VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Bùi Thị Như Ngọc
BIẾN ĐỔI VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG GIA ĐÌNH Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
QUA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ XÃ, PHƯỜNG
Chuyên ngành:
Văn hóa học
Mã số:
62 31 06 40
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học
GS. TS. NGUYỄN XUÂN KÍNH
1
Hà Nội, 2017
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
43
HÀ NỘI TRƯỚC NĂM 1986
2.1. Vai trò làm vợ
43
2.2. Vai trò làm mẹ
49
2.3. Vai trò trong hoạt động kinh tế gia đình và các hoạt động khác
57
Chương 3: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ
69
NỮ TRONG GIA ĐÌNH Ở HÀ NỘI TỪ SAU NĂM 1986
3.1. Biến đổi vai trò làm vợ
69
3.2. Biến đổi vai trò làm mẹ
80
3.3. Biến đổi vai trò trong hoạt động kinh tế gia đình và các hoạt động khác
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GS
Giáo sư
NCS
Nghiên cứu sinh
Nxb
Nhà xuất bản
Tp
Thành phố
xb
Xuất bản
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
hội…, vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng vì thế mà có những biến đổi. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy, người phụ nữ dù trong gia đình Hà Nội gốc hay không, có
việc làm (công việc chuyên môn, làm nông hoặc làm nghề) hay không, đa phần
đều gặp một “lực cản” chung về quan niệm vốn tồn tại đã lâu, là việc đảm nhiệm
4
vai trò làm vợ, làm mẹ, chịu trách nhiệm các công việc nhà, nuôi dạy con cái…
đương nhiên được coi là của phụ nữ chứ không phải của nam giới; sự chia sẻ,
thông cảm của các thành viên trong gia đình với các vai trò nói trên của phụ nữ vì
thế cũng khá hạn chế, nên dễ dẫn đến những xung đột và gây trở ngại cho phụ nữ
trong việc cống hiến trí và lực cho nghề nghiệp và các hoạt động xã hội khác. Mâu
thuẫn giữa những biến đổi đã và vẫn đang diễn ra giữa vai trò của người phụ nữ
trong gia đình với những quan niệm, rào cản xã hội, định kiến giới…, giữa mong
muốn và hiện thực, giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa phụ nữ và nam giới cũng như
các thành viên khác trong gia đình v.v.. đang cản trở không nhỏ đến việc phát huy
vai trò, năng lực của người phụ nữ, đến tiến trình xây dựng văn hóa gia đình, đánh
giá một cách công bằng và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực nữ phục vụ công
cuộc đổi mới, phát triển Thủ đô nói riêng, đất nước nói chung.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã dành nhiều quan tâm cho phụ nữ nước
ta nói chung, phụ nữ Hà Nội nói riêng, bảo vệ những quyền lợi chính đáng của phụ
nữ và phát huy vai trò của họ, trước hết là trong gia đình. Cũng có không ít bài
viết, sách, công trình nghiên cứu… nói về phụ nữ và vai trò của người phụ nữ
trong gia đình ở Hà Nội với những khía cạnh nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên,
thực tiễn sự biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình trên địa bàn luôn luôn
đa dạng và phức tạp, đòi hỏi có sự nghiên cứu, kiến giải thấu đáo, kịp thời và thỏa
đáng hơn nữa để tiếp tục gìn giữ, phát huy, phát triển một cách chính đáng và tích
cực các vai trò của người phụ nữ trong gia đình.
Nghiên cứu những biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà
Nội hiện nay dưới góc nhìn văn hóa nhằm tìm hiểu những nguyên nhân, căn
Thực hiện những nhiệm vụ trên, tức là tác giả luận án đã trả lời cho các câu
hỏi nghiên cứu sau:
- Người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội có những vai trò gì và biểu hiện cụ
thể của các vai trò đó?
- Hiện nay vai trò đó biến đổi như thế nào?
- Xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội thời
gian tới?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Những biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình, như biến đổi về
vai trò làm vợ, làm mẹ, vai trò trong hoạt động kinh tế gia đình, vai trò trong các
hoạt động đối nội, đối ngoại và các hoạt động khác của gia đình.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Không gian nghiên cứu
Không gian nghiên cứu ở Hà Nội, cụ thể là các địa bàn:
+ Phường Hàng Bông (quận Hoàn Kiếm) - địa bàn đô thị Hà Nội gốc, với
nhiều nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội và người Hà Nội được duy trì, gìn giữ trải
qua nhiều thế hệ.
+ Phường Mỹ Đình 1 (quận Nam Từ Liêm) - địa bàn từ nông thôn chuyển
thành đô thị, đang trong quá trình đô thị hóa, hội nhập với những bước chuyển
mình mạnh mẽ khi từ xã thành phường.
