MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài
1.1. Những vấn đề cơ bản đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
1.2. Tác động FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội
Chương 2: Thực trạng thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài của tỉnh Đắk Lắk
2.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI
2.2. Những kết quả hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Đắk Lắk
Chương 3: Giải pháp nâng cao tác động tích cực của fdi đối với
phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Đắk Lắk
3.1. Mục tiêu, định hướng, những giải pháp nhằm thu hút và quản lý
hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Đắk Lắk cho
thời kỳ tới.
3.2. Giải pháp thu hút và quản lý hiệu quả nguồn vốn FDI
Kết luận, kiến nghị
Phụ lục
1
Trang
1
2
2
5
10
10
13
thị trường xuất khẩu, phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại của tỉnh và khu vực Tây
Nguyên. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã và đang trở thành một bộ phận kinh
tế quan trọng của tỉnh, đóng góp ngày càng tăng trong tổng sản phẩm của tỉnh Đắk
Lắk.
Tuy nhiên, hoạt động FDI những năm qua còn bộc lộ nhiều mặt yếu kém.
Như số lượng, quy mô cơ cấu dự án còn nhỏ lẻ nhất là trong lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp và chế biến nông sản, thực phẩm; nhiều dự án ngừng hoạt động.
Vì vậy việc đánh giá đúng thực trạng để tìm ra những giải pháp nhằm tăng
cường thu hút FDI đối với tỉnh trở thành vấn đề cấp bách. Nhận thức tầm quan
trọng đó nên tôi chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả của nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk” cho bài tiểu luận.
CHƯƠNG 1
1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP TỪ NƯỚC NGOÀI
1.1.1. Các khái niệm liên quan
* Khái niệm đầu tư
Đầu tư là một hoạt động kinh tế, là một bộ phận của sản xuất - kinh doanh
của các doanh nghiệp. Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm lực của nền
kinh tế nói chung của từng doanh nghiệp nói riêng, là động lực để thúc đẩy xã
hội đi lên. Có thể hiểu một cách khái quát: Đầu tư là bỏ ra khoản chí phí trong
hiện tại nhằm mục đích sinh lời trong tương lai.
Về mặt địa lý, có hai loại hoạt động đầu tư là: Hoạt động đầu tư trong nước
và Hoạt động đầu tư nước ngoài.
* Đầu tư nước ngoài
Khái niệm đầu tư nước ngoài: Đầu tư nước ngoài hình thức di chuyển vốn từ
nướcnày sang nước khác nhằm mục đích kiếm lời. Đầu tư nước ngoài có một số
quản lý quá trình sản xuất kinh doanh;
- Về quyền điều hành quản lý, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào
mức vốn góp, nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn thì quyền hành hoàn toàn thuộc
về nhà đầu tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý;
- Về phần chia lợi nhuận, dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lãi lỗ, đều
được phân chia theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định sau khi đã trừ các khoản
đóng góp.
Từ những quan niệm trên có thể hiểu FDI là sự di chuyển vốn quốc tế dưới
hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một
nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản
xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý... nhằm mục
đích thu lợi nhuận.
1.1.2. Hình thức đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
Có nhiều tiêu thức để xác định hình thức FDI, về cơ bản là:
Thứ nhất, xét theo mục đích đầu tư, FDI được phân làm hai hoặc đầu tư theo
chiều ngang và đầu tư theo chiều dọc.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang: là việc một công ty tiến hành
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào chính ngành sản xuất mà họ đang có lợi thế cạnh
tranh một loại sản phẩm nào đó. Với lợi thế này họ muốn tìm kiếm lợi nhuận cao
hơn ở nước ngoài nên đã mở rộng và thôn tính thị trường nước ngoài. Hình thức
này thường dẫn đến cạnh tranh độc quyền mà Mỹ, Nhật Bản đang dẫn đầu việc đầu
tư này ở các nước phát triển.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều dọc: Với mục đích khai thác nguồn
tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố đầu vào rẻ như lao động, đất đai của các nước
nhận đầu tư. Các nhà đầu tư thường khai thác các lợi thế cạnh tranh đó để hoàn
thiện qua lắp ráp ở nước chủ nhà. Sau đó các sản phẩm được bán trên thị trường
quốc tế. Đây là hình thức khá phổ biến của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại các nước đang phát triển.
