LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, nền kinh tế của toàn thế giới có nhiều sự thay đổi, các quốc gia
dần chuyển mình để hoà nhập với xu thế toàn cầu hoá. Cùng với sự phát triển
của nền kinh tế có nhiều vấn đề bất cập xảy ra. Một trong những vấn đề luôn
song hành với nền kinh tế đặc biệt là với thị trường tài chính tiền tệ là lạm
phát. Lạm phát là một trong những vấn đề kinh tế vĩ mô đã trở thành mối
quan tâm lớn nhất của các nhà chính trị và của cả dân chúng. Lạm phát được
coi như là một căn bệnh thế kỉ của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết
sức phức tạp đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể
đạt được kết quả khả quan nhất. Lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
quốc dân, đặc biệt là giới lao động,chống lạm phát không chỉ là việc của
doanh nghiệp, của một cá nhân mà còn là nhiệm vụ của chính phủ.
Ở Việt Nam,hiện nay về việc kiềm chế lạm phát, giữ vững sự phát triển
ổn định của nền kinhtế là một mục tiêu quan trọng trong việc phát triển kinh
tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.
Do đó xuất phát từ tính cấp thiết của việc nghiên cứu lạm phát, đã có
nhiều nhà kinh tế học, nhà quản lý đưa ra những giải pháp nhất định. Bài luận
sau đây sẽ cho chúng ta cái nhìn khái quát nhất về “ vấn đề lạm phát, thực
trạng và giải pháp ở Việt Nam hiện nay”
NỘI DUNG
I.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LẠM PHÁT
1. Khái niệm lạm phát
Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất
hiện khi các yêu cầu của các quy luật kinh tế hàng hoá không được tôn trọng,
nhất là quy luật lưu thông tiền tệ. Ở đâu còn sản xuất hàng hoá còn tồn tại
những quan hệ hàng hoá tiền tệ thì ở đó còn tiềm ẩn khả năng xảy ra lạm phát
và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật của lưu thông tiền tệ bị vi phạm.
Phương pháp chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội
Chỉ số giảm phát GDP là chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá
chung của tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước. Chỉ số điều
chỉnh GDP cho biết một đơn vị GDP điển hình của kỳ nghiên cứu có mức giá
bằng bao nhiêu phần trăm so với mức giá của năm cơ sở.
3. Phân loại lạm phát
Khi tốc độ tăng giá lớn hơn tốc độ tăng tiền nghĩa là tiền tăng thêm ít mà
giá cả tăng lên thì nhiều. Trong trường hợp này, lạm phát không còn là hiện
tượng của tiền tệ nữa mà là tình trạng nguy hiểm, bi đát của nền kinh tế tài
chính.
Có nhiều cách để phân loại lạm phát. Dựa trên các tiêu thức khác nhau
sẽ có các loại lạm phát khác nhau.
a) Căn cứ vào định lượng gồm:
- Lạm phát vừa phải(Reasonable Inflation) :Còn gọi là lạm phát một con
số, có tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả
biến động tương đối. Trong thời kì này nền kinh tế hoạt động một cách bình
thường, đời sống của người lao động ổn định. Sự ổn định đó được biểu hiện :
Giá cả tăng chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xảy ra tình trạng mua
bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn. Có thể nói đây là mức lạm phát mà
nền kinh tế chấp nhận được, những tác động của nó là không đáng kể. Mặt
khác, lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho người lao động chỉ trông chờ
vào thu nhập. Trong thời gian này, các hãng kinh doanh có khoản thu ổn định,
ít rủi ro và sẵn sàng đầu tư cho sản xuất kinh doanh.
