Phần I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI, một thế kỷ tiếp tục có những biến đổi to
lớn, khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò
ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển; toàn cầu hoá kinh tế là một xu hướng
khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia. Sự tranh chấp quốc tế trên
các lĩnh vực ngày càng gay gắt. Phân tích tình hình trong nước và thế giới khi bước
vào thế kỷ XXI, Đại hội IX của Đảng đã xác định “Con đường công nghiệp hoá,
hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có bước tuần tự vừa
có bước nhảy vọt. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh trí tuệ của người Việt
Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu
là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
Mặt khác, nội dung thay đổi đòi hỏi phương pháp dạy học cũng đổi mới.
“Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trên cơ sở khai thác triệt để
các đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học” là biện pháp đổi mới phương pháp
dạy và phương pháp học ở Tiểu học. Các em học sinh Tiểu học, đặc điểm nổi bật
là thích chơi hơn thích học, sự nhận thức còn mang tính cụ thể . Do đó nên tổ chức
cho các em “ Học mà chơi, chơi mà học.” Một trong những biện pháp chủ yếu để
đạt được mục đích trên là gây cho các em học sinh hứng thú học tập, tạo niềm tin,
niềm vui bằng cách lôi cuốn các em vào những trò chơi toán học hấp dẫn phù hợp
với trình độ nhận thức, đặc điểm lứa tuổi của các em đặc biệt là các em những lớp
đầu cấp.
Bản thân là một giáo viên Tiểu học (dạy lớp 3A3 ) tôi nhận thấy rằng muốn
dạy tốt chương trình toán 3, không những người giáo viên phải nắm vững nội dung
chương trình mà còn phải luôn tìm tòi, năng động, sáng tạo để vận dụng linh hoạt
những phương pháp, hình thức tổ chức phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả dạy và
học.
Xuất phát từ những lý do bức xúc cấp bách như vậy nên tôi đã chọn và
nghiên cứu đề tài: “Thiết kế trò chơi trong dạy học Toán 3”, để giờ học toán phong
2. Phương pháp nghiên cứu bằng điều tra, quan sát.
3. Phương pháp thực nghiệm.
4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
Phần II: NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1. Quy luật nhận thức của học sinh Tiểu học.
Nhìn chung học sinh ở Tiểu học việc nhận thức một vấn đề nào đó thường bị
chi phối rất nhiều từ các yếu tố và hoạt động bên ngoài. ở các lớp dưới sự tri giác
của các em mang tính trực giác, chẳng hạn như tri giác về thời gian: thời gian như
bị kéo dài khi học sinh không bị hoạt động nào lôi cuốn, bị rút ngắn khi bị lôi cuốn
vào các hoạt động hấp dẫn và mãi về sau sự tri giác của học sinh mới dần dần được
hoàn thiện thông qua các hoạt động nhận thức.
Sự chú ý chủ định còn chiếm ưu thế ở học sinh Tiểu học, sự chú ý này chưa
bền vững nhất là đối với các đối tượng ít thay đổi.
Do thiếu khả năng tổng hợp, sự chú ý của học sinh còn phân tán vào các
hoạt động khác, sự phân tích còn kém nên dễ bị lôi cuốn vào cái trực quan nội cảm.
Trí nhớ trực quan - hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ logic, trí
nhớ máy móc cũng dễ dàng hơn đối với trí nhớ logic, hiện tượng hình ảnh cụ thể
dễ nhớ hơn là câu chữ trừu tượng, khô khan.
Trí nhớ tưởng tượng tuy có phát triển nhưng còn tản mạn, ít có tổ chức và
còn chịu tác động nhiều của hứng thú kinh nghiệm sống và mẫu hình đã biết.