3
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ
tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn kinh doanh, nhà đầu tư nước ngoài
chuyển giao cho nước chủ nhà công trình đó mà không nhận bồi hoàn bất kỳ khoản
nào.
Hợp đồng BOT thường được thực hiện bằng 100% vốn nước ngoài, cũng có
thể được thực hiện bằng vốn nước ngoài và phần góp vốn của chính phủ hoặc các
4
tổ chức, cá nhân của nước chủ nhà.
+ BTO: là phương thức đầu tư dựa trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước
có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh
doanh công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài
chuyển giao công trình cho nước chủ nhà. Nước chủ nhà có thể sẽ dành cho nhà
đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn
đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
+ BT: là một phương thức đầu tư nước ngoài trên cơ sở văn bản ký kết giữa
cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài, để
xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà. Chính phủ nước chủ nhà tạo
điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và
lợi nhuận hợp lý.
Các hình thức BOT, BTO, BT có ưu điểm là thu hút vốn đầu tư vào những dự
án xây dựng cơ sở hạ tầng với đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian
khá dài. Như vậy sẽ làm giảm áp lực cho ngân sách, đồng thời lại có được các công
trình hoàn chỉnh để phát huy các nguồn lực khác nhằm phát triển kinh tế - xã hội. Tuy
nhiên, với các phương thức này, nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý,
công nghệ tiên tiến và khó kiểm soát công trình.
Ngày nay, cùng với sự gia tăng của dòng vốn FDI, thì ngày càng xuất hiện
nhiều hình thức đầu tư mới, đa dạng nhằm đưa lại hiệu quả cao cho nhà đầu tư và
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của nước tiếp nhận, thúc đẩy quá trình này trên nhiều phương diện:
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu các thành phần
kinh tế, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu công nghệ, cơ cấu lao động...
Khu vực FDI đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ
thống kinh tế quốc dân.
1.2.1.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần thúc đẩy phát triển công
nghệ, kỹ thuật, phương thức quản lý tiên tiến
Đây là điểm hấp dẫn quan trọng của FDI, bởi vì hầu hết các nước đang phát
triển có trình độ khoa học và công nghệ thấp, trong khi phần lớn những kỹ thuật
mới được phát minh trên thế giới vẫn xuất phát chủ yếu từ các nước công nghiệp
phát triển. Do đó để rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước công nghiệp phát
triển các nước đang phát triển cần nhanh chóng tiếp cận với các kỹ thuật mới. Có
nhiều phương thức chuyển giao công nghệ khác nhau như nhập khẩu thiết bị, kỹ
thuật, mua hoặc hợp đồng sử dụng bản quyền, sáng chế; tự thiết kế và sản xuất
theo bản thiết kế tổng thể do bên nước ngoài cung cấp... Thực tế cho thấy, FDI là
một kênh quan trọng đối với việc chuyển giao công nghệ cho các nước vừa thiếu
vốn, vừa có trình độ phát triển thấp, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý kém, đội
ngũ cán bộ chưa được đào tạo đầy đủ.
Các doanh nghiệp FDI còn có tác dụng phổ biến những công nghệ hiện đại,
công nghệ sạch, giữ gìn môi trường theo các tiêu chuẩn tiên tiến cho các doanh
nghiệp trong nước, nhờ thế mà thúc đẩy khoa học - công nghệ phát triển. Ngoài ra,
6
do áp lực cạnh tranh từ doanh nghiệp FDI, buộc các doanh nghiệp trong nước phải
nhanh chóng học hỏi, vươn lên, đổi mới kỹ thuật, công nghệ, cải tiến quản lý, tăng
cường đào tạo cán bộ... làm cho tốc độ hiện đại hóa được nâng lên rõ rệt.
