BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ TÌNH
THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN XUÂN THIỀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ TÌNH
THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN XUÂN THIỀU
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. PHAN TRỌNG THƢỞNG
HÀ NỘI, 2016
các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các
Website…với sự trân trọng, biết ơn.
Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trình
nghiên cứu nào từng công bố.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Tình
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 5
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 6
6. Dự kiến đóng góp mới ............................................................................... 6
7. Cấu trúc luận văn ....................................................................................... 7
NỘI DUNG ....................................................................................................... 8
Chương 1. QUAN NIỆM VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TÁC CỦA XUÂN THIỀU .................................................................... 8
1.1. Quan niệm về nhân vật văn học .............................................................. 8
1.1.1. Khái niệm nhân vật văn học ............................................................. 8
1.1.2. Các tiêu chí phân loại nhân vật văn học ......................................... 10
1.1.3. Chức năng của nhân vật văn học .................................................... 12
1.1.4. Nhân vật truyện ngắn ...................................................................... 15
1.1.5. Vài nét về nhân vật trong truyện ngắn hiện đại .............................. 17
1.2. Hành trình sáng tác của Xuân Thiều ..................................................... 20
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nhắc tới thành tựu văn học Việt Nam sau 1945 đặc biệt là mảng văn
xuôi, không thể không tới Xuân Thiều và những đóng góp đáng kể của ông
với sự phát triển của văn học nước nhà.
Là một trong những cây bút xây nền đắp móng cho phong trào sáng tác
văn học với đề tài người linh, chiến tranh, hậu chiến tranh, suốt đời cầm bút
Xuân Thiều luôn chú ý đến sự sáng tạo nghệ thuật. Trong các trang viết của
mình, ông luôn thể hiện như một cây bút già dặn, từng trải và có khả năng
quan sát chi tiết đời sống, từ đó phát hiện ra những tình huống truyện hấp dẫn.
Ngay từ những sáng tác đầu tay của mình, ông đã dành nhiều tâm huyết cho
đề tài người lính, chiến tranh và trọn đời văn của mình ông chung thủy với
mảng đề tài chiến tranh đặc biệt là hình ảnh người lính. Và ở mảng đề tài này,
Xuân Thiều đạt được thành công và đem đến cho văn học Việt Nam cái nhìn
mới về hiện thực chiến tranh và thời hậu chiến tranh.
1.2. Tài năng của Xuân Thiều được khẳng định qua thời gian và được kết
tinh rõ rệt qua số lượng sáng tác mà ông để lại cho đời. Sáng tác của ông có
nhiều thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ. Ở thể loại truyện
ngắn, nhà văn thể hiện rõ tài năng, thế mạnh của mình trong việc mô tả sinh
động chân thực những tấm gương bất khuất, lạc quan của cán bộ chiến sỹ và
quần chúng nhân dân nơi khói lửa gian nguy. Nhà văn phản ánh số phận vinh
quang và bi tráng của con người trong từng hoàn cảnh. Truyện ngắn được coi
là thể loại mạnh nhất làm nên tên tuổi nhà văn. Vì vậy truyện ngắn của Xuân
Thiều gây được sự chú ý của giới văn học và đông đảo độc giả.
1.3. Tác phẩm của Xuân Thiều được giới cầm bút đánh giá cao, hai tập
truyện ngắn của ông được nhận giải thưởng của Bộ Quốc phòng 1990, tập
2
loại truyện ngắn đã góp phần không nhỏ tạo dựng lại cuộc chiến đấu hi sinh
đầy gian khổ nhưng bất khuất, kiên cường của những người lính, của nhân
dân ta trong cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, đồng thời nêu
lên các vấn đề thời sự của cuộc sống thời “hậu chiến” khi hòa bình trở lại.
Hay trong cuốn Xuân Thiều - Cuộc đời và sự nghiệp của Nhà xuất bản
Lao Động (2012) đã tái dựng được phần nào cuộc đời hoạt động sôi nổi, đam
mê văn chương của nhà văn. Nó thể hiện qua các tác phẩm đậm chất hiện
thực đời sống, hừng hực hơi nóng của chiến trường khốc liệt trong cuộc đấu
tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Cuốn sách gồm ba phần, nội dung
chính tập hợp những bài viết của các đồng nghiệp là nhà văn, nhà lí luận phê
bình viết về tác phẩm cũng như cuộc đời Xuân Thiều, cùng một số bài trao
đổi về kinh nghiệm sáng tác và truyện ngắn tiêu biểu của ông qua các thời kì.
