tiểu luận cao học Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh lào cai - Pdf 43

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghèo đói là vấn đề xã hội mang tính toàn cầu. Hiện nay, trên thế giới có
khoảng 1,3 tỷ người đang sống trong cảnh đói nghèo, kể cả nước có thu nhập cao
nhất thế giới vẫn có một tỷ lệ dân số sống trong tình trạng nghèo nàn về cả vật chất
và tinh thần. Trong xu thế hợp tác hoá và toàn cầu hoá hiện nay thì vấn đề xoá đói
giảm nghèo không còn là trách nhiệm của một quốc gia mà đã trở thành mối quan
tâm của cả cộng đồng quốc tế. Sự nghèo đói và gia tăng giàu nghèo đã trở thành
một trong những nguyên nhân gây nên những bất ổn xã hội ở nhiều quốc gia trên
thế giới. Do vậy vấn đề xoá đói giảm nghèo luôn có ý nghĩa lớn về kinh tế - chính
trị - văn hóa sâu sắc. Trong những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới toàn
diện do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế nước ta luôn đạt được tốc độ
tăng trưởng cao và tương đối ổn định, đời sống của nhân dân được nâng lên một
cách rõ rệt, công tác xoá đói giảm nghèo được Đảng ta coi là nhiệm vụ chiến lược
quan trọng vừa trước mắt, vừa lâu dài để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”; đồng thời xoá đói giảm nghèo toàn diện và
bền vững luôn được xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Với nhiều chủ trương, chính sách về xoá đói giảm nghèo, công tác xoá
đói giảm nghèo của nước ta đã thu được thành tựu đáng kể, có ý nghĩa to lớn
cả về mặt kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, nước ta
vẫn là một nước nghèo, mặt trái của nền kinh tế thị trường tiếp tục làm cho
phân hoá giàu nghèo gia tăng, sự phát triển không đồng đều giữa các vùng
miền đang là những thách thức lớn, dẫn đến công tác xoá đói giảm nghèo
còn nhiều tồn tại và hạn chế, vấn đề đói nghèo đang trở thành một trở ngại
lớn cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung và phát
triển kinh tế - xã hội ở từng tỉnh, địa phương nói riêng.
Lào Cai là tỉnh vùng cao, biên giới, nhiều dân tộc cùng sinh sống. Nhận
thức rõ vai trò, ý nghĩa tầm quan trọng của công tác xoá đói giảm nghèo của


3. Nhiệm vụ của đề tài:
2


Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghèo đói và công tác
xoá đói giảm nghèo, phân tích thực trạng đói nghèo. Nguyên nhân nghèo đói,
đánh giá kết quả chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo tỉnh Lào Cai. Đề
xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh việc thực hiện công tác xoá đói giảm
nghèo tỉnh Lào Cai.
4. Cơ sở lý luận
Tiểu luận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề nâng cao
đời sống nhân dân và xoá đói giảm nghèo. Các Nghị quyết của Đại hội Đảng
bộ tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2006-2010, 2011-2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
phương pháp lôgíc kết hợp với các phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp,
và những tư liệu thực tiễn của các cơ quan, ban ngành kinh tế, xã hội, tổng
hợp, đoàn thể của tỉnh để phân tích, đánh giá việc thực hiện các chủ trương
chính sách xoá đói giảm nghèo. Kết hợp với việc chọn lọc những số liệu, dữ
liệu có liên quan để luận giải các vấn đề mà đề tài đặt ra.
6. Ý nghĩa của tiểu luận
Tiểu luận phân tích làm rõ việc nhận thức những quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nâng cao đời sống nhân
dân và xoá đói giảm nghèo. Các Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai
nhiệm kỳ 2006-2010, 2011-2015. vận dụng quan điểm, tư tưởng đó vào thực
tiễn Việt Nam. Đồng thời, qua quá trình viết nhằm trang bị cho bản thân
những kiến thức hết sức cần thiết để phục vụ cho quá trình học tập và công
tác tại địa phương sau này.
7. Kết cấu của tiểu luận