Đồng thời, FDI có tác dụng rõ nét hơn các hình thức đầu tư nước ngoài khác
Hoạt động FDI góp phần quan trọng đối với đẩy mạnh xuất khẩu và cải thiện
7
cán cân thanh toán. Trong đó, xuất khẩu là một trong những giải pháp tăng trưởng
kinh tế, góp phần tăng thêm thu nhập cho nền kinh tế, từ đó tạo điều kiện để giải
quyết các vấn đề xã hội. Thông qua thặng dư xuất khẩu và chuyển vốn đầu tư vào
Việt Nam, hoạt động FDI góp phần vào việc hạn chế thâm hụt của cán cân thanh
toán.
Ngoài ra, FDI còn góp phần tích cực hòan thiện, nâng cao nghiệp vụ quản lý
xuất nhập khẩu theo tiến trình hội nhập quốc tế: như hải quan, thực hiện lộ trình cát
giảm thuế; nâng cao hệ thống kinh tế - kỹ thuật xuất nhập khẩu như: thương mại
điện từ, ngân hàng điện tử, vận tải (cảng công ten nơ, hệ thống vận tải bồn dầu theo
tiêu chuẩn quốc tế, cầu cảng, hàng không....).
1.2.1.4. FDI góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực
* FDI góp phần giải quyết việc làm
Bằng việc tăng nguồn vốn đầu tư xã hội, FDI tác động đến cung – cầu lao
động; nó không những trực tiếp thu hút và sử dụng lao động, mà còn gián tiếp tạo
thêm việc làm cho các ngành dịch vụ và cho các ngành công nghiệp phụ trợ trong
nước.
Ở nước ta, FDI đã trực tiếp thu hút, giải quyết số lượng việc làm cho xã hội.
Số người lao động trong các doanh nghiệp FDI tăng lên hàng năm. Cùng với việc
phát triển của khu vực FDI, nhiều lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, cung ứng dịch vụ
cho khu vực này cũng phát triển theo. Như vậy, sẽ nâng cao khả năng tạo việc làm,
giảm bớt tỉ lệ thất nghiệp. Hiện nay, với chính sách tăng dần tỉ lệ nội địa hóa trong
sản phẩm của các doanh nghiệp FDI các ngành sản xuất ô tô, xe máy, giày da, may
mặc…. đã xuất hiện thêm nhiều doanh nghiệp vệ tinh cung cấp sản phẩm dịch vụ
cho doanh nghiệp FDI, tạo ra nhiều việc làm.
* FDI góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:
nghiệp ở nước tiếp nhận, nhất là trong trường hợp liên doanh, để thực hiện biện
pháp “chuyển giá” (transfer pricing) thông qua cung ứng nguyên vật liệu, chi tiết,
linh kiện, bộ phận, sản phẩm dở dang với giá cao, thu lợi ngay từ khâu này, làm
cho giá thành sản phẩm cao một cách giả tạo, giảm lợi nhuận, thậm chí gây ra “lỗ
giả, lãi thật”, gây thiệt hại cho người tiêu dùng và giảm thu ngân sách của nước sở
tại. Cụ thể:
- Khai tăng giá trị tài sản góp vốn. Đây là hiện tượng khá phổ biến. Gần đây,
Công ty Giám định quốc tế SGS (Thụy sĩ) tiến hành giám định thí điểm 14 dự án
FDI theo hình thức liên doanh tại Việt Nam thì đã có 8 dự án chủ đầu tư báo thiết
bị nhập khẩu cao hơn 10-20% giá thực tế.
- Mua nguyên liệu, vật liệu và các yếu tố sản xuất đầu vào khác cao hơn giá
thực tế.
- Quản lý và sử dụng chi phí không hợp lý. Ví dụ chi phí tiếp thị, quảng cáo
rất lớn so với thực tế. Chẳng hạn như Công ty Cocacola chi cho quảng cáo, khuyến
mại, phân phối sản phẩm, quản lý hành chính của liên doanh chiếm tới 41,8%
doanh thu so với 20% doanh thu được phê duyệt tại luận chứng kinh tế ban đầu.
