Các yếu tố tác động đến năng suất lao động của các doanh nghiệp việt nam giai đoạn 2010 2014 - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------------------------

LÊ HỮU QUÝ

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG SUẤT LAO
ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2010 - 2014

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC

TP. Hồ Chí Minh, Năm 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đề tài “Các yếu tố tác động đến năng suất lao động của các doanh
nghiệp Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014” là bài nghiên cứu của chính tôi.
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong đề tài này, tôi cam đoan
đề tài này đều là thành quả lao động của chính tôi.
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong đề tài mà
không được trích dẫn theo đúng quy định.
Đề tài này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại
học hoặc cơ sở đào tạo khác.
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
Lê Hữu Quý

i


LỜI CẢM ƠN

lao động, thu nhập lao động, loại hình kinh tế, đặc điểm ngành nghề, chi phí lao động, giá
trị tài sản của doanh nghiệp và đặc điểm vùng kinh tế được lấy từ phiếu thu thập thông tin
điều tra doanh nghiệp.
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê định lượnglà dùng mô hình hồi quy tuyến
tính để phân tích dữ liệu, sử dụng phương pháp biến công cụ để xử lý sai phạm trong mô
hình. Kết quả thực nghiệm trong mô hình tìm được các yếu tố tác động đến năng suất lao
động của các doanh nghiệp như: Quy mô vốn đầu tư, quy mô lao động, thu nhập của
người lao động, ngành nghề kinh doanh, hình doanh nghiệp, các khoản chi trả cho người
lao động, giá trị tài sản của doanh nghiệp và đặc điểm vùng kinh tế. Tuy nhiên, biến số
quy mô tài sản được dùng làm biến công cụ nên tác động gián tiếp tới năng suất lao động
thông qua biến nội sinh LnLabour, biến lao động và chi phí phải trả cho người lao động có
kết quả trái ngược với kỳ vọng dấu ban đầu.
Đề tài hồi quy theo 8 vùng kinh tế để so sánh được mức độ tác động của các yếu tố
đến năng suất lao động theo từng vùng miền,năng suất lao động doanh nghiệp có sự khác
biệt giữa các vùng kinh tế, giữa các loại hình kinh tế của doanh nghiệp. Đối với doanh
nghiệp hoạt động theo từng lĩnh vực ngành nghề kinh doanh cũng có sự cách biệt nhau
khá lớn về năng suất lao động.
Qua kết quả nghiên cứu, đề tài đã đưa ra một số khuyến nghị đối với khu vực
doanh nghiệp, cơ quan quản lý cấp Trung ương và địa phương nhằm có những định hướng
nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp.

iv


MỤC LỤC
Trang
Nhận xét của giảng viên hướng dẫn ..................................................................................... i
Lời cam đoan ....................................................................................................................... ii
Lời cảm ơn .......................................................................................................................... iii
Tóm tắt ................................................................................................................................ iv

3.4.2. Các biến độc lập ........................................................................................... 36
3.5. Dữ liệu nghiên cứu ..................................................................................................... 38
3.6. Quy trình nghiên cứu .................................................................................................. 38
Tóm tắt chương 3 ............................................................................................................... 39
Chương 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ....................................................... 40
4.1. Phân tích thống kê mô tả ............................................................................................ 40
4.2. Phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình ............................................. 48
4.3. Ước lượng và lựa chọn mô hình hồi quy .................................................................... 50
Tóm tắt chương 4 ............................................................................................................... 65
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................................. 66
5.1. Kết luận....................................................................................................................... 66
5.2. Khuyến nghị ............................................................................................................... 68
5.2.1. Đối với doanh nghiệp ................................................................................... 68
5.2.2. Đối với cơ quan quản lý cấp Trung ương..................................................... 69
5.2.3. Đối với cơ quan quản lý cấp địa phương ở từng vùng miền ........................ 70
5.3. Hạn chế của đề tài ....................................................................................................... 71
5.4. Hướng nghiên cứu tiếp theo ....................................................................................... 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 72
PHỤ LỤC 1: Kết quả phân tích hồi quy............................................................................ 76
PHỤ LỤC 2: Kết quả hồi quy riêng phần giữa tài sản và lao động .................................. 85