6
+ Xã Đồng Trúc (huyện Thạch Thất) - xã thuần nông, chưa chịu ảnh hưởng
quá nhiều bởi tiến trình đô thị hóa, hội nhập.
3.2.2. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ Đổi mới, tháng 12/1986 đến hiện nay.
Trong quá trình nghiên cứu, để có cái nhìn khách quan và tổng thể, rõ ràng,
sâu sắc hơn, cũng như có cơ sở so sánh, đối chiếu, đánh giá và chỉ rõ được những
7
đồng, ăn mặc như nông dân, vừa giúp họ làm việc, vừa trò chuyện với họ nhằm tạo
sự chân tình, thân mật. Nhờ thế, NCS có thể hiểu rõ hơn thực trạng, cũng như nhận
được chia sẻ, tâm sự thật lòng về vai trò và biến đổi vai trò của người phụ nữ trong
gia đình với những quan điểm, biểu hiện, suy nghĩ… từ cả hai giới nam và nữ, ở
các lứa tuổi và nghề nghiệp, trình độ khác nhau.
Nếu như ở nông thôn (xã Đồng Trúc), đa phần người dân sống cởi mở, chan
hòa, việc tìm hiểu thông tin cũng dễ dàng hơn, thì nhiều người ở đô thị dè dặt,
đóng kín, thậm chí đề phòng, nghi ngại, khó gần và có phần lạnh lùng với người lạ,
nên NCS phải vận dụng những kinh nghiệm cá nhân để xử lý linh hoạt các tình
huống. Ở phường Hàng Bông và Mỹ Đình 1, dù có sự giới thiệu lãnh đạo phường
hoặc của Chủ tịch Hội phụ nữ phường, NCS vẫn gặp sự “đề phòng” của một số
người dân khi một số người cung cấp thông tin rất dè chừng. Thời gian đối với
người dân đô thị là “vàng ngọc” nên NCS phải rất linh hoạt nhằm thu thập thông
tin một cách hiệu quả nhất, như vừa vừa trò chuyện, vừa giúp họ làm việc (ví dụ,
với vợ chồng chủ quán bán cơm gần bến xe Mỹ Đình, NCS vừa hỏi chuyện, vừa
giúp họ vo gạo, nhặt rau, chuẩn bị bát đũa và các nguyên vật liệu khác để nấu
nướng). Với đối tượng được phỏng vấn là người cao tuổi, NCS phải kết hợp sàng
lọc, kiểm chứng thông tin thông qua những người thân trong gia đình; cụ nào nói
khó nghe (đặc biệt là các cụ ở xã Đồng Trúc hay sử dụng phương ngữ), NCS nhờ
người thân (con, cháu) của cụ ngồi cạnh và “phiên dịch” lại hộ.
Với phương pháp phỏng vấn, NCS tiến hành phỏng vấn 90 người, gồm các
cán bộ ở địa phương và người dân sinh sống trên các địa bàn nghiên cứu (mỗi địa
bàn 30 người). Tùy theo đối tượng nghiên cứu, NCS sử dụng cách phỏng vấn phi
cấu trúc và phỏng vấn bán cấu trúc để thấy được quan điểm, nhận thức và thực
trạng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình hiện nay so với trước đây.
Phỏng vấn phi cấu trúc được dùng nhiều nhất trong những ngày điền dã để trò
chuyện, tìm hiểu thông tin, thu thập tư liệu từ người dân. Phỏng vấn bán cấu trúc
về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay ở ba địa bàn nghiên
cứu cụ thể dưới góc nhìn văn hóa học.
5.2. Tìm hiểu, xác định nguyên nhân văn hóa dẫn đến sự biến đổi, những
tương đồng hoặc khác biệt trong vai trò của người phụ nữ trong gia đình thuộc
phạm vi các địa bàn nghiên cứu.
5.3. Phân tích các xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình
ở Hà Nội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
6.1.1. Góp phần nhận diện, tìm hiểu thực trạng vai trò của người phụ nữ trong
gia đình trải qua sự phát triển, vận động của thời gian, lịch sử và văn hóa; nhận
diện sự biến đổi vai trò này trong bối cảnh hội nhập ngày nay.
6.1.2. Làm rõ vai trò tác động qua lại giữa các thành tố trong một hệ thống
với toàn bộ hệ thống và sự tương tác giữa các yếu tố trong một hệ thống.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
6.2.1. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà
quản lý, các cấp có thẩm quyền trong việc phát huy và nâng cao vai trò của người
9
phụ nữ trong gia đình, xây dựng và phát triển văn hóa gia đình, văn hóa con người
Việt Nam, văn hóa Việt Nam bền vững.