- Trốn thuế. Ở nước ta hiện nay “những vi phạm pháp luật về thuế vẫn còn
9
diễn ra phổ biến, dưới nhiều hình thức khác nhau.... Lợi dụng sự kém hiểu biết về
chế độ kế tóan nước ngoài và trình độ ngoại ngữ yếu của cán bộ thuế, các công ty
này áp dụng hình thức kế tóan đa dạng, phức tạp nhằm bịt mắt, qua mặt cán bộ
thuế... Nhiều công ty hạnh tóan lỗ cao, khai thấp thu nhập so với thực tế để giảm
thuế thu nhập phải nộp”
Ngoài việc lợi dụng “chuyển giá”, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước,
doanh nghiệp FDI còn gây sức ép cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước. Thông
qua sức mạnh hơn hẳn về tiềm lực tài chính, công nghệ, các doanh FDI tạo ra sự
cạnh tranh khốc liệt đến các doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp trong
nước nếu không đủ mạnh dễ bị mất thị phần, làm ăn thua lỗ, thậm chí phá sản. Đôi
mức độ chênh lệch phát triển trong một vùng hoặc giữa các vùng... Đặc biệt, sự gia
tăng số lượng dự án FDI, bao giờ cũng kèm theo sức ép về các chính sách an sinh
xã hội, trật tự an toàn cho nước chủ nhà. Việc đầu tư cho an sinh xã hội cũng đòi
hỏi chi phí ngân sách không nhỏ, như: xây dựng nhà ở, trường học, y tế, công trình
văn hóa - xã hội, vệ sinh môi trường, các dịch vụ công khác…..
Đặc biệt, hiện tượng các chủ doanh nghiệp FDI lợi dụng sự thiếu hiểu biết của
các cơ quan, cán bộ quản lý và người lao động, kẽ hở của chính sách, pháp luật
Việt Nam để khai thác triệt để sức lao động của công nhân; ở nhiều nơi còn có
hành động đối xử bất công, xúc phạm nhân phẩm người lao động, gây mâu thuẫn,
phản kháng của công nhân như xô xát, đình công, lãn công…
Trên đây là một số tác động tiêu cực của FDI. Tuy nhiên, những tác động gây
ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội ra sao, mức độ thế nào, còn phụ thuộc vào yếu tố
chủ quan của nước chủ nhà. Nếu chúng ta có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy đủ và có
các biện pháp phù hợp, thì có thể hạn chế, giảm thiểu được những tác động tiêu
cực, bất lợi, phát huy mặt tích cực của FDI cho tiến trình phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THU HÚT NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI CỦA TỈNH ĐẮK LẮK
11
2.1. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU HÚT FDI
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Đắk Lắk nằm ở vị trí trung tâm của vùng Tây Nguyên gồm có 15 huyện, thị
xã, thành phố. Đắk Lắk có diện tích tự nhiên là 13125,37 km 2, dân số gần 1,8 triệu
người có 72 km đường biên giới với tỉnh Moldulkiri - Cam Pu Chia, phía Bắc giáp
Gia Lai, phía Nam giáp Lâm Đồng và Đăk Nông, phía Đông giáp Khánh Hoà và
trữ lượng hơn 1 triệu m3. Rừng có nhiều loại động, thực vật phong phú, đa dạng,
nhiều chủng loại với số lượng lớn. Đặc biệt có vườn quốc gia Yook Đôn, vườn
quốc gia Chư Yang Sin rộng hàng trăm ngàn héc ta, là nơi bảo vệ các loại động,
thực vật quý hiếm ở nước ta. Ở đây có nhiều cây dược liệu quý, đáng kể như là các
loại: Huyết giác, thiên môn, hổ cốt toái, sâm tuế, hải sơn, thanh học…