đề đói nghèo trên toàn cầu. Hưởng ứng theo Liên hợp quốc hầu hết các nước
nghèo, các nước đang phát triển đã có hành động và chiến lược cụ thể với
mục tiêu giảm nghèo quốc gia. Chính phủ mỗi nước căn cứ vào thực trạng đói
nghèo và tình hình phát triển kinh tế để xây dựng giải pháp và các bước tiến
4


hành cụ thể cho quốc gia mình. Việt Nam coi đây là cuộc vận động lớn phù
hợp với mọi tầng lớp nhân dân nên đã lấy ngày 17/10 hàng năm là ngày “cả
nước vì người nghèo”.
1.2. Khái niệm, tiêu chí và chuẩn mực đánh giá đói nghèo của thế giới
Khái niệm:
Tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á-Thái Bình Dương do
ESCHP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9 năm 1993 đã đưa ra định
nghĩa: Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và
thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được
xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập
quán của địa phương.
Về mặt kinh tế nghèo đồng nghĩa với khổ, nghèo túng, túng thiếu. Trong
hoàn cảnh nghèo thì người nghèo, hộ nghèo cũng chỉ vật lộn với cuộc sống
hàng ngày về kinh tế vật chất, biểu hiện trực tiếp nhất là ở bữa ăn. Họ không
thể vươn tới những nhu cầu về văn hoá, tinh thần hoặc những nhu cầu cần
phải cắt giảm tới mức tối thiểu gần như không có. Điều này thể hiện rõ ở
nông thôn với hiện tượng trẻ em thất học, các hộ nông dân nghèo không có
khả năng hưởng thụ văn hoá, chữa bệnh khi ốm đau, xây dựng nhà ở.
Để hiểu một cách chi tiết hơn, người ta còn phân chia nghèo thành 2 loại
là nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối.
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng
thoả mãn những nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống, đó là sự thiếu hụt so
với một mức sống tối thiểu. Nghèo tuyệt đối thường được tính toán dựa trên nhu

mức độ phát triển chung của một nước do với nước khác. Mặc dù vậy, thước
đo về thu nhập quốc dân bình quân đầu người cho đến nay vẫn được thừa
nhận và là một tiêu thức phổ biến để đánh giá trình độ của một quốc gia.
Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo
của các quốc gia bằng mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người/năm với 2
cách tính:
- Theo phương pháp ATLAS - Tỷ giá hối đoái và tính theo USD.
6


- Theo phương pháp PPP (purchasinh power parity) là phương pháp sức
mua tương đương cũng được tính bằng USD.
Theo cách tính này, người ta phân tích thành 6 loại giàu - nghèo của các
nước trên cơ sở thu nhập bình quân đầu người như sau:
+ Trên 25.000 USD/năm là nước cực giàu;
+ Từ 20.000 USD đến 25.000 USD/ năm là nước giàu;
+ Từ 10.000 USD đến 20.000 USD/năm là nước khá giàu;
+ Từ 2.500 USD đến 10.000 USD/năm là nước trung bình;
+ Từ 500 USD đến 2.500 USD/năm là nước nghèo;
+ Dưới 500 USD/năm là nước cực nghèo.
Hiện nay, tiêu chí xác định được điều chỉnh dưới 900 USD/năm là cực
nghèo và người có mức sống dưới 2 USD/ngày là người nghèo.
Ngoài tiêu thức trên để xác định tình trạng đói nghèo có thể dùng một số
tiêu thức khác như: Tình trạng tái phần của hộ (nhà cửa, tư liệu sản xuất, sinh
hoạt); vị trí xã hội, ngành nghề, phong tục tập quán, tín ngưỡng,...
Xuất phát từ quan điểm muốn tăng trưởng kinh tế bền vững phải gắn với
thực hiện tốt các vấn đề xã hội, đặc biệt là các vấn đề về sức khoẻ, giáo
dục...cho nên chỉ tiêu GNP bình quân đầu người chưa đủ để đánh giá mức độ
giàu nghèo và mức độ giàu nghèo và mức độ phát triển của một quốc gia. Vì
vậy, Liên hợp quốc đã đưa ra khái niệm “chỉ số phát triển của con người” gọi

+ Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối
thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những bộ
phận dân cư hàng năm đứt bữa, thiếu ăn từ 1 đến 3 tháng, phải đi vay nợ và
thiếu khả năng trả nợ.
Cách phân chia nghèo và đói tương tự như phân chia nghèo tương đối và
tuyệt đối ở một số nước đang sử dụng. Như vậy ở Việt Nam nghèo đói là chỉ
tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dành toàn bộ cho ăn, phần
tích luỹ hầu như không có. Ngoài ra các nhu cầu tối thiểu khác như: ở, mặc, y
tế, giáo dục, giao tiếp chỉ được đáp ứng một phần ít ỏi không đáng kể.
Tiêu chí đánh giá đói nghèo ở Việt Nam
Việc đánh giá về đói nghèo ở Việt Nam thường dự vào các chỉ tiêu sau:
8


+ Chỉ tiêu thu nhập: Thu nhập bình quân một người/tháng (hoặc năm)
được đo bằng chỉ tiêu giá trị (tiền) hay hiện vật quy đổi, nếu là hiện vật
thường dùng lương thực (gạo) để đánh giá.
+ Chỉ tiêu về nhà ở và tiện nghi sinh hoạt: Những người nghèo thường
sống trong những căn hộ tồi tàn, đồ dùng sinh hoạt ngoài giường gỗ, tre, phản
và vài thứ khác ở dưới mức trung bình về lượng và tồi tàn về chất, ngoài ra
không còn gì có giá trị.
+ Chỉ tiêu về tư liệu sản xuất: Những người nghèo đói vừa có ít tư liệu
sản xuất, vừa thô sơ về tư liệu sản xuất, đất đai vườn ao hầu như không có.
+ Chỉ tiêu về vốn: Những người nghèo đói không có vốn để dành, họ
thường phải vay nợ và những người đói gay gắt lại thường phải vay nợ để
mua lương thực cứu đói.
- Chuẩn nghèo ở Việt Nam
Để xác định chuẩn mực nghèo cho các thời kỳ, ở nước ta hiện nay đang
áp dụng một phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp tính chuẩn nghèo của Tổng cục thống kê: Tổng cục thống

(trạm y tế, trường tiểu học, điện sinh hoạt, đường ô tô tới trung tâm xã, chợ xã
hoặc liên xã, nước sạch sinh hoạt).
Giai đoạn 2006-2010 (Tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày
08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ)
Do đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, cùng với định
hướng chung là từng bước tiếp cận với trình độ của các nước đang phát triển
trong khu vực, nên chuẩn nghèo phải được điều chỉnh lại, trong đó có tính đến
các nhân tố ảnh hưởng và tiếp cận chuẩn nghèo do các tổ chức quốc tế khuyến
cáo, cụ thể hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người như sau:
+ Khu vực thành thị từ 260.000đ/người/tháng trở xuống.
+ Khu vực nông thôn từ 200.000đ/người/tháng trở xuống.
Nếu tính theo chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2006-2010, thì
nước ta còn 3,9 triệu hộ, chiếm 22% số hộ trong toàn quốc, các vùng có tỷ
10


nghèo cao là vùng Tây Bắc (42%) và Tây Nguyên (38%); vùng có tỷ lệ nghèo
thấp nhất là vùng Đông Nam bộ (9%).
Giai đoạn 2011-2015 (Tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày
30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ)
+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng trở xuống.
+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng trở xuống.
Đến giai đoạn này còn đưa ra tiêu chí đối với hộ cận nghèo:
+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ
401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng.
+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000
đồng đến 650.000 đồng/người/tháng.
1.2. Quan điểm của Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng,