Mặc dù ở lứa tuổi học sinh Tiểu học có nhiều sự thay đổi hơn ở bậc
Mầm non nhưng những ham muốn vui chơi vẫn còn chiếm ưu thế, tuy nhiên nó có
bị chi phối bởi những hoạt động học tập. Với những đặc điểm nêu trên thì trong
quá trình dạy học cần phải tổ chức một loại hình hoạt động sao cho nó phù hợp
với đặc điểm lứa tuổi của học sinh Tiểu học. Trong các loại hình hoạt động đã
được vận dụng trong dạy và học thì loại hình hoạt động “Học mà chơi, chơi mà
vùng và tất cả các giáo viên Tiểu học khi vận dụng phương pháp đổi mới trong dạy
học đều xác nhận tính hiệu quả của các giải pháp và có tính khả thi rất cao. Đến
nay việc vận dụng đổi mới phương pháp trong dạy học đã được ban hành rộng rãi
trong cả nước và chắc chắn nó sẽ đem lại nhiều hứa hẹn trong tương lai.
Vậy bản chất của đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới các hình thức tổ
chức dạy học cộng với các hoạt động hợp lý của thầy và trò trong mỗi một nội
dung (mỗi một đơn vị kiến thức) trong quá trình dạy - học.
3. Giải pháp đổi mới:
3.1. Đổi mới nhận thức của cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên:
Coi việc đổi mới phương pháp dạy học như điều kiện tiên quyết đảm bảo
thắng lợi của đổi mới giáo dục hiện nay. Khẳng định quyết tâm và trách nhiệm của
các cấp thuộc ngành giáo dục - đào tạo trong đổi mới cách dạy, cách học ở Tiểu
học. Xác định đổi mới phương pháp dạy học là một quá trình lâu dài, phải rất kiên
trì, phải ủng hộ và khuyến khích sự chủ động sáng tạo của giáo viên và học sinh.
Tránh bảo thủ và áp đặt.
3.2. Đổi mới nội dung giáo dục:
Lựa chọn các nội dung cơ bản, thiết thực, tinh giản song mang tính tích hợp
trong từng bài, từng chủ đề, tăng các hoạt động thực hành, vận dụng theo điều kiện
của địa phương và của đối tượng học sinh.
3.3. Đổi mới hình thức tổ chức dạy học:
Phối hợp hợp lý các hình thức dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm, dạy học
cả lớp, dạy học ở hiện trường (ở cơ sở sản xuất, bảo tàng địa phương, ở vườn
trường...), dạy học có sử dụng trò chơi học tập.
Ở bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 3 nói riêng việc sử dụng trò chơi học tập
rất phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của các em vì với các em “Học mà chơi, chơi mà
học”. Giáo viên không nên sử dụng một hình thức, một phương pháp dạy học duy
nhất trong các giờ lên lớp mà phải biết kết hợp đan xen nhiều phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm giúp học sinh chú ý cao, tạo hứng thú học
4. Trò chơi trong giờ học toán:
4.1. Quan niệm về trò chơi toán học:
- Trò chơi toán học là trò chơi trong đó có chứa một yếu tố toán học nào đó.
- Trò chơi toán học có thể phân theo số lượng người tham gia chơi:
+ Trò chơi tập thể.
+ Trò chơi cá nhân.
- Trò chơi có thể là trò chơi vận động, có thể là trò chơi trí tuệ, cũng có thể
kết hợp cả trò chơi vận động và trò chơi trí tuệ.
Vì trò chơi toán học mang đầy đủ các đặc điểm của các trò chơi, nhưng
chúng ta cần phân biệt trò chơi toán học và trò chơi phi toán học. Trò chơi toán học
là trò chơi ít nhiều có tổ chức trong đó một yếu tố kiến thức toán học nào đó còn
trò chơi phi toán học thì không chứa một yếu tố toán học nào trong trò chơi. Mức
độ trò chơi sẽ được nâng dần theo từng lớp, theo mức độ kiến thức. Càng lên lớp
trên tính trí tuệ phải cao hơn. Trong nhà trường trò chơi toán học có thể tổ chức
như một hoạt động dạy học toán. Cơ sở tâm lý và sinh lý khẳng định hoạt động dạy
toán học dưới dạng trò chơi toán học rất phù hợp với lứa tuổi học sinh Tiểu học.
Thực tế cũng cho thấy hình thức tổ chức trò chơi toán học được học sinh hưởng
ứng tích cực và tham gia có hiệu quả cao.
- Xét về mục đích phục vụ dạy học nói chung trò chơi toán học có thể là:
+ Trò chơi nhằm dẫn dắt hình thành tri thức mới.