- Lạm phát phi mã : lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với
tỷ lệ 2 con số 1 năm. Ở mức 2 con số thấp :11,12% thì nói chung các tác động
tiêu cực không đán kể và nền kinh tế vẫn có thể chấp nhận được. Nhưng khi
tăng đến hai chữ số cao thì lạm phát sẽ làm cho giá cả chung tăng lên nhanh
* Lạm phát bất thường: xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất
hiện. Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống người dân vì họ chưa
kịp thích nghi. Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền
kinh tế và niềm tin của nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút
Trong thực tế lịch sử của lạm phát cho thấy lạm phát ở nước đang phát
triển thường diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hậu quả của nó phức tạp và
trầm trọng hơn. Và các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại với tỷ lệ khác
nhau : lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50% một
năm, lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài hơn 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên
50% và siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% một
năm. Trường hợp điển hình của siêu lạm phát là Hungari năm 1946: tháng
lạm phát cao nhất là 13.600.000.000%, giá tăng gấp đôi sau mỗi: 15,6 giờ;
Zimbabwe tháng 11/2008 tháng lạm phát cao nhất 79.600.000.000%, gia tăng
gấp đôi sau mỗi 24,7 giờ.
4. Nguyên nhân lạm phát
a. Lạm phát do cầu kéo:
Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung –cầu. Nguyên nhân
chính là do tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng
hoặc tăng không kịp.Việc tăng cung ứng tiền tệ là nguyên nhân chủ yếu dẫn
đến việc tăng cầu về hàng hoá và dịch vụ. Nhưng đây không phải là nguyên
nhân duy nhất làm tăng cầu. Áp lực lạm phát sẽ tăng sau từ 1 đến 3 năm, nếu
cầu về hàng hoá vượt quá mức cung, song sản xuất vẫn không được mở rộng
hoặc do sử dung máy móc với công suất giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất
không đáp ứng được sự ra tăng của cầu. Sự mất cân đối sẽ được giá cả lấp đầy
từ đó mà lạm phát do cầu tăng lên (lạm phát do cầu kéo xuất hiện)
Nguyên nhân của lạm phát cầu kéo là do:
-
và do đó ảnh hưởng đến tổng cầu cũng như mức giá chung nội địa.
AD2
Giá P
AD1
AS
E1
P2
E
P1
Y1
Y2
Lạm phát cầu kéo
Khi xảy ra những trường hợp trong nguyên nhân nêu trên trong trường
hợp đường cung AS không thay đổi, thì làm cho đường cầu AD1 dịch chuyển
lên AD2. Từ đó làm tăng sản lượng Y1 -> Y2, đồng thời thay đổi điểm cân
bằng dịch chuyển từ E đến E1. Làm cho giá cả tăng lên, từ P1-> P2.
b. Lạm phát chi phí đẩy
Lạm phát chi phí đẩy vừa lạm phát, vừa suy giảm sản lượng tăng thêm
thất nghiệp nên còn gọi là lạm phát "đình trệ". Hình thức của lạm phát này
phát sinh từ phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang
người tiêu dùng. Điều này chỉ có thể được trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế
Y2
Y1
Lạm phát chi phí đẩy
Khi chi phí sản xuất tăng cao làm cho đường cung thu hẹp, dịch chuyển
từ AD1 đến AD2, qua đó làm dịch chuyển điểm cân bằng từ A -> B, đồng thời
làm sản lượng giảm sút, giá tăng lên từ P1->P2. Hiện tượng lạm phát chi phí
đẩy là còn gọi là hiện tượng đình lạm.
c. Các loại lạm phát khác
Ngoài lạm phát do cầu kéo và do chi phí đẩy, lạm phát còn có thể xuất
hiện do những nguyên nhân khác nhau: tình trạng kéo dài của thiên tai địch
họa, sự biến động tiêu cực của tỷ giá hối đoái, sự khủng hoảng kéo dài của cơ
cấu kinh tế xã hội.
5. Tác động của lạm phát
Đối với lĩnh vực sản xuất
Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra
biến động không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất. Sự
mất giá của đồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinh doanh. Hiệu
quả kinh doanh - sản xuất ở một vài doanh nghiệp có thể thay đổi, gây ra
những xáo động về kinh tế. Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận
thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn.
Đối với lĩnh vực lưu thông
Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hoá.
Các nhà doanh nghiệp thấy rằng việc đầu tư vốn vào lĩnh vực lưu thông.