đã phân tích những mâu thuẫn kinh tế - xã hội gay gắt trong thời kỳ chủ nghĩa
tư bản tự do cạnh tranh chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, lũng đoạn
đầu thế kỷ XX - đó là chủ nghĩa đế quốc, đây là thời kỳ tích tụ trầm trọng hơn
sự nghèo đói cùng cực của giai cấp vô sản và những người lao động ở khắp
các châu lục trên thế giới. Với bản "Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc
địa" (1920), Lênin đã kêu gọi giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức đoàn
kết đấu tranh thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa tư bản bằng cách mạng vô
sản do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Sau cách mạnh xhcn tháng Mười
Nga (1917), trong bước chuyển từ "chính sách cộng sản thời chiến" sang
"chính sách kinh tế mới" (Nep) Lê Nin là người chủ trương phát triển kinh tế
hàng hoá, dùng lợi ích vật chất - coi đó như là một cá nhân kích thích người lao
động, giải phóng sức lao động, phát triển kinh tế. Đó là một trong những biện
pháp để xoá bỏ căn bản tình trạng đói nghèo trong công cuộc xây dựng xã hội
mới - xã hội chủ nghĩa.
Tiếp thu vận dụng sáng tạo nguyên lý chủ nghĩa Mác-Lê Nin, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã xây dựng nên lý luận cách mạng giải phóng dân tộc, chống
chủ nghĩa thực dân, người đã tìm ra con đường cho dân tộc Việt Nam là độc
12


lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, mục tiêu lớn lao của con đường cách
mạng đó là đấu tranh dành độc lập tự do cho các dân tộc mang lại hạnh phúc ấm
no cho toàn dân.... Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là làm cho
dân giàu, nước mạnh, mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do, người
còn cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là làm cho dân đủ ăn đủ mặc ngày càng sung
sướng, ai nấy được học hành, ốm đau có thuốc.... tóm lại xã hội ngày càng tăng,
tinh thần ngày càng tốt đó là chủ nghĩa xã hội”.
Chính vì vậy, ngay từ khi Việt Nam mới giành được độc lập (năm 1945),
chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đói nghèo như một thứ “giặc” cũng như giặc
dốt, giặc ngoại xâm, nên đã đưa ra mục tiêu phấn đấu làm sao để dân lao động

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng chống đói nghèo, về chăm no đời sống
nhân dân luôn là cơ sở lí luận quan trọng cho mọi chủ trương đường lối, chính
sách xoá đói giảm nghèo của đảng và nhà nước ta.
1.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xoá đói giảm nghèo
Sau cách mạng tháng Tám thành công, thấm nhuần tư tưởng của Đảng về
diệt giặc đói, khắp mọi vùng dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất
phát triển kinh tế, đặc biệt là sau năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất
đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội đời sống của nhân
dân lao động đã không ngừng được cải thiện và nâng cao. Nhiệm vụ phát triển
kinh tế – xã hội luôn là vấn đề cốt yếu của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
với tư tưởng xuyên suốt là tăng trưởng và phát triển kinh tế phải đi đôi với
việc giải quyết các vấn đề xã hội, từng bước thực hiện công bằng xã hội trong
điều kiện kinh tế cho phép, trong đó vấn đề xoá đói giảm nghèo được xem là
tính chiến lược nằm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Vấn đề này đã được các Nghị quyết Đại hội khoá IV, V, VI của Đảng đề cập
tới. Đặc biệt đến Đại hội VII (1991) của Đảng, trong chiến lược ổn định và
phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 đã khẳng định: “Đảng ta lãnh đạo
toàn dân xây dựng một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hoá, có kỷ
cương, xoá bỏ áp bức bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc” và chỉ rõ “ lấy phân phối theo lao động làm hình thức
chính, khuyến khích làm giàu đi đôi với giảm số người nghèo, nâng cao phúc
14