Đắk Lắk có lợi thế địa hình đa dạng, không chỉ mạnh về cây công nghiệp mà
còn có điều kiện phát triển cây lương thực, thực phẩm với hàng trăm ngàn héc ta
đât phù sa mãu mỡ, có thể làm hai ba vụ lúa trong một năm. Nguồn tài nguyên
thiên nhiên ở Đắk Lắk cũng rất phong phú, đa dạng…
2.1.2. Các chính sách khuyến khích và hổ trợ về đầu tư nước ngoài của
địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh ĐắkLắk, đến nay HĐND tỉnh
ĐắkLắk đã ban hành Nghị Quyết 27/2011/NQ-HĐND, ngày 22/12/2011 chính sách
khuyến khích hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh ĐắkLắk giai đoạn 2012-2015. Quyết
định 1331/2008/QĐ-UBND, ngày 5/7/2006 của UBND tỉnh về cơ chế sử dụng
Ngân sách địa phương đầu tư trong các cụm, điểm công nghiệp trên địa bàn tỉnh;
Quyết định 43/2008/QĐ-UBND, ngày 8/11/2007 về Hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngân
sách tỉnh đầu tư bổ sung một số hạng mục công trình bên trong hàng rào cụm công
nghiệp; Quyết định 02/2010/QĐ- UBND ngày 22/01/2010 về việc ban hành quy
định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh
ĐắkLắk; Quyết định 01/2011/QĐ-UBND ngày 7/01/2011 về việc ban hành quy
định giá bồi thường cây trồng, hoa màu trên đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa
bàn tỉnh…
Với các lợi thế so sánh và tiền đề nêu trên, ngày nay ĐắkLắk đã và đang là
địa chỉ tin cậy, điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
2.2. NHỮNG KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI
ĐẮK LẮK
2.2.1. Tình hình xúc tiến, thu hút hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài
hoạch Đầu tư cấp giấy phép. Thu hút được 5 dự án với tổng vốn 27.909 triệu USD,
đến nay 03 dự án đã ngừng hoạt động (tổng vốn 9.741 triệu USD), 01 dự án đã
chuyển đổi thành 100% vốn trong nước, 01 dự án còn hoạt động là Dự án thành lập
Công ty liên doanh DakMan Việt Nam.
Từ tháng 6/2006 - 2013: các dự án thuộc giai đoạn này do UBND tỉnh cấp
Giấy chứng nhận đầu tư. Thu hút được 7 dự án với tổng số vốn 156,1 triệu USD.
2.2.1.2. Tình hình triển khai thực hiện các dự án FDI
Do vướng mắc trong quá trình thực hiện, đã có 04 dự án ngừng hoạt động, cụ
thể:
- Dự án thành lập Công ty TNHH Koresvina, kinh doanh trong lĩnh vực chế
biến xuất khẩu các sản phẩm gỗ, thành lập năm 1991. Tuy nhiên, Liên doanh này
gặp khó khăn về đầu ra của sản phẩm và một số vướng mắc trong chính sách xuất
khẩu gỗ do đó đã ngừng hoạt động và bị rút giấy phép sau hơn 2 năm hoạt động.
- Dự án liên doanh trồng và kinh doanh 200 ha ca cao giữa xí nghiệp bánh kẹo
Sinperôpôn của Ucraina với Nông trường Cà phê Tháng 10 của tỉnh (xí nghiệp liên
14
doanh Bakrư) thành lập năm 1993, vốn đầu tư 1,678 triệu USD, song dự án này
cũng không triển khai được do phía nước ngoài không đủ khả năng góp vốn và bị
rút giấy phép đầu tư.
- Dự án thành lập Công ty Liên doanh sản xuất phân vi sinh Đắk Lắk - Earth
care giữa Công ty Đầu tư phát triển Buôn Gia Wầm và Công ty Earthcare Việt
Nam (Hoa Kỳ); tổng vốn đầu tư 7,5 triệu USD cấp giấy phép đầu tư năm 1998.