Thậm chí khi lạm phát trở nên khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào lĩnh vực
sản xuất sẽ gặp phải rủi ro cao. Do đó nhiều người tham gia vào lĩnh vực lưu
Ngược lại, những người làm công ăn lương, những người gửi tiền, những
người cho vay là bị thiệt hại.
Để tránh thiệt hại, một số nhà kinh tế đưa ra cách thức giải quyết đơn
giản là lãi suất cần được điều chỉnh cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát. Ví dụ, lãi
suất thực là 3%, tỷ lệ tăng giá là 9%, thì lãi suất danh nghĩa là 12%. Tuy
nhiên, một sự điều chỉnh cho lãi suất phù hợp tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực
hiện được trong điều lạm phát ở mức độ thấp.
II.
THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
1. Thời kì bắt đầu đổi mới 1986-1990
Bước sang thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng
Sau Đại hội Đảng lần VI, công cuộc đổi mới đã đạt được những kết quả
bước đầu rất đáng khích lệ, nhất là từ năm 1989.Tuy nhiên,nền kinh tế nước ta
vẫn đang ở trong tình trạng khủng hoảng kinh tế –xã hội : kinh tế phát triển
chậm không ổn định;tốc độ tăng trưởng bình quân thời kì 1986-1990 của giá
trị sản xuất nông nghiệp là 3,5%, công nghiệp là 6,2% và tốc độ tăng trưởng
kinh tế đạt 3,9%,trong khi dân số tăng 2,3%.
Trong giai đoạn này hầu hết các cân đối lớn đều căng thẳng: thâm hụt
ngân sách ở mức 8% so với GDP, kim nghạch xuất khẩu chỉ đạt ở mức thấp
và chỉ bằng 54% kim nghạch nhập khẩu (1986 kim nghạch xuất khẩu đạt 499
triệu USD và năm 1990 đạt 1734 triệu USD. Lạm phát phi mã tuy đã được
đẩy lùi nhưng vẫn còn rất cao(từ 487,2%năm 1986 còn 67,1% năm 1990).
2. Thời kỳ kinh tế đi vào ổn định(1991-1995)
Bước sang giai đoạn 1991-1995, tình hình kinh tế –xã hội nước ta có
nhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng đạt khá cao, liên tục và toàn
diện, nền kinh tế đã bắt đầu vượt qua khủng hoảng để đi vào thế ổn định.
Tổng sản phẩm trong nước thời kì 1991-1995 tăng bình quân 8,2% (năm 1991
tốc độ tăng trưởng nền kinh tế có chiều hướng chững lại và đi xuống thì tỷ lệ
lạm phát được kiểm soát, giảm xuống mức thấp đáng kể và chuyển sang xu
thế thiểu phát. Điều này được thể hiện ở chỗ tỷ lệ lạm phát năm 1995 là
12,7%, năm 1996 là 4,5%,1997 là 3,6%,1998 là 9%, 1999 là 0,1%) thì năm
2000 là một số âm (-0,6%)
Vào các năm cuối của giai đoạn 1996-2000,tình hình lạm phát có thay
đổi,tỷ lệ lạm phát ở mức thấp như không thể thấp hơn được nữa và nguy cơ
thiểu phát đã xuất hịên. Đi cùng với chỉ số giá ở mức 0,1% năm 1999 và (0,6%) năm 2000 là sản xuất trì trệ, các hoạt động kinh doanh có nhiều dấu hiệu
đình đốn.Chúng ta đã thành công trong việc kiềm chế lạm phát bảo đảm lạm
phát từ 3 con số xuống còn 2 con số và giữ nguyên ở mức 1 con số. Nhưng
kiềm chế được lạm phát thì lại phát sinh vấn đề thiểu phát và từ thiểu phát tốc
độ tăng trưởng kinh tế cũng giảm xuống. Một vấn đề mới đặt ra cho sự phát
triển kinh tế nước ta đó là vấn đề quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát.
