PHẦN I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Lí do chọn đề tài
Ngữ văn là môn học quan trọng trong nhà trường phổ thông, là môn học
nền tảng về kiến thức và công cụ giao tiếp nên có vị trí quan trọng đối với các
môn học khác. Cùng với việc rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu, kĩ năng sử dụng tiếng
Việt, phần làm văn cũng rất quan trọng vì đây là phần thể hiện rõ nhất kĩ năng
thực hành và sáng tạo của học sinh. Đối với học sinh phần làm văn nghị luận
luôn là một yêu cầu khó bởi đặc trưng của văn nghị luận là yêu cầu học sinh vận
dụng kiến thức tổng hợp để tạo lập văn bản đặc biệt là dạng bài nghị luận văn
học. Đa số học sinh không nắm chắc kĩ năng viết văn nghị luận văn học mà chủ
yếu là diễn xuôi, kể lại câu chuyện. Học sinh hiểu và cảm thụ được tác phẩm
văn học đã là khó nên vận dụng kiến thức để viết một bài nghị luận văn học lại
càng khó hơn.
Phân môn Làm văn ở chương trình Ngữ văn 12 gồm hai dạng cơ bản là
nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Trong đó dạng bài nghị luận văn học về
một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi chiếm một tỷ lệ khá cao vì trong chương trình
Ngữ văn 12 các tác phẩm, đoạn trích văn xuôi chiếm một vị trí cơ bản nhất là
chương trình học kì II. Vì thế, trong đề thi tốt nghiệp, đại học, cao đẳng và các
kì thi cấp quốc gia những câu hỏi về tác phẩm văn xuôi chiếm tỷ lệ cao từ 50%
đến 70%. Trong thực tế qua các kì thi học sinh lại thích lựa chọn câu hỏi về tác
phẩm, đoạn trích văn xuôi nhiều hơn, có thể do những lý do sau:
Học sinh không tự tin với dạng đề phân tích một bài thơ, đoạn thơ vì dạng
bài này đòi hỏi sự tinh tế, trình bày phải biểu cảm.
Nhiều em nghĩ rằng dạng đề nghị luận về tác phẩm, đoạn trích văn xuôi dễ
hơn bởi các em đã nắm được cốt truyện, nhân vật, nội dung tác phẩm, diễn đạt
không cần nhiều sự biểu cảm.
Thế nhưng, thực tế cho thấy các câu hỏi về tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
phong phú, đa dạng hơn nhiều, yêu cầu cao hơn về việc hiểu đề và xây dựng hệ
thống luận điểm. Trong những năm gần đây cùng với việc đổi mới kiểm tra đánh
giá theo hướng phát triển năng lực học sinh nhiều câu hỏi nhằm kiểm tra mức độ
1
Các dạng bài nghị luận văn học về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi ở
trường trung học phổ thông.
2
4. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ thực tế giảng dạy các giờ Ngữ văn, đặc biệt là phân môn Làm
văn ở trường trung học phổ thông Vinh Xuân.
Qua nghiên cứu một số tài liệu tham khảo về phương pháp làm văn nghị
luận văn học và nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi bản thân tôi đã
tiến hành phân tích, tổng hợp, khái quát nhằm đưa ra cách làm bài văn nghị luận
văn học về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi giúp học sinh và giáo viên nâng
cao kĩ năng giảng dạy và làm tốt dạng bài này.
3
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1
NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN ĐỂ LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT
TÁC PHẨM, ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm văn nghị luận
Nghị luận là kiểu văn bản được dùng để trình bày, phát biểu các tư tưởng,
quan điểm, thái độ bằng luận cứ và lập luận trước một vấn đề đặt ra trong cuộc
sống nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó
hoặc hướng đến giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
Văn nghị luận gồm hai loại: nghị luận văn học và nghị luận xã hội.
1.1.2. Khái niệm văn nghị luận văn học
Nghị luận văn học là dạng bài nghị luận mà đối tượng của nó là tác phẩm
Bước 3: Rút ra điều cần vận dụng khi đã tìm hiểu được chân lí, phương
hướng để vận dụng chân lí ấy vào cuộc sống.
1.2.2. Chứng minh
Mục đích: Để người ta tin vào điều mình muốn nói.
Yêu cầu: Làm sáng tỏ chân lí bằng các dẫn chứng và lí lẽ, khi ta chấp nhận
một chân lí thể hiện trong một phát ngôn nào đó tức là ta có nhiệm vụ phải
thuyết phục người khác cũng chấp nhận như mình bằng những dẫn chứng rút ra
từ thực tiễn, từ lịch sử, từ văn học và kèm theo dẫn chứng là những lí lẽ dẫn dắt,
phân tích tạo ra lập luận vững chắc mang đến niềm tin cho người đọc.