6.2.2. Luận án góp phần thêm tiếng nói vào nhận thức của người dân về vai
trò của người phụ nữ trong gia đình để từ đó có cách nhìn nhận, ứng xử và hành
động đúng đắn với người phụ nữ không chỉ trong các hoạt động của gia đình.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án có bốn
chương như sau:
Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu và lý
thuyết vận dụng
[100, tr. 495)]. Nhà nhân học Pháp Lévi-Strauss, trong The elementary structure of
kinship (Cấu trúc cơ bản của quan hệ thân tộc, 1949), thể hiện quan điểm phụ nữ
không bao giờ trở thành một ký hiệu theo đúng nghĩa, vì ngay cả trong thế giới của
đàn ông, họ vẫn là một con người và vì khi được xác định như là một ký hiệu, họ
phải được coi là nhân tố sản sinh các ký hiệu [141].
Simone de Beauvoir trong sách The Second Sex (Giới thứ hai, 1949) xuất phát
từ quan điểm nam nữ bình quyền để bàn vấn đề phụ nữ bị kẹt trong tình trạng bị áp
bức lâu dài qua sự loại bỏ mình nên dần trở thành giới ít quan trọng hơn (giới thứ
hai) trong mối quan hệ với nam giới. Thông qua việc dùng kiến thức của khoa học
sinh học, nhân loại học, thần thoại học, tác giả khẳng định không ngành nào đủ khả
năng để giải thích định nghĩa phụ nữ là giới thứ hai đối với nam giới cũng như vị
thế bị áp bức của họ, nhưng mỗi ngành này đều góp phần tạo nên vị thế đó của phụ
nữ. Việc phụ nữ có những thiên chức mà nam giới không hề có, như mang thai,
nuôi con… đã góp phần tạo vị thế, vai trò khác biệt rõ rệt của người phụ nữ so với
nam giới, song những biểu hiện sinh lý này không trực tiếp làm cho phụ nữ có vị
thế thấp kém hay vai trò kém quan trọng hơn bởi yếu tố sinh học và lịch sử không
11
đơn thuần là những sự thật thu được từ sự quan sát không thành kiến mà luôn được
cấu thành và giải thích từ một hoàn cảnh. Từ đó, Beauvoir chủ ý phá bỏ quan niệm
cho rằng phụ nữ sinh ra đã là phái yếu chứ không phải trở thành như vậy qua quá
trình vận động của xã hội [144].
Các nghiên cứu đã chỉ ra, trải qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử loài
người, đặc biệt từ khi xã hội chuyển sang chế độ phụ quyền, thay đổi phương thức
sản xuất, sinh hoạt, thì vị trí, vai trò của người phụ nữ cũng bị coi nhẹ. Friedrich
Engels, trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước đã chỉ rõ, chủ nghĩa phụ quyền đã bộc lộ bản chất bóc lột và thống trị rất
khắc nghiệt với phụ nữ, đánh dấu sự thất bại lịch sử có tính chất toàn cầu của giới
nữ. Việc phụ nữ ngày càng mất đi vai trò quyền lực cũng như quyền tự do tính giao
quan điểm cho rằng đàn ông mới là trung tâm nghiên cứu. Bộ sách Women,
Culture, and Society (Phụ nữ, văn hóa và xã hội) của Michelle Ronaldo viết năm
1974 có bài viết khẳng định vai trò và sự biến đổi vai trò của phụ nữ trong sự tiến
hóa của con người đã không được biết đến, bởi các nhà nghiên cứu chỉ tập trung
vào hoạt động săn bắt chứ không phải hoạt động hái lượm.
Nhìn chung, các công trình đã thể hiện quan điểm, cách nhìn nhận về phụ nữ
và biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình dưới những góc nhìn khá đa
dạng. Có thể thấy các tác giả có sự đồng thuận hoặc gặp gỡ nhau ở các điểm sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu thường được đặt trong tương quan với nam giới để
so sánh, luận giải các vấn đề về biến đổi vai trò của phụ nữ, gắn với đó là các vấn
đề xã hội (Max Gluckman, Collier, Michelle Ronaldo, Lévi-Strauss, Simone De
Beauvoir…).
Thứ hai, chỉ ra có sự phân biệt trong quan niệm về vai trò của phụ nữ và nam
giới. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, phụ nữ thường bị nhìn nhận vai trò thấp hơn
so với nam giới. Một trong những nguyên nhân căn bản là do đặc trưng về giới tính
dẫn đến sự phân biệt về quan niệm, vai trò, chức năng và cách nhìn nhận vai trò,
chức năng giữa phụ nữ và nam giới (Sherry B. Ortner, Simone de Beauvoir).
Thứ ba, từ phân biệt, dẫn tới có sự bất bình đẳng trong các lĩnh vực xã hội đối
với phụ nữ, do đó tất yếu ảnh hưởng đến biến đổi vai trò và việc thực hiện vai trò
của họ (Geogre Peter Murdock, Max Gluckman, Collier).