vi


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan ........................................ 25
Bảng 3.1: Tổng hợp cách tính cho từng biến số ................................................................ 37
Bảng 4.1: Thống kê doanh nghiệp theo năm ..................................................................... 40
Bảng 4.2: Thống kê doanh nghiệp theo vùng kinh tế ........................................................ 41
Bảng 4.3: Thống kê doanh nghiệp theo loại hình doanh nghiệp ....................................... 42


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL:

Đồng bằng sông Cửu Long

ĐBB:

Đông Bắc Bộ

TBB:

Tây Bắc Bộ

ĐBSH:

Đồng bằng sông Hồng

BTB:

Bắc Trung Bộ

DHMT:

Duyên hải miền Trung

TN:

Tây Nguyên


Tổ chức năng suất Châu Á.

NSLĐ:

Năng suất lao động

ULC:

Chi phí đơn vị lao động

GDP:

Tổng giá trị quốcnội

ix


CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Vấn đề nghiên cứu
Trong môi trường cạnh tranh, hòa nhập và toàn cầu hóa về kinh tế, năng suất lao
động là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế của một quốc gia, một ngành và trong
từng doanh nghiệp (Steenhuis và Bruijn, 2006).
Năng suất là mối quan tâm chung của người lao động, doanh nghiệp và toàn xã
hội. Năng suất lao động đánh giá được khả năng của người lao động, sự phát triển của
một doanh nghiệp hay xã hội. Doanh nghiệp muốn đạt được lợi nhuận cao rất cần phải
nâng cao năng suất lao động. Người lao động muốn tăng thu nhập cũng cần phải nâng
cao năng suất lao động. Đặc biệt với nền kinh tế đang phát triển của nước ta như hiện
nay vấn đề nâng cao năng suất lao động càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Đặc biệt,
đối với các nước đang phát triển, năng suất lao động được coi là yếu tố quan trọng nhất
(Sauian, 2002).

trước hết là thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng GDP của cả nền kinh tế. Trong giai đoạn
2001 - 2007, tốc độ tăng năng suất hình thành xu hướng đi lên, năm sau cao hơn năm
trước, từ 4,13% - 5,58%. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của lạm phát và suy giảm kinh tế,
tốc độ tăng trưởng năng suất đã sụt giảm đáng kể trong giai đoạn 2008 - 2009, xuống
2,89% - 3,21% (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2013).
Theo Tổng cục Thống kê (2014), năm 2014 năng suất lao động xã hội theo giá
hiện hành của toàn nền kinh tế ước đạt 74,3 triệu đồng/lao động (tương đương 3.515
USD). Trong đó, năng suất lao động khu vực nông, lâm và thủy sản đạt 28,9 triệu đồng
(bằng 38,9% mức chung), công nghiệp và xây dựng là 133,4 triệu đồng, khu vực thương
mại dịch vụ đạt 100,7 triệu đồng. Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động
toàn nền kinh tế năm 2014 ước tính tăng 4,3% so với năm 2013. Trong đó, năng suất lao
động khu vực nông, lâm và thủy sản tăng 2,4%, công nghiệp và xây dựng tăng 4,3%,
thương mại dịch vụ tăng 4,4%. Năng suất lao động của Việt Nam liên tục tăng trong giai
đoạn 2005 - 2014, tốc độ bình quân đạt 3,7% mỗi năm. Rõ ràng, các điều kiện vĩ mô có
tác động trực tiếp đến năng suất lao động của các doanh nghiệp
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2013), năng suất lao động của Việt Nam
thuộc nhóm thấp nhất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (năng suất lao động của nước
ta thấp hơn Singapore 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần).
Hiện có 80% lao động Việt Nam là lao động phổ thông, trình độ thấp, phần lớn người
lao động trải qua quá trình đào tạo chưa thực sự phù hợp với những yêu cầu trình độ
2