Tuy nhiên, do cả hai đối tác liên doanh đều không đủ khả năng góp vốn, do đó
không triển khai được và đối tác nước ngoài đã chuyển về đầu tư tại thành phố Hồ
Chí Minh.
- Dự án thành lập Liên doanh chế biến cà phê xuất khẩu Krông Ana: Thành
lập năm 1995, năm 1997 bắt đầu hoạt động và đến tháng 8/1998 ngừng hoạt động
do bất đồng trong quản lý và kinh doanh không hiệu quả. Quá trình xử lý vướng
ty TNHH Metro Cash & Carry Việt Nam tại tỉnh Đắk Lắk, vốn đầu tư 14,7 triệu
USD, dự án đã hoàn thành và đi vào hoạt động vào cuối năm 2011.
Ngoài ra, tỉnh Đắk Lắk có 29 Chi nhánh, Văn phòng đại diện, đại lý, cửa hàng
giới thiệu sản phẩm của các Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Các dự án đầu tư nước ngoài hình thành và hoạt động trên địa bàn tỉnh vừa
góp phần giải quyết việc làm thường xuyên hàng năm cho khoảng 350 lao động,
với thu nhập bình quân khoảng 2.000.000 đồng/tháng, vừa góp phần đào tạo tay
nghề cho người lao động. Bởi vì, hầu hết những lao động trực tiếp khi mới tuyển
vào nhà máy đều là những lao động phổ thông, tay nghề thấp; qua quá trình hoạt
động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, lao động trực tiếp và gián
tiếp đều được đào tạo, nâng cao tay nghề và phục vụ tốt hơn cho sản xuất của
doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ
đóng góp cho nhà nước; thực hiện đúng các thủ tục hoàn thuế; tuy nhiên các dự án
FDI đang hoạt động tại tỉnh đều còn mang tính giản đơn, vốn đầu tư thấp, công
nghệ chưa cao, nên tác động và đóng góp đối với tỉnh còn hạn chế. Một số dự án
có quy mô vốn đầu tư lớn, công nghệ cao hơn đang trong giai đoạn đầu tư xây
dựng, chưa đi vào sản xuất kinh doanh.
2.2.1.3. Về quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài
Tổ chức bộ máy liên quan đến công tác quản lý nhà nước về đầu tư nước
ngoài của tỉnh hình thành năm 1993; từng bước được hoàn thiện, củng cố cả về
chức năng, nhân sự và cơ sở vật chất;
Tỉnh đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm thúc đẩy hoạt động kinh tế
đối ngoại của tỉnh nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng, như: Nghị quyết
chuyên đề về kinh tế đối ngoại năm 1993, trong đó đánh giá kết quả thu hút đầu tư
giai đoạn 1988 –1993 và đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm thu hút đầu tư nước
ngoài; Chương trình kinh tế đối ngoại của tỉnh giai đoạn 1996 – 2000; Quy định
“hình thành, và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài tại Đắk Lắk”; Quyết định số
3730/2001/QĐ-UB, ban hành quy định chính sách khuyến khích và đảm bảo đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại Đắk Lắk; công bố danh mục dự án kêu gọi vốn đầu tư
quan tâm đến các hỗ trợ “mềm” cho nhà đầu tư thực hiện dự án vào tỉnh. Trong
những năm qua, tỉnh Đắk Lắk đã đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tích cực và
chủ động tham gia Đề án 30 của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính, định kỳ
một năm hai lần tổ chức gặp mặt doanh nghiệp toàn tỉnh, và định kỳ thứ 5 hàng
tuần là ngày lãnh đạo UBND tỉnh sắp xếp, gặp gỡ, lắng nghe và giải quyết những
khó khăn vướng mắc cho các doanh nghiệp trong tỉnh.
Công tác cải cách hành chính, thuận lợi hóa thủ tục đầu tư được đẩy mạnh;
những vướng mắc, khó khăn của các doanh nghiệp được nắm bắt và giải quyết kịp
thời đã bước đầu tạo niềm tin và quyết tâm cho các nhà đầu tư đến Đắk Lắk. Vì
17
vậy, trong giai đoạn 2006 đến 2012 các dự án đầu tư trên địa bàn đã có những
chuyển biến tích cực, dù chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của tỉnh.