Thứ tư, hầu hết các công trình đều hướng đến mục tiêu giải quyết các vấn đề
liên quan đến biến đổi vai trò của phụ nữ trong mối liên hệ rộng, tương tác với xã
hội, chứ không thể chỉ bằng cách phân chia “một số nhiệm vụ và vai trò trong hệ
thống xã hội, hoặc thậm chí sắp xếp lại toàn bộ cơ cấu kinh tế” (Sherry B. Ortner),
mà “cần phải giải phóng mình và phục hồi cái tôi của mình”, “các cấu trúc xã hội
như luật pháp, giáo dục, phong tục… cần phải được điều chỉnh” (Simone de
Beauvoir), tức là cần có những thay đổi trong hệ thống xã hội, với sự phối hợp,
tham gia của nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, đối tượng khác nhau…
1.1.2. Nghiên cứu biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình của
các tác giả trong nước
Long. Ở đó, có thể thấy người phụ nữ khi đã lập gia đình thì “Thuyền theo lái, gái
theo chồng” [69, tr. 196]; ở cùng gia đình chồng, “bố chồng là lông con phượng,
mẹ chồng là tượng mới tô, nàng dâu là bồ nghe chửi” [69, tr.89]. Đồng thời, “làm
thân con gái thờ chồng nuôi con” [69, tr.191], “có con phải khổ vì con, có chồng
phải gánh giang sơn nhà chồng” [69, 188]. Nếu chồng vắng nhà, người phụ nữ phải
thay chồng gánh vác việc nhà: “Anh ơi! Phải lính thì đi/Cửa nhà đơn chiếc đã thì
có tôi/... Anh ơi, giữ lấy việc công/Để em cày cấy mặc lòng em đây [69, tr. 169]…
Mặc dù vậy, vai trò quan trọng của người phụ nữ trong mối quan hệ vợ - chồng
vẫn được khẳng định: “lệnh ông không bằng cồng bà” [69, tr. 193].
Các nghiên cứu chỉ rõ, dù người phụ nữ phải chịu ảnh hưởng từ tư tưởng Nho
giáo, nhưng khác với gia đình Nho giáo Trung Hoa, trong gia đình người Việt,
người vợ trong tương quan với chồng vẫn có vai trò nhất định, thậm chí quyết định
dù trải qua sự biến đổi, thăng trầm của thời gian. Theo Vũ Ngọc Khánh, dù ở thế
hệ nào, người phụ nữ cũng có quyền không thể xem là bình đẳng với nam giới, mà
phải đặt lên trên cả nam quyền, đó là quyền làm mẹ, cũng là quyền làm vợ. Thông
qua nghiên cứu một số trường hợp phụ nữ cụ thể (bà nội của Đặng Thai Mai, cụ bà
Vũ Như Kỳ, cụ án bà Nguyễn Chí Đạo…), tác giả Nguyễn Xuân Kính nhận định
14
phụ nữ Việt Nam xưa rất đảm đang, tháo vát trước những biến động của thời cuộc,
thực sự là “nội tướng” trong nhà. Như trường hợp bà nội của Đặng Thai Mai: “đảm
đương mọi việc trong nhà, lo đối nội đối ngoại, giỗ tết, ứng phó với chức dịch, nha
lại,… Cụ không chỉ lo toan việc nhà mà còn hiểu nghĩa lớn… khi cho các cháu đi
học chữ Pháp” [63, tr. 362]. Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý cho rằng do ảnh
hưởng của tư tưởng Nho giáo, phụ nữ trong gia đình không bao giờ thuộc hạng sử
(tức thuộc đối tượng những người chủ trong gia đình có quyền uy tuyệt đối trong
cả đối nội và đối ngoại) mà chỉ thuộc hàng sự (bậc thứ dưới) do bị trói buộc bởi
các nguyên tắc tam tòng, tứ đức. Nhiều nghiên cứu chỉ rõ, phụ nữ ngoài việc phải
làm tròn chức năng mang thai, sinh đẻ, cho con bú còn phải đảm đương việc sản
hệ trẻ, và giữ gìn sự cân bằng về tâm lý, tình cảm của các thành viên gia đình. Lê
Thi thể hiện quan điểm cần thực hiện bình đẳng giới mới có thể giúp người phụ nữ
đảm nhiệm tốt các trách nhiệm, vai trò của mình và đóng góp tích cực vào gìn giữ
văn hóa gia đình, văn hóa dân tộc và phát triển xã hội [111, tr.117].
Thứ hai, đặt biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình gắn với bối
cảnh làng xã, cộng đồng và các mối quan hệ xã hội.