4. Thời kỳ kinh tế có bước phát triển mới (2001-2007)
Với những vấn đề nêu trên, những năm đầu của giai đoạn 2001-2005,
chúng ta đã áp dụng nhiều biện pháp hạn chế thiểu phát, kích cầu nhằm tỷ lệ
lạm phát lên một mức hợp lí và nhằm đạt được tộc độ tăng trưởng kinh tế cao
hơn. Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh , bền vững và ổn định,trong bốn
năm vừa qua 2001-2005, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu khả
quan:năm 2000 chặn đứng đà giảm sút của tốc độ tăng trưởng GDP, năm 2001
tốc độ tăng trưởng GDP được cải thiện, bắt đầu tăng và đạt 6,89%,năm 2002
tốc độ này đạt 7,04%, năm 2003 tăng 7,24% và năm 2004 tăng 7,62%. Cùng
với tốc độ tăng trưởng nhanh trở lại thì tỷ lệ lạm phát trong các năm trong giai
đoạn này cũng tăng dần lên từ năm 2000( -0.6%) ,năm 2001 là 0,8%, 2002 là
4%, năm 2003 là 3%, năm 2004 9.5%. Năm 2004 tỷ lệ lạm phát xấp xỉ 2 con
số, buộc NHNN phải điều chỉnh thắt chặt chính sách tiền tệ bằng cách cho lãi
độ tăng trưởng kinh tế 5.03%, do những thay đổi của nền kinh tế toàn cầu đang
tìm lối thoát khỏi cuộc khủng hoảng, cùng với những dấu hiệu ảm đạm của nền
kinh tế làm cho nhu cầu vốn không cao, đồng thời lãi xuất được điều chỉnh
giảm xuống làm cho tâm lý tiết kiệm gửi tiền giảm, người dân tiêu dùng nhiều
hơn, tiền cung của chính phủ giảm, do đó tỷ lệ lạm phát có xu hướng giảm.
6. Nguyên nhân của lạm phát ở nước ta
Phần trước, chúng ta đã đề cập đến nguyên nhân lạm phát nói chung,
phần này ta xét đến nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam ở thời điểm cụ thể.
Nguyên nhân dẫn đến lạm phát ở Việt Nam có nhiều.
Thứ nhất : Lạm phát nảy sinh từ trong chính các thể chế kinh tế quan
liêu bao cấp, đóng cửa…, hướng nền kinh tế Việt Nam phát triển các nghành
có chi phí cao, tách rời cầu thị trường, cô lập với thế giới bên ngoài dẫn đến
sự mất cân đối giữa cung và cầu, thu với chi ngân sách thể hiện nền kinh tế
kém hiệu quả, các xí nghiệp làm ăn thua lỗ…Đó là những nguyên nhân dẫn
đến lạm phát phi mã.
Thứ hai : Do sự điều hành sai lầm của bộ máynhà nước, như xác định cơ
cấu không xuất phát từ hiệu quả. Sự đổi tiền và tăng giá năm 1985 là chính
sách phá giá đồng tiền, làm giảm niềm tin của dân vào đồng tiền của nhà
nước, chính sách lãi xuất thấp so với mức trượt giá làm cho người dân không
muốn gửi tiết kiệm. Sự mất cân đối tài chính gây lạm phát qua kênh tín dụng,
ngân hàng nhà nước luôn phải phát hành tiền để cân đối các nguồn vốn cho
vay của ngân hàng, đáp ứng yêu cầu của các nghành kinh tế và xây dựng cơ
bản ngày càng tăng. Nhà nước lại không chủ động trong việc cân bằng cung
cầu hàng hoá, gây ra sự rối loạn trên thị trường, giá cả thay đổi một cách bất
hợp lý so với giá quốc tế. Mặt hàng giá cả bị nhích lên do cơn sốt xi măng,
thép, xăng dầu và ngoại tệ.