lợi xã hội, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế”; “có chính sách bảo trợ và
điều tiết hợp lý thu nhập giữa các bộ phận dân cư, các ngành và các vùng”.
Xoá đói giảm nghèo thể hiện: Đường lối chính trị, bản chất giai cấp đúng đắn
của Đảng và Nhà nước ta. Đại hội VII xác định: “Tăng trưởng kinh tế, gắn
liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển, công
bằng xã hội thể hiện cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn cả khâu

vốn trong nước và ngoài nước, quản lý chặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng và có
hiệu quả”. Mục tiêu của chương trình này là “giảm tỷ lệ nghèo đói tổng số hộ
của cả nước từ 20 – 25% hiện nay xuống còn khoảng 10% vào năm 2000.
- Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo 1998 – 2000 (gọi
tắt là chương trình 133). Nhằm thực hiện hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho xã
nghèo; giải quyết đất canh tác, định cư, di dân và vùng kinh tế mới; hỗ trợ
đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn; hỗ trợ sản xuất phát triển ngành nghề; hỗ
trợ cho người nghèo về y tế; hỗ trợ người nghèo trong giáo dục và đào tạo;
hướng dẫn cách làm ăn cho người nghèo kết hợp với khuyến nông – lâm –
ngư; đào tạo các hộ làm công tác xoá đói giảm nghèo và cán bộ xã nghèo
miền núi; tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo.
- Chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền
núi, vùng sâu, vùng xa (gọi tắt chương trình 135). Chương trình 135 có tầm
chiến lược lâu dài hơn với thực tiễn, nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh
thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu,
vùng xa, tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng
nghèo, lạc hậu, chậm phát triển, hoà đồng với sự phát triển của cả nước, góp
phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng. Để đạt mục đích đó
chương trình xác định 5 nhiệm vụ chủ yếu sau là: Quy hoạch dân cư; phát
triển sản xuất; xây dựng trung tâm cụm xã; xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu;
đào tạo cán bộ.
Với những thành tựu và hạn chế sau khi thực hiện 2 chương trình
133,135 của chính phủ, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
(tháng 6/2001) một lần nữa khẳng định chủ trương cơ bản của xoá đói giảm
16


nghèo là: “Thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo thông qua những biện
pháp cụ thể, từng địa phương sớm đạt mục tiêu không còn hộ đói nghèo.
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010 đã cụ thể hoá chủ

nước ở Việt Nam, có thể khái quát 5 quan điểm lớn đối với công cuộc xoá đói
giảm nghèo.
Một là, xoá đói giảm nghèo cần phải gắn với tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội.
Hai là, xoá đói giảm nghèo là công việc của toàn xã hội, là nhiệm vụ
chính trị, kinh tế, văn hoá của Đảng, toàn dân, của tất cả mọi cấp, mọi ngành.
Do đó cần huy động cho được sức mạnh tổng hợp của mọi nguồn lực trong
nước và quốc tế, nhà nước và nhân dân, của các tổ chức doanh nghiệp và của
bản thân người nghèo.
Ba là, xoá đói giảm nghèo là chủ trương quyết sách lớn của Đảng và
Nhà nước ta. Chương trình xoá đói giảm nghèo có ý nghĩa toàn diện về kinh
tế - xã hội - chính trị - an ninh quốc phòng, mang tính nhân đạo, tiến bộ, công
bằng xã hội, thuộc về chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta.
Bốn là, xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, cần tiến hành
đồng bộ, ăn khớp với các chương trình quốc gia, với kinh tế - xã hội khác.
Năm là, cần hỗ trợ trực tiếp, có ưu đãi cho người nghèo về tư liệu sản
xuất, kiến thức kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, các dịch vụ kinh tế - xã hội ... Trên
quan điểm tiếp sức chứ không phải cấp phát cho không, cứu trợ và hỗ trợ để
người nghèo phát huy nội lực vươn lên tự cứu lấy mình.