+ Trò chơi nhằm củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng
+ Trò chơi nhằm ôn tập, rèn luyện tư duy trong giờ ngoại khoá.
- Nếu phân loại trò chơi theo các mạch kiến thức ở toán Tiểu học ta có:
+ Trò chơi có nội dung số học và yếu tố đại số.
+ Trò chơi có nội dung về đại lượng và đo đại lượng.
+ Trò chơi có nội dung hình học.
+ Trò chơi có nội dung yếu tố thống kê.
+ Trò chơi rèn luyện, ứng dụng kỹ năng giải toán.
+ Kích thích sự tìm tòi, tạo cơ hội để học sinh tự thể hiện mình.
+ Thông qua hoạt động vui chơi, học sinh vận dụng kiến thức linh hoạt, kích
thích trí tưởng tượng, trí nhớ, từ đó phát triển tư duy mềm dẻo, học tập cách sử lý
thông minh trong những tình huống phức tạp, tăng cường khả năng vận dụng trong
cuộc sống để dễ dàng thích nghi với điều kiện mới của xã hội.
+ Thông qua hoạt động vui chơi còn giúp các em phát triển được nhiều
phẩm chất đạo đức như tinh thần đoàn kết, thân ái, giúp đỡ, lòng trung thực, tinh
thần cộng đồng, trách nhiệm.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.
Qua nghiên cứu và áp dụng đề tài: ““Thiết kế trò chơi trong dạy học Toán
3”.
Qua những năm dạy ở Tiểu học và qua trực tiếp giảng dạy lớp 3A3.
Qua dự giờ thăm lớp, qua tìm hiểu tài liệu, sách báo tôi nhận thấy:
* Về giáo viên:
Các hình thức tổ chức trong giờ học toán còn đơn điệu nghèo nàn; việc sử
dụng hình thức trò chơi trong giờ học toán chưa thực sự chú trọng. Hơn nữa tài liệu
nói về hình thức tổ chức trò chơi học tập còn hạn chế, dụng cụ, đồ dùng phục vụ
cho trò chơi chưa được trang bị. Một số tài liệu, dự án có đưa ra các hình thức tổ
chức trò chơi phong phú nhưng chưa sát thực và không mang tính khả thi cao. Bên
cạnh đó thì giáo viên Tiểu học không được tập huấn về thiết kế trò chơi.
* Về học sinh:
Trò chơi được sử dụng trong giờ học toán tạo hứng thú cho các em giúp các
yêu thích, say mê môn học nhưng nếu không dùng thường xuyên thì thao tác của
các em sẽ lúng túng, bỡ ngỡ trước các tình huống của trò chơi. Các em học sinh
được chơi trong giờ học thì quả thật các em rất thích nên gây hứng thú cho các em
và giờ học trở nên nhẹ nhàng, kiến thức được ghi nhớ trong đầu các em rất sâu và
rất hợp với quy luật nhận thức.
Mặt khác về nội dung chương trình toán 3 thì phần kiến thức nặng nhưng rõ
- Trò chơi phải gần gũi, sát thực phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học
sinh lớp 3. Không quá khó và quá cầu kỳ nhưng cũng không nên đơn giản quá là
cho học sinh không phát huy được tính trí tụê trong trò chơi.
2. Nguyên tắc khai thác và thực hành.
- Sử dụng triệt để, nội dung kiến thức cơ bản cũng như đồ dùng, phương tiện
có sẵn của môn học (ở thư viện, đồ dùng của giáo viên, học sinh…).
- Các đồ vật, đồ dùng tự làm được giáo viên khai thác từ những vật liệu gần
gũi xung quanh (từ các phế liệu như võ hộp bánh kẹo, đầu gỗ, đầu nứa, nắp chai,
giấy bìa…) sao cho đồ dùng vừa đảm bảo tính khoa học, tính giáo dục, tính thẩm
mỹ nhưng rẻ tiền và ít tốn kém.
Vậy từ các nguyên tắc trên và dựa vào nội dung kiến thức trong sách giáo
khoa, căn cứ vào thời gian, mục tiêu đề ra ở mỗi tiết học cũng như đối tượng các
em học sinh, môi trường học tập ở trường Tiểu học Như Quỳnh B nơi tôi công tác
để tôi thiết kế các trò chơi sử dụng trong giờ học toán 3 .