Thực hiện Chỉ thị 1617/CT-TTg, để thực hiện tốt hơn việc quản lý nhà nước
đối với đầu tư nước ngoài, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 21/2012/QĐUBND ngày 26/6/2012 về việc Ban hành Quy chế quản lý nhà nước đối với hoạt
động đầu tư nước ngoài ngoài các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
2.3. Những hạn chế, khó khăn trong công tác thu hút, quản lý đầu tư
nước ngoài FDI
2.3.1. Môi trường đầu tư chưa thực sự hấp dẫn
Vị trí địa lý không thuận lợi, cách xa cảng biển, xa các thành phố lớn; hệ
thống các đường giao thông huyết mạch còn nhỏ, chưa phù hợp với quy mô vận
chuyển hàng hóa, một số điểm đã xuống cấp nghiêm trọng;
Cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật tuy đã được tập trung đầu tư cơ bản song chưa
thực sự đáp ứng kịp thời yêu cầu ngày càng cao của quá trình hội nhập, phát triển;
Các khu, cụm công nghiệp tuy đã hình thành song chưa được đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng kịp thời, làm tiền đề để thu hút đầu tư;
Công tác cải cách hành chính tuy đã được cải thiện song vẫn còn bất cập, và
chưa đồng bộ; thủ tục hành chính còn phức tạp, kéo dài. Các văn bản pháp quy của
nhà nước về đầu tư nước ngoài chưa rõ ràng, có những điểm mâu thuẫn gây khó
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH ĐẮK LẮK
3.1 MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG, NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT VÀ
QUẢN LÝ HIỆU QUẢ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI ĐẮK
LẮK CHO THỜI KỲ TỚI
3.1.1. Định hướng
Trong giai đoạn tới để thu hút hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài, tỉnh Đắk Lắk
định hướng thu hút theo từng ngành như sau:
3.1.1.1. Ngành nông, lâm, ngư nghiệp
19
- Về trồng trọt và chế biến nông sản: hoạt động ĐTNN tập trung vào các dự
án xây dựng các vùng trồng và chế biến nông sản xuất khẩu như lúa, gạo, cây
lương thực, rau quả, cà phê, cao su, chè… theo hướng thâm canh, nâng cao chất
lượng và năng suất, hạ giá thành sản phẩm, khuyến khích các dự án ứng dụng công
nghệ sinh học, các dự án về giống cây trồng; các dự án bảo quản và chế biến sản
phẩm sau thu hoạch ứng dụng công nghệ hiện đại...
- Về chăn nuôi và chế biến sản phẩm chăn nuôi: hoạt động ĐTNN được định
hướng tập trung thu hút vào các dự án sản xuất giống lợn, bò, và gia cầm có chất
lượng cao tại các vùng có điều kiện thuận lợi về lao động, đất đai, đảm bảo vệ sinh
môi trường khi phát triển chăn nuôi với quy mô lớn, đồng thời tiếp tục thu hút đầu
tư sản xuất thức ăn gia súc có chất lượng cao. Khuyến khích các dự án chăn nuôi
công nghiệp quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến thực phẩm.
- Về lâm nghiệp, khuyến khích đầu tư sản xuất giống cây lâm nghiệp năng
suất cao và trồng rừng, trồng cây lâm sản ngoài gỗ; gắn với chế biến lâm sản.
3.1.1.2. Ngành Công nghiệp - Xây dựng
- Các ngành đặc biệt khuyến khích đầu tư gồm: công nghiệp chế biến nông,
lâm sản, công nghệ thông tin, điện tử, vi điện tử, cơ khí nông nghiệp, công nghiệp
khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng.