Trong Lời bạt cho tập 10 truyện ngắn chọn lọc của nhà xuất bản Thanh
niên (2008), Xuân Thiều nhà ngôn ngữ học - Hữu Đạt đã thể hiện cảm nhận
sâu sắc về sáng tác của nhà văn, nhất là những sáng tác sau chiến tranh. Tác
giả nhận xét “Tính theo thời gian những truyện của Xuân Thiều viết càng về
sau càng rất chắc, có độ sâu của sự từng trải cuộc đời, từng trải nghệ thuật
trong chừng mười năm gần đây ông đã có một số truyện vừa truyện ngắn gây
không ít xao động ở độc giả. Thậm chí còn gây ra những tranh cãi. Đó là
truyện “Truyền thuyết quán Tiên”, “Xin đừng gõ cửa”. Điều đó đủ thấy văn
Xuân Thiều lúc ở lão niên đã không phai tàn, xuống sức, trái lại vẫn sung sức
lì lẫm như những đợt sóng chìm. Nó làm cho người ta phải dè chừng” [40, 3].
Qua “Xuân Thiều và những trang viết về chiến tranh” (Mục chân dung
nhà văn, nguồn_ ngày 30/05/2016), tác giả Lê
Thành Nghị đã khẳng định Xuân Thiều là một cây bút xông xáo và linh hoạt,
trước hết là ở sự lựa chọn thể loại để biểu hiện thực chiến tranh cùng những
4
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
Trình bày những vấn đề lý thuyết về thế giới nhân vật. Chỉ ra những đặc
điểm nổi bật về thế giới nhân vật đa dạng, phong phú và nghệ thuật xây dựng
nhân vật trong truyện ngắn của Xuân Thiều. Từ đó bước đầu khẳng định vị trí
của Xuân Thiều trong bức tranh văn học về đề tài chiến tranh, người lính và
thời hậu chiến, cũng như đóng góp đáng ghi nhận của ông đối với nền văn
học hiện đại Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu thế giới nhân vật trong những truyện ngắn
của Xuân Thiều. Ngoài ra những vấn đề lý thuyết về thể loại, cá tính sáng tạo,
phong cách…cũng được nghiên cứu để bổ sung hoặc làm điểm tựa cho việc
triển khai vấn đề chúng tôi quan tâm.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện luận văn, chúng tôi tập trung khảo sát, thống kê, phân tích toàn
bộ truyện ngắn của Xuân Thiều được in trong các tập truyện:
10 truyện ngắn chọn lọc
Khúc hát mở đầu
Người mẹ tội lỗi
Xin đừng gõ cửa
Vì mục đích của luận văn là tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện ngắn
Xuân Thiều nên những tài liệu lý luận về thể loại truyện ngắn cũng được khai
thác tìm hiểu.Trong khi dành những nội dung chính trong các truyện ngắn,
chúng tôi cũng có so sánh với các nhân vật trong tiểu thuyết của ông, khi cần.
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi sẽ mở rộng thêm một số tác phẩm
của các nhà văn cùng thời và các nhà văn thế hệ sau Xuân Thiều cùng viết về
7
“chiến tranh, hình ảnh người lính” nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam
nói chung. Thông qua đó góp phần khẳng định tài năng và vị trí của Xuân
Thiều trong nền văn học Việt Nam.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung
của luận văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1. Quan niệm về nhân vật văn học và hành trình sáng tác của
Xuân Thiều.
Chương 2. Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Xuân Thiều.
Chương 3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Xuân Thiều.
8
NỘI DUNG
Chƣơng 1. QUAN NIỆM VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TÁC CỦA XUÂN THIỀU
1.1. Quan niệm về nhân vật văn học
1.1.1. Khái niệm nhân vật văn học
Hiểu theo nghĩa rộng,“nhân vật” là khái niệm không chỉ dùng trong văn
chương mà còn ở nhiều lĩnh vực khác.
Trong tiếng Hi Lạp cổ, “nhân vật” (persona) lúc đầu mang ý nghĩa chỉ cái
mặt nạ của diễn viên trên sân khấu. Theo thời gian, chúng ta đã sử dụng thuật
ngữ này với tần số nhiều hơn, thường xuyên hơn để chỉ đối tượng mà văn học
miêu tả và thể hiện trong tác phẩm.