Nhìn chung, do là các nghiên cứu định tính nên có thể nhận định, nội dung
nghiên cứu thường chỉ chính xác với những trường hợp nghiên cứu mà các tác giả
nêu ra. Điển hình, nghiên cứu của Bùi Xuân Đính chỉ ra, bối cảnh hệ thống thang
bậc xã hội của làng xã được dựa trên nền tảng tư tưởng là ý thức hệ Nho giáo đã
gạt toàn bộ nữ giới ra khỏi chốn đình trung và các hoạt động xã hội của làng, để họ
bị giam hãm trong “chế độ nô lệ gia đình” [37, tr. 137]. Tuy nhiên, theo Trần Quốc
Vượng, Thành Duy, phụ nữ có vai trò lớn trong sinh hoạt kinh tế, trong đời sống
xã hội, thể hiện qua nuôi dạy con cái, sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế, tài sản
gia đình; đấu tranh chống ách đô hộ của phong kiến xâm lược, góp phần bảo tồn,
phát huy tinh hoa văn hóa nước nhà. Trần Quốc Vượng chỉ ra những biến đổi linh
hoạt trong vai trò của người phụ nữ: “Ở Việt Nam, cứu nước không chỉ là nhiệm
vụ của đàn ông mà đàn bà cũng lo cứu nước” [128, tr. 118]. Lê Minh đã khái quát
những bước chuyển trong vai trò của phụ nữ trải qua các thời kỳ lịch sử, từ thời cổ
xưa khi đàn ông là chủ nô thì phụ nữ là “vật trao đổi” và “công cụ sinh đẻ”; ở thời
phong kiến, đàn ông là gia trưởng, thì phụ nữ là “vật mua bán” để làm phận “máy
đẻ” và phục vụ chồng con, gia đình nhà chồng. Trong chiến tranh, người phụ nữ
tham gia tích cực chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Song, khi hòa bình lập lại, những
người đàn ông từ chiến trường trở về, phụ nữ Việt Nam mất dần vai trò ở xã hội và
gia đình mà họ đã tạo dựng được trong kháng chiến. Vai trò tham gia các hoạt
động xã hội, quyền quyết định những việc lớn trong lao động sản xuất, kinh tế, ứng
xử với họ hàng, làng mạc và trong nội bộ gia đình, hướng nghiệp cho các con…
đều chủ yếu do người đàn ông nắm giữ [79, tr. 155 - 156]. Tuy nhiên, trong xã hội
ngày nay, phụ nữ đang dần vươn lên làm chủ cuộc đời mình bằng nghề nghiệp,
bằng kiến thức của bản thân, đi đầu trong cuộc cách mạng giải phóng sức lao động,
Những năm gần đây, trước thực trạng một bộ phận không nhỏ phụ nữ Việt
Nam kết hôn với người nước ngoài, một số nghiên cứu đã thể hiện và làm rõ vai
trò của họ trong gia đình qua quá trình hòa nhập xã hội, sinh sống với gia đình
chồng ở ngoại quốc. Thông qua nghiên cứu trường hợp những người phụ nữ Việt
Nam lấy chồng người Trung Quốc ở Vạn Vĩ (Đông Hưng, Quảng Tây, Trung
Quốc), Nguyễn Thị Phương Châm khẳng định dù có nhiều khó khăn về khác biệt
văn hóa, lối sống,…, nhưng những người phụ nữ đã năng động, chủ động và thông
minh trong quá trình thích nghi với cuộc sống mới để có cuộc sống yên ổn nơi đất
mới [16, tr. 376]. Nghiên cứu của Phạm Văn Bích (viết cùng Iwai Misaki) cho thấy
sự nỗ lực vươn lên của một bộ phận cô dâu Việt lấy chồng Đài Loan để đảm đương
vai trò làm vợ, làm mẹ cũng như trong các hoạt động đối nhân xử thế để tồn tại,
hòa nhập được với văn hóa nước sở tại, mặc dù lấy chồng Đài Loan “cũng giống
như chơi xổ số” [81, tr.467].
Qua tổng quan những nghiên cứu về biến đổi vai trò của người phụ nữ trong
gia đình của các tác giả nước ngoài và trong nước, có thể rút ra một số nhận xét
sau:
17
- Biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình là tất yếu, mang những sắc
thái đa dạng. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về mảng này chưa nhiều; góc
tiếp cận chủ yếu là Xã hội học, Nhân học, Tâm lý học, các công trình dưới góc độ
Văn hóa học còn ít, chưa chuyên sâu.
- Vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu mang tính tổng thể về biến đổi
vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội thông qua nghiên cứu các địa bàn
có tính đại diện, từ đó làm rõ biến đổi vai trò với các khía cạnh khác nhau ở những
đối tượng thuộc nghề nghiệp, trình độ học vấn, vị thế xã hội … khác nhau.
- Nội dung chủ yếu của các công trình đề cập tới những biến đổi vai trò của
người phụ nữ trong gia đình gắn với bối cảnh gia đình, hoặc bối cảnh làng xã, cộng
đồng và các mối quan hệ xã hội, nhưng hầu hết đều từ góc độ nhà khoa học, nhà
Những khoảng trống trong các nghiên cứu trên đây sẽ được khắc phục trong
luận án này.