chung của khu vực và thế giới; tỷ lệ lao động qua đào tạo ở nước ta đến năm 2014 mới
đạt 40%, trong khi Singapore đạt 62%, Hàn Quốc là 62%. Như vậy, với chất lượng
nguồn nhân lực chưa được cải thiện và nâng cao thì giải pháp tăng năng suất lao động
vẫn còn là bài toán khó khăn.
Năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp là hai vấn đề lớn mà
Việt Nam đang phải đối mặt hiện nay, bởi vì năng suất lao động và việc làm là nguồn
gốc của tăng trưởng kinh tế. Vốn đầu tư nước ngoài sẽ rời khỏi Việt Nam nếu như

riêng và nền kinh tế nói chung.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài cần trả lời 03 câu hỏi nghiên
cứu sau:
(i) Các yếu tố nào tác động đến năng suất lao động và mức độ tác động của các
yếu tố đó đến năng suất lao động của các doanh nghiệp ở Việt Nam?
(ii) Những yếu tố tác động này thay đổi như thế nào đối với những doanh nghiệp
trong từng vùng kinh tế khác nhau?
1.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng suất lao động của các doanh nghiệp đang
hoạt động ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp đang hoạt động trên lãnh thổ
Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2014.
Dữ liệu nghiên cứu: Nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ kết quả điều tra của
386.082 doanh nghiệp, giai đoạn năm 2010 - 2014 của Tổng Cục Thống kê.
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Sau quá trình phân tích tìm hiểu, đề tài tập trung đo lường các yếu tố tác động
đến năng suất lao động của các doanh nghiệp, mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố và các
yếu tố tác động này thay đổi như thế nào đối với những doanh nghiệp trong từng vùng
kinh tế khác nhau. Dựa vào kết quả phân tích hồi quy, các khuyến nghị phù hợp được đề
nghị nhằm nâng cao năng suất lao động cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ tác động tích cực đến quyết định của người quản
lý doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước Trung ương, cấp địa phương trong
từng vùng nhằm phát triển tình hình kinh tế - xã hội, thúc đẩy các liên kết kinh tế trong
vùng. Đối với doanh nghiệp khi biết các yếu tố tác động nên năng suất lao động, mức độ
ảnh hưởng của từng yếu tố sẽ đưa ra các quyết định hợp lý, chính xác nhằm nâng cao
năng suất lao động của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển tốt hơn. Đối với cơ
quan quản lý nhà nước sẽ có những giải pháp thiết thực hơn giúp cho doanh nghiệp cải
4


cứu cùng các giải thuyết nghiên cứu ở chương sau.
2.1. Khái niệm năng suất và năng suất lao động
Theo Baines (1997a), năng suất là việc sử dụng tối đa các nguồn lực của một tổ
chức để đạt kết quả đề ra. Thực hiện tăng năng suất khi doanh nghiệp tạo ra nhiều đầu ra
hơn cùng một lượng đầu vào nhất định hoặc sản xuất cùng một lượng đầu ra với đầu vào
ít hơn.
Ross và Khleef (2002) cho rằng, năng suất là việc tạo ra và cung cấp các sản
phẩm, dịch vụ mà sử dụng được mọi nguồn lực về vật chất và con người để thỏa mãn
nhu cầu của khách hàng, cải thiện chất lượng cuộc sống của con người và bảo vệ môi
trường. Năng suất được thực hiện thông qua nỗ lực của con người trong sản xuất gắn
liền với văn hóa xã hội nhất định.
Theo Robbins (2001), năng suất là việc đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách
tiến hành biến đổi các đầu vào thành đầu ra ở mức chi phí thấp nhất. Khi đó năng suất
doanh nghiệp ảnh hưởng bởi hiệu suất và hiệu quả.
Tangen (2005) định nghĩa, năng suất là một thuật ngữ có nghĩa rộng, ý nghĩa có
thể thay đổi tùy theo mục tiêu sử dụng. Nâng cao năng suất doanh nghiệp không phải
chỉ tập trung vào cắt giảm chi phí, mà phải kết hợp giữa hiệu quả và hiệu suất trong quá
trình chuyển đổi. Quá trình này được thực hiện thông qua hệ thống từ đầu quá trình đến
cuối. Đối với một doanh nghiệp sản xuất, trên góc độ quản lý, năng suất là việc sử dụng
tối ưu các nguồn lực để tạo ra sản phẩm đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của khách hàng
(Bernolak, 1997, trích trong Tangen, 2005). Định nghĩa này nêu ra hai đặc tính quan
trọng: thứ nhất, năng suất liên quan mật thiết với việc sử dụng các nguồn lực (hiệu suất);
thứ hai, năng suất có mối liên hệ chặt chẽ với việc thỏa mãn khách hàng (hiệu quả).
Quan điểm này tương đồng với quan điểm năng suất theo cách tiếp cận mới, tức là năng
suất phải bao gồm cả tính hiệu suất và hiệu quả.