18


CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP, PHƯƠNG HƯỚNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở TỈNH LÀO CAI
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Tỉnh Lào Cai nằm ở phía Bắc Tổ quốc, cách thủ đô Hà Nội 296 km theo
đường sắt và 345 km theo đường bộ, phía Bắc tiếp giáp tỉnh Vân Nam Trung

phì tương đối cao, bao gồm 10 nhóm với 30 loại đất chính phù hợp với nhiều
loại cây trồng. Những đặc trưng đó đã tạo cho Lào Cai một môi trường thiên
nhiên rất đa dạng, nhiều hệ động thực vật phong phú với những nguồn gen
quý hiếm và các tiểu vùng khí hậu nhiệt đới, cận ôn đới, ôn đới rất thích hợp
cho phát triển kinh tế đặc biệt là nông lâm nghiệp và du lịch.
Về tài nguyên khoáng sản, Lào Cai giàu tiềm năng, ưu thế hơn các tỉnh
miền núi phía Bắc, có khoảng 35 loại khoáng sản và 130 điểm quặng đã
được phát hiện, các mỏ khoáng sản có trữ lượng lớn tập trung ở vùng thấp
thuận lợi cho khai thác và vận chuyển. Nguồn thuỷ năng dồi dào với 4
sông chính và trên 100 suối và hàng nghìn khe lạch khác có trữ lượng nước
mặt khoảng 9,5 tỷ m3.
Xuất phát từ những đặc điểm tự nhiên đó, có thể nói Lào Cai có các lợi
thế cơ bản sau:
Một là, khí hậu rất đa dạng, một số vùng đất đai màu mỡ phù hợp phát
triển nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp, hoa, rau.
Hai là, Lào Cai có cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu quốc gia, là điều kiện
rất thuận lợi cho hội nhập, giao lưu phát triển kinh tế và văn hoá giữa Việt
Nam và Trung Quốc.
Ba là, có cảnh quan thiên nhiên và văn hoá rất phong phú, đa dạng tạo
nên nguồn lực lớn cho phát triển đa dạng các loại hình du lịch (sinh thái, văn
hoá, thể thao, nghỉ dưỡng,...).
20


Bốn là, giàu tiềm năng để phát triển công nghiệp, gồm: Tài nguyên
khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên rừng.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế- xã hội
Lào Cai có 25 dân tộc; dân tộc kinh chiếm 33%; dân tộc thiểu số chiếm
64,5%, trong đó: Mông: 23,77%, Tày: 15,30%, Dao: 14,38%, Giáy: 4,65%,
Nùng: 4,16%, Thái: 8,7%, còn lại là các dân tộc khác; có những dân tộc đặc

và ổn định, có tính chất đột phá trong nhiều lĩnh vực:
Lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có sự chuyển biến
tích cực. Các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh bước đầu được khai thác, đặc biệt
là tiềm năng về thuỷ điện, khoáng sản, chế biến lâm sản. Đã tạo dựng được
nhiều cơ sở công nghiệp đặt nền móng cho phát triển trong những năm tới như
khai thác và chế biến apatít, fenspat, quặng sắt, quặng đồng, thuỷ điện, sản
xuất xi măng, gạch, chế biến nông lâm sản. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội
được tập trung đầu tư, có bước phát triển vượt bậc, tạo nền tảng quan trọng
cho giai đoạn tới. Lĩnh vực thương mại - dịch vụ có bước phát triển tương đối
nhanh. Các ngành dịch vụ có bước chuyển dịch tích cực theo hướng đáp ứng
tốt hơn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư. Kinh
tế cửa khẩu, du lịch tiếp tục được khẳng định là ngành kinh tế mũi nhọn của
tỉnh. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2010 đạt 1.800 tỷ đồng.
Tuy vậy Lào Cai cũng như một số tỉnh miền núi phía Bắc khác có
những khó khăn cơ bản đó là: Địa hình phức tạp nên giao thông đi lại khó
khăn, diện tích đất canh tác nông nghiệp thấp là trở ngại rất lớn cho sản xuất
nông nghiệp. Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, trình độ dân trí thấp và
không đồng đều, trong nhân dân còn nhiều tập quán sản xuất và sinh hoạt lạc
hậu; hơn nữa khi bước vào thời kỳ đổi mới Lào Cai còn là một trong những
tỉnh bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Do đó bên cạnh những mặt đạt được trong
phát triển kinh tế xã hội còn một số mặt hạn chế, yếu kém, đó là: kinh tế tăng
trưởng chưa vững chắc, chất lượng tăng trưởng thấp, qui mô nền kinh tế còn
nhỏ bé. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của tỉnh và của từng ngành còn
chậm hơn so với tiềm năng thế mạnh của địa phương. Tổ chức thực hiện một
22