Các bước cụ thể:
Bước 1: Xác định điều cần phải chứng minh, phạm vi chứng minh để không
chỉ bản thân mình hiểu mà phải làm cho người khác thống nhất, đồng tình với
mình về cách hiểu đúng.
Bước 2: Lựa chọn dẫn chứng từ tác phẩm văn học, tư liệu lịch sử, ta phải
tìm và lựa chọn những dẫn chứng xác đáng, tiêu biểu và toàn diện nhất. Dẫn
chứng được chọn phải thật sát với điều đang muốn làm sáng tỏ. Kèm theo dẫn
chứng phải có lí lẽ, phân tích để chỉ ra những nét, những điểm ta cần làm nổi bật
trong các dẫn chứng kia. Để dẫn chứng và lí lẽ có sức thuyết phục cao ta phải
sắp xếp chúng thành một hệ thống chặt chẽ theo trình tự thời gian, không gian:
5
từ xưa đến nay, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong hoặc ngược lại… miễn sao hợp
lô gíc.
Bước 3: Vận dụng, đặt vấn đề vào thực tiễn cuộc sống, đề xuất phương
hướng nỗ lực. Chân lí chỉ có giá trị khi soi rọi cho ta sống, làm việc tốt hơn. Ta
cần tránh công thức và rút ra kết luận thỏa đáng, thích hợp với từng người, từng
hoàn cảnh.
1.2.3. Bình luận
mặt của một đối tượng để chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau từ đó thấy
được giá trị của từng sự vật hoặc một sự vật mà mình quan tâm.
Yêu cầu: Khi so sánh phải đặt các đối tượng vào cùng một bình diện, đánh
giá trên cùng một tiêu chí mới thấy được sự giống nhau và khác nhau giữa
chúng, đồng thời phải nêu rõ ý kiến, quan điểm của người nói (người viết).
Các bước cụ thể:
Bước 1: Xác định đối tượng nghị luận từ đó tìm một đối tượng tương đồng
hay tương phản hoặc cùng so sánh hai đối tượng cùng lúc.
Bước 2: Chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau của các đối tượng.
Bước 3: Xác định giá trị cụ thể của các đối tượng.
1.2.6. Bác bỏ
Mục đích: Chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề trên cơ sở đó đưa ra nhận định
đúng đắn và bảo vệ ý kiến, lập trường đúng đắn của mình.
Yêu cầu: Muốn bác bỏ một ý kiến sai trái thì phải dẫn đầy đủ ý kiến đó, sau
đó làm sáng tỏ hai phương diện: Sai ở chỗ nào? Vì sao như thế là sai? Trả lời
câu hỏi vì sao như thế là sai? Chính là thao tác lập luận bác bỏ.
Các bước cụ thể:
Bước 1: Xác định vấn đề cần bác bỏ (luận điểm, luận cứ, cách lập luận).
Bước 2: Dùng lí lẽ và dẫn chứng để bác bỏ.
Trên đây là sáu thao tác lập luận có thể vận dụng để làm bài văn nghị luận
về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi nhưng tùy vào từng dạng đề để áp dụng
các thao tác một cách phù hợp.
1.3. Những yếu tố tạo thành bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn
trích văn xuôi
1.3.1. Luận điểm
7
Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn. Là linh hồn
thao tác theo yêu cầu nghị luận. Muốn làm được điều đó học sinh phải đảm bảo
các yêu cầu sau:
Tự tái hiện lại về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
đang bàn đến.
Tác phẩm, đoạn trích văn xuôi ấy chứa đựng bao nhiêu nội dung? Đó là
những nội nào? Mỗi nội dung tác giả thể hiện thái độ, tình cảm gì? Gửi gắm
thông điệp gì?
Xác định giá trị nghệ thuật làm nổi bật nội dung. Từ việc tái hiện kiến thức
đã học học sinh có thể:
Xác định luận điểm cơ bản của bài làm, các luận điểm phụ.
Tìm luận cứ làm cơ sở cho từng luận điểm.
1.4.3. Lập dàn ý
Lập dàn ý là cách tổ chức, sắp xếp các ý đã tìm được thành một bố cục
khoa học, hợp lí bằng các thao tác đã chọn cho bài làm. Dàn ý phải đảm bảo bố
cục ba phần của bài văn nghị luận: Mở bài, thân bài và kết bài.
Dàn ý của bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi có bố cục
như sau:
Mở bài:
Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích văn xuôi cần nghị luận.
Nêu vấn đề nghị luận.
Thân bài:
Bàn luận về những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đoạn trích
văn xuôi theo định hướng của đề bài.
Lần lượt nêu các luận điểm, luận cứ đã tìm được.
Kết bài:
Đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích văn xuôi cả hai mặt nội dung và
nghệ thuật.