6


Prokopenko (1996) định nghĩa, năng suất là chỉ tiêu phản ánh quan hệ kết quả

một sản phẩm.
- Q: Lượng sản phẩm.
- t: Thời gian để sản xuất ra lượng sản phẩm đó.
Trong quá trình sản xuất ra sản phẩm có hai loại lao động hao phí: Lao động
sống và lao động vật hóa. Chi phí lao động sống là sức lực của con người bỏ ra ngay
7


trong quá trình sản xuất. Chi phí lao động quá khứ là loại chi phí được biểu hiện ở giá trị
của máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, năng lượng,…là loại lao động đã được vật
hóa hay được chuyển vào giá trị sản phẩm.
Adam Smith (1776), hiệu quả sản xuất phụ thuộc vào số lượng lao động và khả
năng sản xuất của lao động. Krugman (1994) đã nhận định rằng năng suất tuy không
phải là thứ quyết định tất cả nhưng trong dài hạn nó lại là thứ quyết định tất cả và tiêu
chuẩn sống của một quốc gia sẽ phụ thuộc vào khả năng tăng năng suất của người lao
động trong quốc gia đó.
Trong quá trình tìm hiểu về năng suất và năng suất lao động, có rất nhiều khái
niệm được đưa ra như trên, vai trò của năng suất được nhìn nhận rất rộng rãi trong các
tác phẩm kinh tế học vì tầm quan trọng của nó. Tuy nhiên, năng suất theo Rolstadas
(1998), Prokopenko (1996), Adam Smith (1776), Krugman (1994) và năng suất lao
động theo OECD (2002) được vận dụng vào đề tài nghiên cứu.
Theo OECD (2001), Năng suất thường được định nghĩa là một tỷ lệ của một
thước đo khối lượng đầu ra cho một biện pháp đầu vào sử dụng và được đặt trong mối
liên hệ với các biến số vĩ mô khác (theo góc độ năng suất quốc gia) hoặc với các biến số
vi mô trong doanh nghiệp (theo góc độ năng suất của doanh nghiệp). Năng suất bao
gồm nhiều yếu tố trong đó có: Năng suất vốn và năng suất lao động. Năng suất lao động
là một chỉ tiêu kinh tế vì nó cung cấp một biện pháp năng động của tăng trưởng kinh tế,
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và là thước đo của hiệu quả lao động.
Năng suất thường được tiếp cận ở hai góc độ: góc độ quốc gia và góc độ doanh
nghiệp. Ở cả hai góc độ, năng suất nói chung được hiểu là tỷ lệ giữa kết quả đầu ra so