Thứ ba : Cho đến nay, xương sống của nền kinh tế Việt Nam vẫn là các
doanh nghiệp. những doanh nghiệp này đóng góp 37% vào ngân sách nhà
- Biện pháp loại bỏ tiền giấy không khả hoán
- Biện pháp khôi phục
- Biện pháp phá giá tiền tệ
Trong thời đại hiện nay trên danh nghĩa pháp lý, vàng không còn là cơ sở
của lưu thông tiền tệ, không còn là cơ sở trực tiếp cho tiền giấy lưu thông
trong nước nữa thì các bieenh pháp ổn định và kiềm chế lạm phát đã có sự
thay dổi quan trọng. Ổn định tiền tệ ngày nay là ổn định sức mua của tiền giấy
trên cơ sở ngăn chặn sự leo thang của giá cả hàng hóa bằng cách giải quyết
các vấn đề của mối quan hệ tiền và hàng. Nhưng dù có áp dụng biện pháp gì
đi nữa thì các mục tiêu cơ bản vẫn phải đạt được, nếu không có chính sách
tiền tệ và kiềm chế lạm phát sẽ không có đầy đủ ý nghĩa của nó. Những mục
tiêu đó là ổn định sức mua của đồng tiền, ổn đinh giá cả, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, tạo công ăn việc làm….
1. Các giải pháp vĩ mô.
a. Chính sách tiền tệ tín dụng.
Trong lĩnh vực tiền tệ,tín dụng cần xử lí hợp lí các vấn đề sau :Nhu cầu
về vốn để phát triển kinh tế cao,khả năng đáp ứng vốn và kiềm chế lạm phát ở
mức hợp lí với ổn định đồng tiền:
Hàng năm hệ thống ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế một lượng vốn
khoảng vài chục đến vài trăm nghìn tỷ đồng để đầư phát triển. Thực tế nhu
cầu tăng tín dụng rất cấp bách với việc nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn vàchất lượng tín dụng.Tình hình cạnh tranh gay gắt của các doanh
nghiệp ở khu vực và thế giới với sự khó khăn bên trong nền kinh tế nước ta,
việc đòi hỏi tiếp tục giảm lãi suất “đầu vào” của các doanh nghiệp là đặc biệt
chính đáng và những diễn biến lãi suất thị trường để có thể huy động vốn cho
vay nền kinh tế lại là vấn đề nan giải.Vốn vay tăng nhanh và vốn đầu tư trực
tiếp của nước ngoài đang có dấu hiệu tăng không nhiều, công với việc ổn định
tỷ giá theo hương khuyến khích xuất khẩu và đẩy mạnh sản xuất trong nước là
Mức tái cấp vốn tối đa không vượt quá mức cung ứng dành cho mục tiêu
cung ứng phương tiên thanh toán trong năm. Thực hiện tái cấp vốn ở mức
hợp lý ,mức lãi suất cần được thực hiện theo hướng nâng cao hiệu quả tín
dụng và làm cơ sở điều hành lãi suất thị trường .
Thực hiện đa dạng hoá các hình thức huy động vốn như huy động tiền
gửi từ các tổ chứckinh tế, huy động tiền gửi tiết kiệm với các thời hạn 3,6,9
tháng. Tập trung huy động vốn trung và dài hạn dưới nhiều hình thức:phát
hành trái phiếu,tiết kiệm xây dựng nhà ở,nhận vốn uỷ thác đầu tư chiều sâu .
Các Ngân hàng thương mại phải tính toán lên phương án huy động vốn tập
trung và dài hạn.
Lãi suất cần được điều hành một cách linh hoạt, theo sát cung cầu vốn phục
vụ phát triển và tăng trưởng kinh tế,bảo đảm đáp ứng yêu cầu huy động vốn và
kiềm chế lạm phát. Trong tình hình hiện nay trên nghiên cứu giải pháp nâng lãi
suất hợp lý (lãi suất dương bằng 20% tỷ lệ lạm phát)để một mặt kiềm chế lạm
phát mặt khác khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn mở rộng sản xuất.
b.
Chính sách tài khoá
Kiên quyết giữ vững mức bội chi ngân sách nhà nước ở mức hợp lý so
với GDP trên cơ sở phấn đấu tăng thu,tiết kiệm chi và hiệu quả,quản lý chặt
chẽ các khoản chi, chống tham nhũng một cách quyết liệt.