Theo bộ Từ điển Tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ
biên thì nhân vật là khái niệm được hiểu theo hai nghĩa:
người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Đó là
những nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thạch Sanh… Đó là những nhân vật
không tên như thằng bán tơ, một mụ nào đó trong Truyện Kiều của Nguyễn
Du… Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao
gồm cả quái vật lẫn thần thánh, ma quỷ, những con vật mang nội dung, ý
nghĩa con người.... Nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật ước lệ, có
những dấu hiệu để ta nhận biết” [21, tr 277 - 278].
Còn trong cuốn Lí luận văn học do GS Hà Minh Đức chủ biên, các tác
giả lại cho rằng: “Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính
ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ một chi tiết, biểu hiện đầy đủ của
con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về
tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách… và cần chú ý thêm một điều: thực ra khái
niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng lớn hơn nhiều,
đó không chỉ là những con người, những con người có tên và không tên, được
khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có
10
thể là sự vật, loài vật khác ít nhiều manh bóng dáng, tính cách con người…
Cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể mà chỉ là một
hiện tượng về con người hoặc liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật
trong tác phẩm” [11, tr 126].
Trên đây là một số cách hiểu khác nhau về khái niệm nhân vật văn học.
Nhưng dù có hiểu theo cách nào thì các định nghĩa ấy đều gặp nhau ở những
nội hàm không thể thiếu của khái niệm này. Thứ nhất, nhân vật phải là đối
tượng mà văn học miêu tả và thể hiện bằng phương tiện văn học. Thứ hai, nó
có thể là con người hoặc động vật, con vật, hiện tượng mang linh hồn con
người, đó là những hình ảnh ẩn dụ về con người. Thứ ba, nhân vật là đối
tượng mang tính ước lệ và có tính cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó
Giăng Vangiăng trong Những người khốn khổ của Victo Huygo,...
1.1.2.2. Xét về phương diện tư tưởng, về quan hệ thuận - nghịch đối với lí
tưởng, có thể chia nhân vật thành: nhân vật chính diện và nhân vật phản diện
Nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) là nhân vật thể hiện những giá
trị tinh thần, những phẩm chất đẹp đẽ, những hành vi cao cả của con người
được nhà văn miêu tả, khẳng định, đề cao trong tác phẩm theo một quan
điểm, một tư tưởng xã hội thẩm mĩ nhất định. Ví dụ: nhân vật Lục Vân Tiên,
Kiều Nguyệt Nga trong truyện Nôm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu,...
Nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực) là nhân vật mang tính cách xấu
xa, trái với đạo lí và lí tưởng của con người, được nhà văn miêu tả với thái độ
chế giễu, lên án, phủ định. Ví dụ: Mẹ con dì ghẻ trong truyện Tấm Cám,...
1.1.2.3. Dựa theo hình thức cấu trúc nhân vật, người ta chia nhân vật văn học
thành các dạng thức sau
Nhân vật chức năng (mặt nạ) là loại nhân vật chủ yếu xuất hiện trong
văn học cổ trung đại (nhất là ở truyện cổ tích), được giao nhiệm vụ thực hiện
một chức năng cố định nào đó trong tác phẩm và trong phản ánh đời sống. Ví
dụ: nhân vật bà Tiên, ông Bụt trong truyện cổ tích thường thực hiện chức
năng là lực lượng phù trợ cho cái thiện,...
12
Nhân vật loại hình là nhân vật có thể đứng ra làm đại diện cho một loại
người nhất định trong đời sống, do chỗ nó thể hiện được những nét đặc trưng,
ổn định và bất biến ở phẩm chất xã hội, đạo đức, tính cách của một loại người
nào đó trong xã hội. Ví dụ: nhân vật Acpagong - kẻ hà tiện, nhân vật Tactuyp
- kẻ đạo đức giả,...
Nhân vật tính cách là loại nhân vật được khắc họa, ngắm nhìn trên nhiều
bình diện, đưa tới cho độc giả cảm tưởng “thực”, mang sức hấp dẫn của chính
cuộc sống. Nhân vật tính cách thường đa diện, chứa đầy mâu thuẫn, nó luôn
Đầu tiên, nhân vật là phương tiện không thể thiếu để nhà văn khái quát
hiện thực đời sống. Hiện thực đời sống được tái hiện thông qua thế giới nghệ
thuật của người nghệ sĩ. Nhân vật là điều kiện đảm bảo cho việc miêu tả thế
giới ấy có chiều sâu và có tính hình tượng. Khi nhân vật xuất hiện, cái gọi là
“hiện thực đời sống” không còn tồn tại như một khái niệm khô khan mà trở
nên rõ ràng, có đủ “ba chiều” để mời gọi bạn đọc tưởng tượng, khám phá và
suy ngẫm. Chẳng hạn, khi nhắc đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính,
người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó. Gắn liền với
Kiều là thân phận của người phụ nữ có tài sắc nhưng bất hạnh trong xã hội cũ.