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu đi trước, luận án cho rằng, sự khác biệt
về đặc điểm về giới tính và quan niệm về giới dẫn đến những phân biệt trong đánh
giá, nhìn nhận vai trò của người phụ nữ. Đồng thời, đặt việc tìm hiểu biến đổi vai
trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay chủ yếu trong bối cảnh gia
đình, song cũng gắn với bối cảnh xã hội rộng hơn nhằm có cái nhìn đa dạng, khách
quan hơn. Để khắc phục những gì các nghiên cứu đi trước chưa thể hiện rõ, luận án
tập trung nghiên cứu biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội
hiện nay dưới góc nhìn Văn hóa học, trên cơ sở tinh thần để “người trong cuộc”
(tức người phụ nữ) được tự nói, tự thể hiện những biến đổi vai trò của mình trong
đời sống gia đình, bên cạnh tiếng nói của các thành viên khác trong gia đình. Nội
dung luận án cũng sẽ tập trung thể hiện sự đa dạng trong biến đổi vai trò của người
phụ nữ trong gia đình ở các đối tượng phụ nữ thuộc nghề nghiệp, trình độ học vấn,
vị thế xã hội… khác nhau, thuộc các gia đình khác nhau, các thế hệ (lứa tuổi) khác
nhau để nhận thấy những sự tương đồng hay khác biệt, những biểu hiện tích cực
hay tiêu cực… trong biến đổi vai trò của họ trong gia đình ở cái nhìn đa chiều trải
qua thời gian văn hóa và không gian văn hóa nhất định. Thông qua những biểu
hiện biến đổi đó, luận án kiến giải những căn nguyên văn hóa, nhân tố tác động
đến sự biến đổi này, đồng thời chỉ ra các xu hướng biến đổi vai trò của người phụ
nữ trong gia đình thời gian tới.
1.2. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và văn hóa gia đình ở Hà Nội
1.2.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Phường Hàng Bông là phường thuộc đô thị Hà Nội gốc, mang nhiều nét đặc
trưng của văn hóa đô thị Hà Nội truyền thống. Diện tích của phường là 0,18km2,
gồm 10 tuyến phố và 3 ngõ, là một trong những phường nằm trong khu vực phố cổ
của quận Hoàn Kiếm - trung tâm của Thủ đô Hà Nội. Phường có hơn 1.800 hộ dân
với gần 9.000 nhân khẩu phân bố trên 42 tổ dân phố, với vị trí địa lý phía Bắc giáp
phường Điện Biên và phường Cửa Đông, phía Đông tiếp giáp với phường Hàng
Gai và phường Hàng Trống, phía Tây giáp với phường Cửa Nam và phường Điện
thái văn hóa đô thị Hà Nội gốc gắn với những biểu hiện, biến đổi sinh động về vai
trò của người phụ nữ trong gia đình vẫn được thể hiện, duy trì và tiếp nối qua các
thế hệ gia đình ở phường Hàng Bông. Hiện nay, sinh kế của người dân tập trung
chủ yếu vào hoạt động thương mại, như kinh doanh, buôn bán, làm du lịch, cho
thuê nhà... Các hoạt động này không chỉ thu hút sự tham gia của những người
thuộc lứa tuổi trẻ hoặc trung niên, mà cả người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ do tập
quán làm ăn, buôn bán từ các thế hệ trước truyền lại. Theo kết quả thu được trên cơ
sở 150 phiếu điều tra xã hội học phát ra trên địa bàn, tỉ lệ người dân làm kinh
doanh, buôn bán tương đối cao với 40,0% (trong đó nữ chiếm quá nửa), số người
là cán bộ, công chức chiếm 16,0%, còn lại làm các nghề khác hoặc làm nội trợ,
hoặc đang đi học. Với tốc độ đô thị hóa thời hội nhập, bộ mặt phường Hàng Bông
đang dần thay đổi với nhiều hoạt động phát triển thương mại, kinh tế, văn hóa…
kéo theo đó tất yếu là những biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình.