1.4.4. Dựng đoạn và liên kết đoạn
và sửa lại bài sau khi viết để tránh những lỗi sau:
Lỗi về nội dung: viết thiếu ý, ý chưa hoàn chỉnh, hoặc chưa lôgíc.
Lỗi về kiến thức: Sai tên tác giả, tác phẩm, dẫn chứng thiếu chính xác.
10
CHƯƠNG 2
CÁC DẠNG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VỀ
MỘT TÁC PHẨM, ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI
2.1. Dạng bài phân tích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm
2.1.1. Đề tài
Dạng bài này thường tập trung vào những tác phẩm, đoạn trích văn xuôi có
nhan đề hay, độc đáo.
Trong chương trình Ngữ văn 12 những tác phẩm, đoạn trích có nhan đề hay
có thể dùng để ra đề như: "Vợ nhặt" của Kim Lân, "Rừng xà nu" của Nguyễn
Trung Thành, "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu...
2.1.2. Cấu trúc tổng quát của bài văn
- Giới thiệu khái quát, ngắn gọn về tác giả, tác phẩm.
- Nêu vấn đề cần nghị luận.
- Trình bày xuất xứ của nhan đề: Phải nói rõ nhan đề ấy được lấy từ đâu,
trong hay ngoài tác phẩm. Đặc biệt chú ý đến nhứng trường hợp nhan đề mà tác
giả có trải qua quá trình lựa chọn, thay đổi.
- Phân tích ý nghĩa cụ thể và ấn tượng của nhan đề đối với tác phẩm.
- Đánh giá ý nghĩa, tác dụng của nhan đề trong việc nêu bật chủ đề, tư
tưởng của tác phẩm.
2.1.3. Đề bài tham khảo
Đề: Anh (chị) hãy phân tích ý nghĩa nhan đề truyện ngắn "Vợ nhặt" của
Kim Lân?
Gợi ý cách làm
- Phân tích ý nghĩa của tình huống: Sự hấp dẫn, độc đáo của tình huống
truyện; tác dụng của tình huống đối với sự phát triển cốt truyện và nhân vật.
- Đánh giá, nhận xét về ý nghĩa của tình huống trong việc thể hiện nội dung
tư tưởng và chủ đề của tác phẩm.
2.2.3. Đề bài tham khảo
Đề: Anh (chị) hãy phân tích ý nghĩa tình huống truyện trong tác phẩm
"Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu?
Gợi ý cách làm
Mở bài:
12
- Giới thiệu khái quát về Nguyễn Minh Châu và tác phẩm "Chiếc thuyền
ngoài xa".
- Nêu tình huống truyện của tác phẩm là hai phát hiện trái ngược nhau của
nghệ sĩ Phùng.
Thân bài:
- Phân tích sự độc đáo, đặc sắc của tình huống:
+ Bức tranh thiên nhiên thì tuyệt đẹp, hoàn mỹ, toàn bích.
+ Bức tranh cuộc sống lại đen tối, xấu xa, đầy nghịch lí.
- Ý nghĩa của tình huống:
+ Giá trị hiện thực: Phản ánh hiện thực cuộc sống mưu sinh đầy cam go
của gia đình thuyền chài và nạn bạo hành gia đình do cuộc sống đói nghèo.
+ Giá trị nhân đạo: Bày tỏ cái nhìn nhân đạo của tác giả về con người và
cuộc sống qua sự cảm thông sâu sắc với nỗi bất hạnh của người đàn bà hàng
chài.
+ Bày tỏ quan niệm nghệ thuật của nhà văn: Nghệ thuật chân chính không
bao giờ rời xa cuộc đời, phải xuất phát từ cuộc đời và luôn vì cuộc đời mà có.
Kết bài:
+ Mị là cô gái trẻ đẹp, bị bắt về làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra.
+ Mị bị chiếm đoạt nhan sắc, bị bóc lột sức lao động.
+ Cuộc sống của Mị khổ hơn cả trâu ngựa.
+ Mị trở thành con người vô cảm trước cuộc sống.
- Sức sống tiềm tàng và khát vọng hạnh phúc của Mị trong đêm tình mùa
xuân:
+ Hành động:
. Mị lén lấy hủ rượu uống ừng ực từng bát đến lúc say.
. Mị nghe tiếng sáo gọi bạn tình và ngồi nhẩm theo lời bài hát của người
đang thổi sáo.
. Mị vào phòng xắn thêm mỡ bỏ vào đèn cho sáng, quấn lại tóc, lấy váy
hoa chuẩn bị đi chơi.
+ Ý thức:
. Mị ý thức được cuộc sống đau khổ thực tại, Mị nhận ra mình còn rất trẻ,
mình và A Sử không có lòng mà phải ở với nhau, Mị muốn đi chơi.
14
. Khi bị A Sử trói Mị vẫn không thấy đau đớn mà tâm hồn vẫn theo những
cuộc chơi.