II. CÁC TRÒ CHƠI TOÁN HỌC
A. Trò chơi có nội dung số học và yếu tố đại số.
1. Trò chơi thứ 1: Xếp hàng thứ tự
* Mục đích: Giúp học sinh củng cố cách so sánh và sắp xếp các số theo thứ
tự từ bé đến lớn và ngược lại.
* Chuẩn bị: Giáo viên - chuẩn bị 2 lá cờ hiệu (Cờ giấy nhỏ, 2 lá có màu khác
nhau)
Học sinh - mỗi đội 5 mảnh bìa (có kích thước 10 x 15cm) trong mỗi mảnh
bìa có ghi các số.
Ví dụ: Tiết 1: Đọc, viết và so sánh các số có 3 chữ số bài tập số 4, 5 trang 3
sách giáo khoa.
Khi tổ chức trò chơi giáo viên có thể chuẩn bị nội dung ghi trong bìa: 537;
162; 573; 621; 126.
* Chọn đội chơi: Mỗi đội 5 em; các em tự đặt tên cho đội mình (ví dụ: tên
công mỗi bạn viết một loại ( 3, 4… chữ số). Hết bốn phút tất cả dừng bút nộp kết
quả lại cho giáo viên. Trong đội nếu kết quả các số trùng nhau tính điểm một lần.
Giáo viên tổng hợp lại đội nào viết được nhiều số đội đó thắng cuộc, phần thưởng
là bút bi, giấy…. (trò chơi được sử dụng trong các tiết đọc viết các số tự nhiên).
3. Trò chơi thứ 3: Kết bạn
* Mục đích:
- Rèn luyện, củng cố kỹ năng tính nhẩm nhanh các phép tính cộng, trừ hoặc
nhân, chia (số tròn chục, tròn trăm).
- Luyện tác phong nhanh nhẹn, tinh mắt.
* Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị 10 đến 15 tấm bìa hình chữ nhật kích thước
10 x 15cm; có dây đeo. Mỗi tấm đều ghi một phép tính hoặc kết quả tương ứng.
Ví dụ: Tiết cộng trừ các số có 3 chữ số (không nhớ) bài tập số 1, trang 4
Nội dung ghi trong thẻ như sau:
300 + 400
500 + 40
300
504
700 + 400
700
540
124
Học sinh phải nhẩm được kết quả và kết thành nhóm theo yêu cầu.
Ai nhanh được tuyên dương, ai chậm bị phạt theo yêu cầu của lớp.
5.Trò chơi thứ 5: Truyền điện.
* Mục đích:
+ Luyện tập, củng cố kĩ năng làm các phép tính cộng , trừ không nhớ trong phạm
vi 1000.
+ Giúp học sinh thuộc nhân, chia trong bảng.
* Chuẩn bị : Trò chơi này không cần chuẩn bị bất kỳ đồ dùng nào.
* Cách chơi: Các em ngồi tại chỗ. Giáo viên sẽ “ châm ngòi”đầu tiên, giáo viên
đọc một phép tính chẳng hạn 4x8 rồi chỉ vào một em, em đó phải bật ngay ra kết
quả. Nếu kết quả đúng thì em có quyền “truyền điện” một bạn khác.Em sẽ đọc bất
cứ phép tính nào, ví dụ 36:9 và chỉ vào một bạn. Bạn đó lập tức phải có kết quả là
4, rồi lại “ truyền điện” tiếp.Trò chơi cứ tiếp tục như vậy. Nếu em nào được quyền
trả lời mà lúng túng không bật ra ngay được kết quả thì bị “điện giật”. Giáo viên
sẽ lại chỉ định một em khác bắt đầu. Sau khi kết thúc trò chơi những bạn bị “điện
giật” thì bị phạt hát một bài.
+ Trò chơi này không càu kì nhưng vẫn gây được không khí vui, sôi nổi, hào hứng
trong giờ học cho các em.
6. Trò chơi thứ 6: Ai đúng? Ai nhanh?
* Mục đích: Giúp học sinh nắm vững cách đọc, cách viết, cấu tạo các số tự nhiên
đến 100.000.