giờ năng suất lao động (sản lượng mỗi giờ lao động). Năng suất lao động cho mỗi người
sử dụng được định nghĩa là sản lượng thực tế (giá trị gia tăng) chia cho tổng số người có
làm việc.
Drucker (1974) đã mô tả sự hữu ích và tầm quan trọng của đo lường năng suất
trong hoạt động quản trị của doanh nghiệp, trong đó: nếu doanh nghiệp không có mục
tiêu năng suất thì doanh nghiệp đó không có định hướng. Hơn nữa, nếu doanh nghiệp
không đo lường năng suất, doanh nghiệp sẽ không thể kiểm soát được hoạt động của
mình.
Theo APO (1996), năng suất thường được đo lường bằng tỷ lệ giữa lượng đầu ra
trên đầu vào và phù hợp với cách đo lường của OECD (2001, 2002). Do có nhiều loại
đầu vào cũng như đầu ra khác nhau nên xuất hiện nhiều chỉ số năng suất khác nhau. Lao
động là một loại đầu vào, nếu xác định được loại đầu ra của doanh nghiệp thì sẽ có chỉ
số đo lường năng suất của người lao động tùy theo đặc điểm của đầu ra.
9


Theo APO (1996) và theo Thomas và ctg (1990), xét ở trong khía cạnh của
doanh nghiệp, năng suất của lao động có thể được đo lường theo các cách thức như sau:
- Năng suất lao động tính bằng hiện vật: Là sản lượng hiện vật của từng loại sản
phẩm của một công nhân. Công thức tính:

Trong đó: W: là mức năng suất lao động (NSLD) của một công nhân; Q: là Tổng
sản lượng tính bằng hiện vật, đó là khối lượng sản phẩm hàng hóa hoàn thành; T là tổng
số lao động.
- Năng suất lao động tính bằng giá trị: Theo chỉ tiêu này tất cả sản lượng, sản
phẩm hàng hóa tạo ra của doanh nghiệp đều quy về tiền. Công thức tính:

Trong đó: W là mức năng suất lao động của một công nhân. Q thường được đo
lường bằng doanh thu, và T là tổng số lao động của doanh nghiệp.
- Năng suất lao động tính bằng thời gian lao động: Đó là thời gian hao phí cần


, AtLt. )

Đặt yt = Yt/Lt và kt = Kt/Lt. Khi đó: yt = F (kt, At).
Áp dụng phương pháp biến đổi trên vào hàm số Cobb – Douglas:

Yt = (Kt)α.(AtLt)1- α 0
GDPt = Ktς Htη Etλ Ltl-ς-η-λ AitT
Khi đó hàm năng suất theo lao động được mô tả bởi Umoru và Yaqub (2013) như
sau:

Như vậy, dưới góc độ tiếp cận kinh tế học, năng suất lao động (GDPL) phụ thuộc
vào các yếu tố như lượng vốn đầu tư cho từng lao động (K/L), công nghệ (A), sức khỏe
của từng lao động (H/L) và trình độ của người lao động (E/L).
2.3.2. Lý thuyết các yếu tố tác động tới năng suất lao động
Hàm sản xuất dưới góc độ kinh tế học tuy cung cấp một khung lý thuyết để tiếp
cận tới việc tìm hiểu những yếu tố cơ bản tác động tới năng suất. Tuy nhiên điểm yếu
của các mô hình này là bị bó buộc vào các hàm sản xuất. Hàm sản xuất phát triển các
nhân tố tới đâu thì mô hình năng suất phát triển tới đó vì vậy các nhân tố ảnh hưởngtới
năng suất bị giới hạn (Papadogonas và Voulgaris, 2005). Các nghiên cứu khác nhau
trong lĩnh vực năng suất có thể vừa áp dụng hàm năng suất và vừa áp dụng góc tiếp cận
khác (ví dụ: lĩnh vực quản trị) để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất. Các yếu tố
này có thể là: vốn, năng lực của người lao động, thu nhập của người lao động, loại hình
doanh nghiệp, khả năng xuất khẩu, trình độ công nghệ, đặc điểm khu vực địa lý, kinh
nghiệm thị trường của doanh nghiệp, đặc điểm ngành, vốn đầu tư (Datta, và ctg, 2005).
Giá trị tài sản của doanh nghiệp
Vốn của doanh nghiệp đã được biến đổi toán học thuần túy trở thành các mô hình
năng suất. Trong mô hình năng suất, yếu tố này được tính toán là mức vốn trung bình
đầu tư cho một người lao động (K/L) (Datta, và ctg, 2005). Ở góc độ tiếp cận theo
12