Phường Mỹ Đình 1 thuộc quận Nam Từ Liêm, nằm ở phía tây Thủ đô Hà
Nội, cách trung tâm thành phố 10 km. Phường được thành lập theo Nghị quyết số
132/NQ-CP do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 27/12/2013 về việc điều chỉnh
20
địa giới hành chính huyện Từ Liêm để thành lập 2 quận và 23 phường thuộc thành
phố Hà Nội. Phường được hình thành trên cơ sở một phần diện tích tự nhiên và dân
số của xã Mỹ Đình trước đây, với diện tích tự nhiên 228.20 ha và 23.987 nhân
khẩu gồm các tổ dân phố: Nhân Mỹ, Đình Thôn, Tân Mỹ, tổ dân phố 1, 2, 3 khu đô
thị Mỹ Đình 3, tổ dân phố CT1 Sông Đà, tổ dân phố The Manor. Trên địa bàn
phường có các tuyến đường giao thông huyết mạch chạy qua như: đường Phạm
Hùng, đường Lê Đức Thọ… thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Phường Mỹ Đình 1 có phía Bắc giáp phường Mỹ Đình 2 và Cầu Diễn, phía
Nam giáp phường Mễ Trì và Phú Đô, phía Đông giáp Quận Cầu Giấy, phía Tây
giáp phường Cầu Diễn, Xuân Phương và Tây Mỗ. Hiện nay, trên địa bàn phường
có khoảng trên 300 cơ quan, doanh nghiệp, đặc biệt có Khu Liên hợp thể thao
lĩnh vực, ngành nghề khác như lực lượng vũ trang, nghề tự do, hoặc là học sinh,
sinh viên…
Xã Đồng Trúc là xã vùng đồi gò nằm ở phía tây nam huyện Thạch Thất, cách
trung tâm thành phố Hà Nội 30km về phía đông và có hơn 2,4km đại lộ Thăng
Long chạy qua địa bàn. Xã có tổng diện tích tự nhiên 663,25 ha với 1.715 hộ dân
(6.885 nhân khẩu) sống phân bố ở 6 làng: Trúc Động, Đồng Kho, Đồng Táng, Trúc
Voi, Khu Ba và Chằm Muộn. Tỉ lệ phụ nữ chiếm 52,4% dân số, lao động nữ chiếm
trên 53%. Người dân trong xã sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp và một số
nghề phụ như làm thợ mộc, thợ nề và tham gia lao động ở một số doanh nghiệp,
nhà máy đóng gần địa bàn xã.
Từ năm 1930 đến trước năm 1945, đại đa số người dân xã Đồng Trúc làm
nông nghiệp, một bộ phận nhỏ theo người nhà, người quen đi làm thuê ở đô thị Hà
Nội hoặc các vùng lân cận. Trước năm 1975, đại bộ phận các gia đình vẫn sinh
sống bằng nghề nông, và nhiều gia đình có con em tham gia các hoạt động kháng
chiến, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Lần sáp nhập đầu tiên vào Hà Nội (từ năm 1978
đến 1991) do điều kiện kinh tế địa phương còn khó khăn, phương tiện giao thông,
đi lại hạn chế, kéo theo đó là các hoạt động giao thương, giao lưu và tiếp biến văn
hóa với Thủ đô không mấy phát triển, nên cuộc sống của người dân cũng như vai
trò của người phụ nữ trong gia đình không chịu quá nhiều tác động. Trước năm
1986, phần lớn người dân xã Đồng Trúc tiếp tục sinh sống nhờ làm nông nghiệp,
một bộ phận nhỏ làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp nhà nước hoặc làm các
nghề khác. Sau năm 1986, dưới ảnh hưởng của Đổi mới và hội nhập kinh tế thị
trường, hoạt động sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình vẫn tiếp tục được duy
trì. Bắt đầu từ khoảng những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, đã có một bộ
phận người dân, đặc biệt là thanh niên, thoát ly quê hương để học tập, làm việc... ở
các thành phố lớn. Lần sáp nhập thứ hai (từ 01/08/2008 đến nay), xã Đồng Trúc
với vị thế không quá xa trung tâm thành phố Hà Nội, lại có đại lộ Thăng Long
chạy qua nên có nhiều người (chủ yếu ở Hà Nội hoặc các xã lân cận) về mua đất,
đầu tư các hoạt động kinh doanh, dịch vụ,… Dưới ảnh hưởng của tiến trình phát
triển, hội nhập của đất nước và sự mở rộng đô thị của Hà Nội, với lợi thế gần khu
xưa để lại. Các khu vực phố phường, “vì công việc, vì phong khí mà con người có
những nét riêng. Phía Tây Hồ Gươm… là nơi đi lại của các văn nhân, sĩ tử, ảnh
hưởng của các trường Dưỡng Am, Hồ Đình. Phía cửa sông Tô Lịch lên Hàng Đậu,
các trường Phương Đình và Cúc Hiên; hễ gần đến ngày “Bình văn” là các đình
chùa chật ních, những thầy đồ từ các tỉnh về, trọ để đi nghe giảng. Từ Hàng Buồm,
Hàng Bè đến Cầu Đất, đi lại những người da sạm, râu hùm, những người hồ hởi, đi
mành ra Bắc, vào Nam. Ở Ngũ Xã với Hàng Bừa, rộn tiếng bễ, tiếng búa quai của
những người lực lưỡng, đúc đồng, nấu gang. Ở giữa thành, Hàng Gai, Hàng Đào
như là khu vực của các vị ngoài hào hoa và trong phong nhã” [115, tr. 30). Trải
qua nhiều năm tháng, đến ngày nay, Hà Nội vẫn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn
hóa của đất nước. Ở đó, các thế hệ, thành viên gia đình vẫn nối tiếp nhau duy trì
các giá trị văn hóa gia đình của Hà thành.