* Chuẩn bị:Giáo viên chuẩn bị cho mỗi đội 10 tờ giấy khổ A4 để trắng, 5 bút dạ.Cô
phát cho mỗi em 2 tờ giấy và 1 bút dạ (chuẩn bị vào 1 tờ, ghi cách đọc của đội bạn
vào 1 tờ). Mỗi đội 5 học sinh lên bảng đứng thành 1 hàng. Hai đội bốc thăm dành
quyền đọc trước.
* Cách chơi: Cô cho 2 đội chuẩn bị 2 phút, 5 em bàn nhau và mỗi em viết sẵn một
đến lớn” hoặc “ Tập hợp theo thứ tự từ lớn đến bé” (chú ý: quy ước cho cả hai đội
sắp xếp theo thứ tự từ phải qua trái hoặc ngược lại theo từng hiệu lệnh).
- Ban thư ký ghi kết quả và tổng kết điểm: Mỗi lần xếp hàng đúng thứ tự,
nhanh, không ồn ghi 10 điểm. Không thẳng hàng, ồn, trừ 2 điểm. Xếp hàng sai
không có điểm. Sau 5 phút đội nào nhiều điểm sẽ thắng cuộc được thưởng bút chì,
thước kẻ…v.v (trò chơi có thể được đổi biển của hai đội cho nhau để chơi tiếp và
được thực hiện ở các tiết học so sánh các số tự nhiên).
8 . Trò chơi thứ 8: Mặt nạ thông minh.
* Mục đích : Giúp học sinh củng cố lại kiến thức về thực hiện phép tính
trong biểu thức. Rèn kỹ năng nhận xét, quan sát và khả năng diễn đạt mạch lạc.
* Chuẩn bị : Giáo viên chuẩn bị 4 biển mặt nạ (2 mặt - một mặt cười mầu
đỏ, một mặt mếu mầu xanh) . Chọn 3 đội chơi (ứng với 3 mặt nạ, còn một mặt nạ
giáo viên giữ để làm đáp án). Cử thư ký ghi kết quả và điểm. Mỗi đội chơi 3 bạn .
Số học sinh còn lại trong lớp làm cổ động viên cho các đội chơi. Giáo viên chuẩn
bị bảng con để ghi các bài toán . Thời gian chơi 7-10 phút.
* Cách chơi : Thi đua giữa các đội với nhau. Giáo viên lần lượt xuất hiện
bảng con ghi cách thực hiện các bài toán. Ví dụ như sau:
321 + 500 x 2
8 x 8 + 576
= 321 + 1000
= 64 + 576
=
* Mục đích: Rèn luyện, củng cố kỹ năng tính nhẩm nhanh các phép tính
cộng, trừ, nhân chia tròn chục, tròn trăm. Luyện tác phong nhanh nhẹn, tinh mắt,
óc quan sát tinh tế.
* Chuẩn bị : Giáo viên chuẩn bị từ 12 đến16 tấm thẻ có kích thước 10 x 15,
có giây đeo được vào cổ. Mỗi tấm thẻ đều ghi một phép tính hay một kết quả
tương ứng. Thời gian chơi 7 phút .
Ví dụ: Giáo viên ghi vào thẻ như sau
6000 + 2000 - 4000
21000 x 3
90000 - (80000 - 20000)
9000 - 4000 x 2
90000 - 80000 + 20000
(9000 - 4000) x 2
12000 : 6
8000 - 6000 : 3
4000
63000
30000
1000
Thời gian chơi từ 5 đến 7 phút . Chuẩn bị hai đội chơi, chuẩn bị một số đề
viết vào các phiếu.
7000 + 2000; 9000 -3000; 3000 x 2; 49000 : 7; 54 x 100 : 10; 81 x 1000 :
1000; 34 x 1; …v…v.
Giáo viên cử thư ký ghi kết quả điểm.