Tăng tỉ lệ thu ngân sách nhà nước bằng các biện pháp khai thác các
nguồn thu, tích cực chống thất thu. Triệt để thực hiện tốt các pháp lệnh về
thực hành tiết kiệm chống lãng phí thường xuyên,cắt bỏ những khoản chi
chưa thật cần thiết . Chính sách tài khoá cũng đặc biệt quan trọng đối với ổn
định và phát triển kinh tế. Khống chế thâm hụt ngân sách nhà nước ở mức
thấp như trên đã nêu. Việc tăng giá tác động đến người nghèo nhiều hơn và
những nhóm người có thu nhập thấp còn có thể mất nhiều do thuế lạm phát
hơn là cái mà họ được do có nhiều cơ hội việc làm mới. Tài trợ cho thâm hụt
d.
Các giải pháp khác :
Tiếp theo là các giải pháp trên đòi hỏi phải có các giải pháp huy động
triệt để cơ sở vật chất và lao động hiện có,huy động thêm nguồn vốn, tăng
nhanh khả năng đầu tư,tăng tiêu dùng hợp lý hàng hoá và dịch vụ của các tầng
lớp đân cư. Cụ thể những chủ trương lớn trên là:Giải phóng và nâng cao hiệu
quả các nhân tố sản xuất;Nâng cao hiệu quả sử dụng đất, làm cho đất đai có
giá trị thực sự, phải hạch toán đầy đủ chi phí sử dụng đất vào chi phí sản xuất
kinh doanh,đảm bảo đất là một trong những nhân tố trong phát tri ển kinh
tế;tạo công ăn việc làm ,nâng cao tay nghề, nâng cao trình độ và năng lực của
người lao động ;nâng cao công suất sử dụng kết cấu cơ sở hạ tầng và hiệu quả
sử dụng các năng lực sản xuất hiện có;Bảo vệ ,phát triển và khai thác có hiệu
quả tài nguyên rừng biển;Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực sản xuất của
các doanh nghiệp;Mở rộng thị trường,nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường
trong nước và thúc đẩy hội nhập quốc tế;Thúc đẩy phát triển đồng bộ hệ
thống thị trường và tăng cường hiệu lực các công cụ chính sách kinh tế vĩ
mô;Đẩy mạnh thu hút tối đa các nguồn lực bên ngoài ; Thực hiện tốt cải cách
hành chính.
2.
Các giải pháp vi mô
Trước hết là phải nâng cao sản lượng hàng hoá trong các doanh nghiệp
trên cơ sở đẩy mạnh sản xuất công,nông nghiệp, cụ thể là tạo ra nhiều lương
thực,thực phẩm,một số hàng hoá là tư liệu sản xuất (xi măng,phân bón ,sắt
thép )và các loại hàng hoá là nhiên liệu,năng lượng(xăng dầu,điện)
Mặt khác ,các doanh nghiệp phải khai thác triệt để các tiềm năng vốn sẵn
có trong nội bộ nền kinh tế để đẩy mạnh phát triển sản xuất;giảm chi phí sản
xuất và chi phí lưu thông, chống mọi biểu hiện đầu cơ gây khan hiếm giả tạo
nhưng loại hàng hoá thiết yếu của xã hội triệt để tiết kiệm trong chi tiêu,tăng
nhanh nguồn vốn dự trữ quốc gia; đảm bảo các cân đối lớn nhằm đạt tốc độ
nhà nước,chi tiêu phải có hiệu quả,đúng việc và tiết kiệm,không thể bội chi
ngân sách nhà nước quá cao và bù đắp thâm hụt không thể tự phát hành tiền.
Chúng ta chống lạm phát nhưng không quên nhiệm vụ đẩy nhanh phát
triển của nền kinh tế,bảo đảm nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao.Chống lạm phát đến một mức nào đó có thể làm cho tăng trưởng kinh tế
chậm lại. Nhưng để nền kinh tế không tụt hậu so với các nước khác trong khu
vực và trên thế giới đòi hỏi phải đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là
nguyên tắc bất di bất dịch.
MỤC LỤC