số lĩnh vực hiệu quả chưa cao. Văn hoá xã hội còn một số vấn đề bức xúc
chưa được giải quyết có hiệu quả, tỷ lệ đói nghèo còn cao.
2.2. Thực trạng nghèo đói ở tỉnh Lào Cai giai đoạn năm 2006 -2010.

- Thiếu vốn: Ở đây là thiếu vốn tự có đầu tư cho sản xuất kinh doanh.
Các hộ thường đã khó khăn, thu nhập ít và không ổn định lại phải lo nhiều
khoản chi tiêu khác rất khó để dành tiền đầu tư cho thâm canh phát triển sản
xuất. Một số hộ không có nhu cầu vay vốn, ngoài ra một số không dám vay vì
sợ rủi ro không có tiền trả lãi ngân hàng; một số thuộc diện đói mắc tệ nạn xã
hội hoặc không biết cách làm ăn thì không thuộc diện được vay do không có
người bảo lãnh.
- Đông con, thiếu lao động, đông người ăn theo là hiện tượng khá phổ
biến. Bình quân nhân khẩu hộ nghèo là 5,59 khẩu/hộ cao hơn bình quân
chung toàn tỉnh 0,39 khẩu/hộ, trong đó ở các xã vùng III bình quân là 5,9
khẩu/hộ.
- Thiếu đất sản xuất: Một số do nhiều đời để lại, địa bàn sinh sống thuộc
nơi ít đất sản xuất trong khi đó lại định cư tập trung
- Sản xuất có thu nhập thấp và ít hoạt động tạo thu nhập
- Tai nạn rủi ro, thường xuyên ốm đau bệnh tật, gia đình có người vướng
mắc các tệ nạn xã hội và nguyên nhân bất khả kháng khác như không có nghề
nghiệp mất hoặc không tìm được việc làm là hiện tượng phổ biến ở thành thị.
Do phong tục tập quán lạc hậu, trình độ dân trí thấp, lười lao động, do địa bàn
sinh sống xa xôi cách biệt đi lại khó khăn,…
2.3 Thực trạng đói nghèo từ năm 2010 đến 2012 (theo chuẩn mới)
*Năm 2010:Theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐTTg ngày 30/01/2011 của Chính phủ, số hộ nghèo trên địa bàn là 61.041 hộ,
chiếm 43% tổng số hộ trên địa bàn. Số hộ cận nghèo trên địa bàn là: 20.127
hộ, chiếm 14,18% tổng số hộ trên địa bàn. Số nhân khẩu nghèo là 289.945
khẩu, bình quân 4,75 khẩu/hộ.
24


- Số hộ nghèo có chủ hộ là người dân tộc thiểu số: 50.194 hộ, chiếm
82,23% tổng số hộ nghèo toàn tỉnh. Một số dân tộc có tỷ lệ hộ nghèo cao so
với tổng số hộ là người dân tộc đó trên địa bàn như: Dân tộc Mông (83,25%),


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status