Là một bộ phận góp phần cấu thành văn hóa gia đình đất nước ta, văn hóa gia
đình ở Hà Nội cũng mang những đặc điểm chung của gia đình người Việt truyền
thống, như:
- Thuộc loại gia đình phụ quyền, con cái truyền theo dòng bố và mang tộc
danh phía bố (con sinh ra theo họ bố).
23
- Mang nhiều nét đặc thù Á Đông, chịu ảnh hưởng của Khổng giáo (đặc biệt
là những thành viên gia đình có điều kiện được học chữ Hán), như: trọng nam,
thích có con trai nối dõi.
- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa gia đình và dòng họ (trọng quan hệ huyết thống),
nhìn rộng ra là sự gắn bó chặt chẽ quan hệ gia đình - tộc họ - làng, nước.
- Vừa đề cao tính cộng đồng, có tinh thần vì lợi ích chung, vừa coi trọng đúng
mức vai trò cá nhân, song tính cộng đồng, tập thể thường “lấn át” tính cá nhân.
- Về cơ bản, người phụ nữ có địa vị bình đẳng với nam giới, điều này xuất
phát từ đặc trưng nền văn hóa nông nghiệp lúa nước tự cung, tự cấp và hoàn cảnh
sống của gia đình người Việt. Về bản chất, nam giới có vai trò, vị trí trong các hoạt
kệch cỡm, hoạnh họe, lố lăng, đê tiện”; … ở với nhau “biết nhịn”, “biết nể”, “biết
ngượng”, “suy bụng ta ra bụng người”. Trong thôn phố, có việc là chạy sang thăm
hỏi nhau ngay, ở với nhau chu tất, ăn ý, không “bỏ được lòng nhau”… Người ta
tóm cả cái thanh, cái cao, cái lịch sự, ẩn ý vào hai chữ “thanh lịch”. [115, tr. 30-31]
Từ đó, góp phần làm nên những giá trị gắn kết, đùm bọc, yêu thương nhau giữa các
thành viên trong gia đình, sự chu đáo, lịch thiệp trong ứng xử với làng xóm, cộng
đồng; làm nên tính chất thanh lịch, hào hoa đặc trưng về lời ăn, tiếng nói, về nếp
sống, hành động hằng ngày của văn hóa gia đình Hà Nội. Đặc biệt, các gia đình Hà
Nội, từ trí thức, nông dân đến những thương gia… đều đề cao giáo dục và đặt danh
dự lên hàng đầu. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có một số hạn chế, như: đề cao quá
mức tính hàn lâm, bác học trong đời sống thường nhật nên khả năng vận dụng thực
tế, tiếp nhận những yếu tố văn hóa mới còn chậm, thậm chí bị coi nhẹ; chậm đổi
mới và ít đột phá do sự cẩn trọng, chắc chắn dẫn đến dè dặt, thiếu quyết đoán, táo
bạo; tính kín đáo khiến nhiều thành viên gia đình trở nên khách sáo, thiếu chân
tình, thẳng thắn…
Từ nhận định của Phan Đại Doãn cho rằng, trước Cách mạng tháng Tám năm
1945, ở nông thôn có hai loại gia đình: gia đình của những người lao động nông
dân và gia đình của tầng lớp thượng lưu [137], tìm hiểu thực tế Hà Nội trước năm
1945, về cơ bản, ở nông thôn Hà Nội cũng có hai loại gia đình như trên. Tương tự,
ở đô thị Hà Nội cũng có hai loại gia đình, gồm: gia đình của những người lao động
và gia đình của tầng lớp thượng lưu. Gia đình của những người lao động thường là
những người buôn bán nhỏ, làm thuê, làm mướn (như trường hợp các gia đình
nghèo, gia đình bình dân ở phường Hàng Bông); gia đình của tầng lớp thượng lưu
thường gồm những người buôn bán phát đạt, những người làm việc cho chính
quyền thực dân Pháp hoặc một số gia đình trí thức… Sau năm 1945, các gia đình ở
Hà Nội thường được phân chia thành gia đình nông dân, gia đình công nhân, gia
đình trí thức. Những năm gần đây, các nghiên cứu về gia đình ở Hà Nội thường lựa
chọn cách phân chia loại hình gia đình theo nghề nghiệp (gia đình trí thức - gia
đình nông dân - gia đình buôn bán...), theo điều kiện kinh tế (gia đình khá giả - gia
đình bình dân - gia đình nghèo), hoặc theo quy mô (gia đình hạt nhân - gia đình