hành động vừa ăn cướp vừa la làng. Người dân vì thế mà bị cướp của 2 lần, bằng không
cũng phải tự tay hủy bỏ của quý của mình. Nhà của tác giả thuộc dòng dõi quý tọc cũng trở thành nạn
nhân của chúng.
- Thái độ của tác giả:
+Kín đáo bộc lộ sự không đồng tình trước sự xa hoa, ăn chơi vô lối của chúa Trinh. Cảm nhận được dấu
hiệu chẳng lành “ kẻ thức giả cho đó là triệu bất tường”
+ Bất bình trước hành động tác oai tác quái của bọn hoạn quan, tỏ sự xót xa kín đáo tới tình cảnh và cuộc

+ Ngời sáng bởi hình ảnh oai phong lẫm liệt trong trận đánh. Ông không chỉ là một tổng chỉ huy hoạch
định phương lược, tổ chức quân sĩ mà còn là người trực tiếp chỉ huy một mũi tiến công. Cưỡi voi đốc
thúc, xông pha tên đạn, bày mưu tính kế… Đội quân của vua Quang Trung không phải toàn là lính thiện
chiến, lại vừa trải qua những ngày hành quân cấp tốc, vậy mà dưới sự chỉ huy của vị tổng chỉ huy tài tình
này đã đánh những trận thật đẹp, áp đạo kẻ thù, khiến chúng không kịp trở tay.
=> Ông chính là linh hồn của trận đánh.
- Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh.
+ Trước khi vào trận đánh: tướng kiêu căng, tự phụ còn lính thì vô tổ chức, vô kỉ luật.
+ Khi vào trận đánh: tướng bất tài, “ sợ mất mật…chuồn trước qua cầu phao”
Quân nhốn nháo, bỏ chạy toán loạn, dẫm đạp lên nhau mà chết.
- Số phận thảm hại của bọn vua tôi bán nước Lê Chiêu Thống:
+ Vì ngai vàng, vì lợi ích của dòng họ mà phản nước hại dân, đặt vận mệnh của cả dân tộc vào tay kẻ thù.
+ Chịu chung số phận bi thảm với kẻ cướp nước, mãi mãi trở thành kẻ vong quốc .
b.4: Nghệ thuật:
+cách tái hiện chân thực, tôn trọng tính khách quan sự kiện lịch sử,
+ giọng kể linh hoạt: hào sảng, ngưỡng mộ khi kể về Quang Trung, mỉa mai khinh bỉ khi miêu tả quân
tướng nhà Thanh, xót xa, khi kể về cuộc chạy trốn của vua tôi Lê Chiêu Thống.
+ Bút pháp tương phản khi khắc họa nhân vật.
II. Truyện thơ:
1: TRUYỆN KIỀU – NGUYỄN DU:
a. Tác giả:
- Nguyễn Du (1765-1820), tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên; quê ở làng Tiên Điền- Nghi Xuân- Hà Tĩnh.
- Thời đại: xã hội có nhiều biến động dữ dội: sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến, phong
trào khởi nghĩa nổi dậy khắp nơi, đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn dẹp được thù trong giặc ngoài.
- Cuộc đời:
+Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học.
+ Có tài văn chương thiên bẩm, cuộc đời gặp nhiều thăng trầm, lao đao.
+ Là người hiểu biết sâu rộng, có vốn sống phong phú. Ông còn là người có trái tim giàu tình yêu thương.
Và là một thiên tài văn học của dân tộc ta.
- Sự nghiệp sáng tác: Đồ sộ cả về chữ Hán và chữ Nôm. Đỉnh cao là Truyện Kiều (Đoạn trường tân