* Cách chơi: Thi đua giữa 2 đội chơi (Mỗi đội từ 10 đến 12 em) giáo viên
đưa đề cho cả hai đội (đề của mỗi đội khác nhau). Đại diện 2 đội lên oản tù tỳ xem
đội nào ra đề trước, đội thứ nhất đọc đề đội thứ hai đọc đáp án (kết quả) nếu trả lời
(đáp án) sai thì khán giả (các bạn ở dưới được phép trả lời) và nhận phần thưởng là
bút bi, thước, ..v…v. Sau khi trả lời xong đội thứ 2 nêu nhanh đề để đội thứ 1 trả
lời tiến hành tương tự khoảng 5 phút thì dừng lại. Mỗi kết quả đúng đạt 10 điểm.
Ban thư ký tổng hợp điểm nhóm nào nhiều điểm sẽ thắng cuộc. (Chú ý: nếu 2
nhóm bằng điểm nhau thì nhóm nào trả lời và đọc đề mạch lạc, rõ ràng, nhanh sẽ
thắng - trò chơi này được tổ chức ở các bài tính nhẩm và nhân chia cho
10,100,1000…).
11.Trò chơi thứ 11: Ai nhiều điểm nhất?
* Mục đích: Luyện tập , củng cố kĩ năng cộng 2 số trong phạm vi
1000.
* Chuẩn bị:
+ Hai chậu cây cảnh có đánh số 1,2.
+ Một số bông hoa bằng giấy màu cứng, mặt trướcmàu trắng ghi
các phép tính như:
367+125
93+58
367+120
chia…
* Chuẩn bị:
Một tờ giấy viết sẵn các phép tính nhân,chia trong các bảng nhân chia đã
học.
* Cách chơi: Một em được chủ định làm đầu rồng lên bảng.
+ Em cất tiếng hát:
“Rồng cuốn lên mây
Rồng cuốn lên mây
Ai mà giỏi tính về đây với mình.”
+ Sau đó em hỏi:
“ Người tính giỏi có nhà hay không?”
- Một em học sinh bất kì trả lời:
“ Có tôi, có tôi.”
- Em làm đầu rồng ra phép tính đố, ví dụ : “ 42:7”
- Em tính giỏi trả lời (nếu trả lời đúng thì được đi tiếp theo em đầu
rồng). Hoặc em đầu rồng đọc:
“Vừa trống vừa mái
Đếm đi đếm lại
Tất cả sáu mươi
Mái một phần tư
Còn là gà trống
Đố bạn tính được
Trống mái mấy con?”
Cứ như thế em làm đầu rồng cứ ra câu hỏi và cuốn đàn lên mây.
- Lưu ý: Ở trò chơi này nên chọn em làm đầu rồng phải nhanh
nhẹn, hoạt bát.
13. Trò chơi thứ 13: Bác đưa thư.
(Áp dụng dạy các bảng nhân, bảng chia).
B. Trò chơi có nội dung về đại lượng và đo đại lượng.
14. Trò chơi thứ 14: Trổ tài mua sắm
(Áp dụng trong các bài : Tiền Việt Nam- Tiết 125,126,127 ).
* Mục đích :
+ Củng cố cho học sinh nhận biết và sử dụng một số loại giấy bạc trong
phạm vi 100.000 đồng (1000 đồng, 2000 đồng, 5000 đồng,10.000 đồng, 20.000
đồng, 50.000 đồng, 100.000 đồng)
+ Rèn kĩ năng cộng, trừ các số với đơn vị “đồng”.
+ Thực hành trả tiền và nhận lại tiền thừa trong khi mua,bán.
* Chuẩn bị :
+ Một số tờ giấy bạc 500 đồng, 1000 đồng, 2000 đồng, 5000 đồng, 10 000
đồng.
+ Một số đồ vật : bóng , giấy kiểm tra, hồ dán, cặp tóc, tranh.
+ Một số tờ bìa ghi giá : 1000 đồng, 3000 đồng, 6000 đồng, 7000 đồng, 55
000 đồng, 15 000 đồng.
+ Tất cả bày lên bàn giáo viên.
* Cách chơi:
+ Gọi 2 em chơi:
- 1 em đóng vai người bán hàng.
- 1 em đóng vai người mua hàng.
+ Phát tiền cho cả 2 em.
+ Người mua hàng có thể mua bất kỳ mặt hàng nào trả tiền theo đúng giá ghi
trên sản phẩm người mua và người bán sẽ phải suy nghĩ .
Ví dụ: Mua bóng giá :1500 đồng.
Người mua đưa trả