Gắn liền với Kim Trọng là vấn đề tình yêu đôi lứa và ước mơ vươn tới hạnh
phúc. Gắn liền với Từ Hải là vấn đề đấu tranh để thực hiện khát vọng tự do,
công lí... Trong Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo thể hiện quá trình
lưu manh hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân nửa phong
kiến. Hay đằng sau nhiều nhân vật trong truyện cổ tích là vấn đề đấu tranh
giữa cái thiện - cái ác, điều tốt - điều xấu, cuộc sống giàu - nghèo và những
ước mơ tốt đẹp của con người,...
Tiếp theo, nhân vật là phương tiện khái quát các tính cách, số phận con
người. Do tính cách là một hiện tượng lịch sử nên chức năng khái quát tính
cách của nhân vật cũng mang tính lịch sử. Ví dụ trong thời cổ đại, nhân vật
văn học của thần thoại, truyền thuyết thường khái quát năng lực và sức mạnh
của con người: Nữ Oa đội đá vá trời, Sơn Tinh dời núi đắp đê chiến đấu
14
chống Thuỷ Tinh,... Trong xã hội có phân chia giai cấp, nhân vật văn học lại
khái quát các tính cách đối kháng về mặt phẩm chất. Nhân vật trong văn học
dân gian nói chung, do đặc điểm truyền miệng nên thường mang tính cách
cô đọng, đơn giản mặc dù có giá trị cao và bền vững. Còn nhân vật trong
văn học viết thường có khả năng khái quát các tính cách nhiều mặt, đầy đặn,
riêng như một đối tượng thẩm mĩ chuyên biệt.
Tựu chung lại, nhân vật có một vai trò hết sức quan trọng trong tác
phẩm của một nhà văn. Nó là yếu tố không thể thiếu đối với một tác phẩm
văn chương. Hiểu được đúng đắn chức năng của nhân vật văn học, người viết
có thêm cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài này.
1.1.4. Nhân vật truyện ngắn
Như chúng ta đã biết, truyện ngắn hiện đại (theo quan niệm của giới
nghiên cứu ngày nay), ra đời vào khoảng thế kỉ XIX ở phương Tây. Nhưng ở
Việt Nam thì phải đến thế kỉ XX thể loại này mới hình thành rồi phát triển.
Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ. Nó ngắn bởi khuôn khổ nhưng
lại rất gần với tiểu thuyết vì nó cùng là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống
đương thời. Nội dung truyện ngắn rất đa dạng nhưng có một đặc điểm chung
là “ngắn”. Truyện có thể kể về cả cuộc đời hay một đoạn đời của nhân vật
nhưng điều quan trọng không phải là ở hệ thống sự kiện mà là ở cái nhìn đối
với cuộc đời.
Nhà văn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét
bản chất trong quan hệ nhân sinh hay trong đời sống tâm hồn con người. Nó
thường ít sự kiện phức tạp, ít nhân vật. Cốt truyện của truyện ngắn thường nổi
bật, hấp dẫn. Kết cấu trong truyện ngắn thường là một sự tương phản, liên
tưởng. Bút pháp trần thuật thường là chấm phá, hành văn có nhiều ẩn ý.
Giọng điệu của nó cũng hết sức tự do, linh hoạt.
Trong đó, nhân vật truyện ngắn có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng.
Nó là tâm điểm của sự sáng tạo, sự lí giải cuộc sống của mỗi nhà văn. Nhân
vật truyện ngắn có những đặc điểm riêng biệt, khác hẳn so với nhân vật của
16
các loại hình văn học khác và ngay cả trong cùng loại hình tự sự, nó cũng có
những điểm độc đáo riêng.
thời điểm quan trọng, đặc biệt mà thôi.