- Từ những hành động và ý thức đó chứng tỏ tâm hồn Mị vẫn chưa hoàn
toàn chết hẳn mà luôn ẩn chứa một sức sống tiềm tàng và khát vọng hạnh phúc
mãnh liệt dù cuộc sống bị vùi dập đọa đày.
Kết bài:
Dù cuộc sống tủi nhục bị áp bức, đày đọa nhưng trong Mị luôn ẩn chứa
một sức sống tiềm tàng và khát vọng hạnh phúc mãnh liệt đó chính là phẩm chất
đáng qúy của người lao động miền núi.
2.4. Dạng bài phân tích giá trị hiện thực của tác phẩm
2.4.1. Đề tài
+ Tái hiện chân thật, sinh động nạn đói năm 1945 qua hình ảnh xóm ngụ
cư, gia cảnh của Tràng, người vợ nhặt, bữa cơm ngày đói đón nàng dâu.
+ Nguyên nhân gây ra nạn đói là do bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật.
+ Thái độ của nhà văn: Kim Lân đã thương cảm sâu sắc với những người
nghèo khổ, và giúp họ tìm được niềm tin trong cuộc sống qua sự nương tựa vào
nhau để vượt qua cái đói, cái chết, cùng nhau hướng về sự sống.
Kết bài:
Giá trị hiện thực là một trong những thành công lớn của truyện ngắn "Vợ
nhặt" trong việc thể hiện tình cảnh thê thảm của người nông dân Việt Nam trước
Cách mạng tháng Tám.
2.5. Dạng bài phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm
2.5.1. Đề tài
Dạng bài này thường tập trung vào các tác phẩm, đoạn trích văn xuôi thể
hiện cái nhìn đầy nhân ái của nhà văn đối với con người và cuộc sống.
2.5.2. Cấu trúc tổng quát của bài văn
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm.
- Nêu vấn đề cần nghị luận.
- Giải thích khái niệm giá trị nhân đạo là gì?
- Những biểu hiện của giá trị nhân đạo trong tác phẩm:
+ Nhà văn thấu hiểu, đồng cảm với nỗi khổ của nhân vật.
+ Tố cáo những thế lực chà đạp lên thân phận con người.
16
+ Phát hiện, trân trọng và ngợi ca những giá trị, phẩm chất, vẻ đẹp của con
người.
+ Tin tưởng vào khả năng của con người để hướng họ đến một cuộc sống
tốt đẹp hơn.
- Đánh giá sự thành công của giá trị nhân đạo đối với tác phẩm.
+ Nhà văn đã đặt ra vấn đề cần phải làm gì để giải thoát con người khỏi bi
kịch của gia đình và cuộc sống đó cũng là tư tưởng nhân đạo cao cả của tác giả.
Kết bài:
Giá trị nhân đạo trong "Chiếc thuyền ngoài xa" là một sự thành công lớn
của tác phẩm. Thể hiện sự cảm thông, băn khoăn trăn trở của Nguyễn Minh
Châu đối với thân phận con người.
Trên đây là một số dạng đề bài cơ bản thường gặp trong dạng bài nghị luận
về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi. Ngoài những dạng đề này còn có nhiều
dạng đề khác nhưng ở sáng kiến kinh nghiệm này tôi chỉ tập trung vào những
dạng đề thường gặp trong thực tế.
18
PHẦN III. KẾT LUẬN
Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
cho học sinh là một yêu cầu hết sức cần thiết. Vì đây là kiểu bài không chỉ rèn
luyện kĩ năng tạo lập văn bản mà còn rèn luyện khả năng tư duy logíc, tư duy
khoa học, khả năng phân tích và cảm thụ tác phẩm văn học, sự nhạy cảm trước
những vấn đề của đời sống xã hội. Công việc đó không phải làm trong ngày một
ngày hai mà cả một quá trình lâu dài đòi hỏi sự tâm huyết, lòng yêu nghề của
mỗi giáo viên. Với kinh nghiệm nhiều năm liền giảng dạy môn Ngữ văn lớp 12
bản thân tôi đã tham khảo, nghiên cứu để đúc rút lại một số kinh nghiệm rèn
luyện kĩ năng giúp học sinh làm tốt kiểu bài nghị luận về tác phẩm, đoạn trích
văn xuôi. Sáng kiến kinh nghiệm này hy vọng sẽ giúp các em có thêm kiến thức,
kĩ năng để làm tốt kiểu bài này trong những kì thi sắp tới.
Sáng kiến kinh nghiệm này sẽ là một tài liệu bổ ích, thiết thực đối với thầy
cô giáo đặc biệt là các em học sinh lớp 12. Trong quá trình nghiên cứu, phân
tích, hệ thống chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót, rất mong sự góp ý của
bạn bè đồng nghiệp, bạn đọc để sáng kiến kinh nghiệm được hoàn chỉnh hơn.