được cấp Giấy chứng nhận đầu tư để xây dựng hình ảnh, nâng cao sự hiểu biết của
nhà đầu tư nước ngoài về sức hấp dẫn và cạnh tranh của ĐTNN trong tỉnh.
+ Xây dựng kế hoạch và chương trình vận động đầu tư cụ thể ở trong nước và
ngoài nước, tập trung vào các ngành /dự án và đối tác đầu tư trọng điểm cần thu
hút ĐTNN.
KẾT LUẬN
FDI có vai trò quan trọng đối việc phát triển kinh tế của một quốc gia, đặc
biệt là các nước đang phát triển. Nó góp phần nâng cao năng lực sản xuất của quốc
gia thông qua cung cấp về vốn, công nghệ sản xuất tiên tiến, kỹ năng và trình độ
quản lý, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và mở rộng quan hệ hợp tác
quốc tế. Tuy nhiên sự tác động của FDI không chỉ là chiều thuận với sự phát triển
KT-XH mà đôi khi nó còn có tác động nghịch. Việc sử dụng có hiệu quả FDI, phát
huy những mặt tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực còn phụ thuộc rất nhiều
vào chính sách thu hút và năng lực quản lý, điều hành nền KT-XH của nước tiếp
nhận đầu tư.
Đắk Lắk là một tỉnh miền núi có rất ớt thuận lợi trong lĩnh vực thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài, để phục vụ tích cực cho việc phát triển kinh tế - xã hội
21
của tỉnh. Tuy nhiờn cho đến nay, hoạt động FDI ở Đắk Lắk đã đạt được những
thành tựu đáng kể. Số lượng dự án và vốn đầu tư tăng qua các năm. Mặc dù ảnh
hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực và thế giới nhưng Đắk Lắk vẫn
thu hút được dự án.
Nhìn chung nguồn FDI đã đóng góp tích cực trong nguồn vốn vận hành, tạo
dựng cho nền kinh tế của tỉnh phát triển. Góp phần tăng GDP, đồng thời đóng góp
tích cực trong việc tạo ra lực lượng sản xuất mới và sản phẩm mới, tạo môi trường
và khả năng tiếp thu công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới, tạo thêm nhiều việc
làm cho người lao động và tăng thêm nguồn thu ngân sách tỉnh.
Tên Dự án
Năm
thành
lập
I
Các Dự án không còn
hoạt động
1
Công ty TNHH
Koresvina
2
Xí nghiệp liên doanh
Bakrư
1993
3
Liên doanh chế biến cà
phê xuất khẩu Krông
Ana
1995
Tập đoàn
Korindo (Hàn
Quốc)
Xí nghiệp bánh
SCCI
Thành
Nông trường Cà
kẹo Siperôpôn
(BKHĐT) phố BMT
phê tháng 10
(Ucraina)
Huyện
Bộ
Xí nghiệp cà
Mc Cullagh
Krông
KHĐT
phê Krông Ana Inter. Co. (Mỹ)
Ana
TP BMT
(sau
Công ty Đầu tư
Bộ
chuyển
phát triển Buôn Earthcare (Mỹ)
KHĐT
về TP
Ja Wầm
HCM)
SCCI
Dự án DakMan Việt
Nam
166.768
2011
UBND
Tỉnh
Thành
phố BMT
2006
UBND
Tỉnh
Cụm CN
TP BMT
2
Dự án chế biến cà phê,
hồ tiêu, hạt điều và các
loại nông sản khác
3
Dự án sơ chế thức ăn
gia súc (gắn với thành
6
Nhà máy chế biến cà
phê hòa tan "Cà phê
Ngon"
2008
2009
UBND
Tỉnh
UBND
Tỉnh
Công ty TNHH
1 TV XNK 2/9
ED & F Man
(Anh)
100% vốn của
Công ty TNHH
Olam Việt
Nam
100% vốn của
Công ty TNHH
CP Group
(Thái Lan)
100% vốn
tư xây dựng, đã có xuất
0.2
khẩu thử nghiệm một số sản
phẩm nhưng không đáng kể
50
Đang đầu tư xây dựng