Cuối cùng, nếu nhân vật tiểu thuyết cho chúng ta cảm giác như bắt gặp
nhiều hơn trong cuộc sống thì nhân vật truyện ngắn là những hiện tượng hiếm
có, ít gặp hơn.
Như vậy, qua việc so sánh trên, chúng ta thấy được nhân vật trong truyện
ngắn có những đặc trưng riêng làm nên sức hấp dẫn riêng của thể loại. Nhân
vật truyện ngắn là những con người đời thường và bao giờ cũng được đặt vào
những tình huống gay cấn. Từ tình huống ấy làm nổi bật nên tính cách, số
phận và chiều sâu tâm lí của nhân vật.
Nhân vật truyện ngắn thể hiện những thăng trầm của thời đại, được khám
phá đa dạng, nhiều chiều. Qua nhân vật, người đọc thấy được một cuộc sống
muôn hình vạn trạng đang diễn ra xung quanh mình và thấy được thân phận
con người trong đó như thế nào.
1.1.5. Vài nét về nhân vật trong truyện ngắn hiện đại
Như chúng ta đã biết, lịch sử văn học nhìn theo góc độ nào đó là lịch sử
của những quan niệm nghệ thuật khác nhau về con người. Trong suốt chiều
dài lịch sử ấy, sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người kéo theo sự
thay đổi rõ rệt trong cách lựa chọn và xây dựng nhân vật. Do vậy, nhân vật
trong văn xuôi hiện đại nói chung và trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói
riêng đã có những đột phá lớn so với nhân vật trong văn học Việt Nam trước
năm 1975. Sự thay đổi đó đã tạo nên bước ngoặt quan trọng trong tư duy nghệ
thuật về con người trong tác phẩm văn chương.
Nếu nhân vật trong văn học Việt Nam trước 1975 (đặc biệt là giai đoạn
1945 - 1975) được khai thác trong tư cách công dân đơn phiến, được nhìn
nhận, đánh giá theo quan điểm chính trị thì nhân vật trong truyện ngắn hiện
18
đại được khai thác toàn diện hơn. Đó là những con người đa trị, đa cực, con
phức tạp, đầy biến động. Con người phải đối diện với chính mình, làm chủ
số phận của mình và sống với tư cách là một cá nhân riêng lẻ, không nhân
danh ai, không dựa vào ai.
Nếu nhân vật trong văn học Việt Nam trước 1975 có mối quan hệ lỏng
lẻo, xoay quanh một tiêu điểm nhất định thì nhân vật trong truyện ngắn hiện
đại được đặt trong mối quan hệ phức tạp. Đó là những con người đang trong
quá trình hoàn chỉnh nhân cách, được thể hiện rõ ở tất cả các mối quan hệ xã
hội, quan hệ ứng xử và đời sống riêng của nó. Ma Văn Kháng nhận xét:
“Cuộc đời thật là ẩn mật, giống như hình ảnh một dòng sông chảy ngầm
không sao hiểu nổi ngọn nguồn tung tích. Các mối liên hệ, sự giao cảm, chi
phối và ràng buộc rất bí ẩn và tù mù” (Chọn chồng). Như vậy, nhân vật được
đặt trong các mối quan hệ đa dạng, đan cài, đôi khi chồng chéo lên nhau để từ
đó họ bộc lộ tính cách và sự phản ứng của mình trước cuộc sống không ngừng
biến động.
Nếu nhân vật trong văn học Việt Nam trước 1975 thường mang tính sử
thi, hướng ngoại thì nhân vật trong truyện ngắn hiện đại lại hướng nội, luôn
sống với những dằn vặt, suy tư của mình. Chẳng hạn, trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu, nhân vật thường là những con người sám hối, thức tỉnh,
con người nhận đường đầy suy tư, dằn vặt. Trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp là những con người cô đơn với bao cay đắng, nghiệt ngã của số
phận,…. Các diện mạo đa dạng ấy đã tạo cho văn xuôi từ sau 1975 có những
hình tượng nhân vật đa diện, sống động chứ không “khô cứng”, “công thức”
như phần lớn nhân vật trong văn học trước đây. Điều đó đã tạo cho văn xuôi
đương đại một sức hấp dẫn đặc biệt.
Cuối cùng, nếu nhân vật trong văn học Việt Nam trước 1975 chủ yếu
được xây dựng theo khuynh hướng sử thi và bút pháp lãng mạn thì nghệ
thuật xây dựng nhân vật trong văn học đương đại có nhiều đổi mới, cách tân