Đặc biệt là tài đàn “ nghề riêng ăn đứt”.
+ Tâm hồn: Cung đàn “ bạc mệnh” mà Kiều tự sáng tác chính là sự ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa
sầu đa cảm.
=> So với Thúy Vân, tài sắc của Thúy kiều đều vượt trội, hoàn hào khiến cho tạo hóa cũng phải hờn
ghen=> Dự cảm về số phận éo le, chìm nổi. “ tài hoa bạc mệnh”
Một vừa hai phải ai ơi
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen
d. Nghệ thuật: sử dụng bút pháp tượng trung ước lệ, đối, nghệ thuật đòn bẩy khi khắc họa chân dung nhân
vật.
2.2:CẢNH NGÀY XUÂN.
a. Vị trí đoạn trích: phần đầu: Gặp gỡ và đính ước.
b. Đại ý: Bức tranh thiên nhiên ngày xuân xinh đẹp và cảnh lễ hội trong tiết thanh minh.
c. Phân tích:
- Bốn câu đầu: Khung cảnh ngày xuân:
+ Hai câu đầu: Vừa nói về thời gian vừa gợi không gian của ngày xuân. Trong tháng cuối cùng của mùa
xuân, những cánh én vẫn rộn ràng bay liệng như thoi đưa giữa bầu trời trong sáng “ thiều quang”
+ Hai câu tiếp: Là bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân. Hình ảnh điểm xuyết, màu sắc hài hòa tới mức tuyệt
diệu => Gợi lên vẻ đẹp của mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi, tràn trề sức sống.
- Tám câu tiếp: Khung cảnh lễ hội
+ lễ: tảo mộ: với những hình ảnh thoi vàng vó, tro tiền giấy…: gợi lên không khí tưởng nhớ thành kính.
+ hội: đạp thanh.
cách dùng từ 2 âm tiết (từ láy, từ ghép)là những danh từ, động từ, tính từ: gần xa, nô nức, yến anh, tài tử,
giai nhân… cách so sánh” ngựa xe như….nêm”gợi lên không khí lễ hội rộn ràng, đông vui, ta thấy chị em
Thúy kiều như hòa vào cuộc chơi.
- Sáu câu cuối: Khung cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.
+ Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: nắng nhạt, khe nước nhỏ, nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang.
Tuy nhiên không còn nhộn nhịp của lễ hội mà đang nhạt dẩn, lặng dần của buổi chiều tà.
+ Cách dùng một loạt từ láy: tà ta, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà
còn bộc lộ tâm trạng con người.. Tạo nên cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày xuân đang còn
mà sự linh cảm về điều sắp xảy ra đã xuất hiện. Dòng nước uốn quanh “nao nao” như báo trước ngay sau

c. Phân tích.
- Đoạn trích đã lột tả được chân tướng của Mã giám sinh:
MGS đến với tư cách là một chàng sinh viên trường Quốc tử giám tới hỏi Kiều về làm lẽ. Nhưng đây chỉ
là một màn kịch vấn danh, thực chất là một cuộc mua bán. Chân tướng của anh chàng họ Mã dần dần lộ
diện:
+ Diện mạo: “ Quá niên…bảnh bao” chải chuốt, trai lơ, không hợp với tuổi tác
+ Lời nói: cộc lộc, vô lẽ, mơ hồ khi giới thiệu về bản thân.
+ Cử chỉ: “ trước thầy sau tớ lao xao”, “ghế trên ngồi tót sỗ sàng” => Sỗ sàng, thô lỗ
=> Với bút pháp tả thực, ngôn ngữ miêu tả trực diện, MGS lộ diện là một kẻ vô học, thô lỗ, trơ trẽn.
+ Bản chất: Hắn ta điển hình với bản chất con buôn lưu manh, chuyên nghiệp. MGS coi TK như một món
hàng để có thể xét nét, cân đong đo đếm:
Mối càng vén tóc bắt tay
Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ
Cò kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá…
MGS điển hình cho loại người buôn thịt bán người trong XH truyện Kiều. Vì đồng tiền, chúng sẵn sàng
chà đạp lên nhân phẩm của con người,
- Hình ảnh tội nghiệp của Thúy Kiều.
+ Nỗi mình thên tức nỗi nhà
Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng
+ Ngừng hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày
+ Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.
=>Bút pháp tượng trưng, ước lệ, từ ngữ gợi tả tâm trạng, câu thơ thể hiện nỗi sượng sùng, ê chề, tủi cực
của Thúy Kiều. Song nàng vẫn hoàn toàn câm lặng chịu đựng vì gia đình=> Tấm lòng hiếu thảo, đức hi
sinh vì gia đình của Thúy Kiều
- Tấm lòng nhân đạo của tác giả:
+ Thái độ kinh bỉ, căm phẫn sâu sắc bọn buôn người, tố cáo thế lực đồng tiền chà đạp lên nhân phẩm con
người.
+ Niềm thương cảm sâu sắc trước nỗi đau đớn của Thúy Kiều.
c. Nghệ thuật:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status