hướng quản trị doanh nghiệp, vốn của doanh nghiệp có thể hiểu là vốn chủ sở hữu hoặc
tổng vốn. Các nghiên cứu thường sử dụng yếu tố tổng tài sản của doanh nghiệp khi tìm
hiểu mối liên hệ của yếu tố này tới năng suất của người lao động. Doanh nghiệp có tổng
tài sản càng cao thường có xu hướng đầu tư vào trang thiết bị hiện đại và từ đó thúc đẩy
năng suất lao động tăng lên. Oulton (1998) cũng nhận định tương tự và tìm thấy mối

Tiền lương là "số lượng tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động
theo giá trị sức lao động đã hao phí trong những điều kiện xã hội nhất định trên cơ sở
thoả thuận của hai bên trong hợp đồng lao động”. Tiền lương ảnh hưởng trực tiếp đến
mức sống của người lao động. Phấn đấu nâng cao tiền lương là mục đích của tất cả mọi
người lao động, mục đích này tạo động lực để người lao động phát triển trình độ và khả
năng lao động của mình. Do vậy, tiền lương thoả đáng sẽ là động lực để người lao động
làm việc hiệu quả và đạt năng suất lao động cao (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh,
2008). Trong lĩnh vực quản trị, thu nhập được coi là một hình thức động viên để khích
lệ người lao động và từ đó họ có động lực nâng cao năng suất của mình.
Nghiên cứu trên thực nghiệm của Zwick (2004) và Conti (2005), đã tìm thấy ảnh
hưởng tích cực của tiền lương tới năng suất lao động. Trong khi đó Crépon và ctg
(2002) và Hellerstein và ctg (1999) tìm thấy tác động của tiền lương tới năng suất lao
động. Các tác giả trên phát hiện sự tồn tại của một khoảng cách giữa năng suất lao động
và tiền lương có xu hướng mở rộng với độ tuổi, tiền lương tiếp tục tăng theo tuổi tác của
người lao động trong khi năng suất ngừng tăng tại một thời điểm hoặc thậm chí giảm.
Nghiên cứu của Trần Thị Kim Loan và Bùi Nguyên Hùng (2009) về các yếu tố
ảnh hưởng đến NSLĐ của các doanh nghiệp trong ngành may ở Việt Nam cho rằng, thu
nhập của người lao động có ảnh hưởng nhiều đến năng suất của doanh nghiệp. Thu nhập
của người lao động phụ thuộc vào đơn giá gia công và NSLĐ.
Loại hình kinh tế của doanh nghiệp
Loại hình doanh nghiệp có ảnh hưởng đáng kể tới năng suất lao động vì mỗi loại
hình doanh nghiệp có thể đặc trưng cho một đặc điểm quản lý khác nhau (Rice và
Patacchini, 2006), ví dụ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có trình độ quản
lý tổng thể tốt hơn nên năng suất lao động sẽ cao hơn loại hình doanh nghiệp tư nhân
trong nước. Hoặc doanh nghiệp nhà nước ở các nước đang phát triển thường hoạt động
trì trệ hơn các loại hình doanh nghiệp khác và vì thế năng suất lao động thường thấp
hơn.
Tại Việt Nam, có nhiều hình thức phân loại khác nhau trong đó hình thức sở hữu
là một căn cứ phân loại chính. Theo cách này có thể phân loại doanh nghiệp thành:
14

chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối đa; Công ty cổ
phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn, theo quy định của
pháp luật về chứng khoán.
15


- Doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài: Quốc hội (2014), quy định doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành
lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư
nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp của nước
ngoài gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ
lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu. Khu vực này có hai loại hình chủ yếu là
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài với
các đối tác trong nước.
- Doanh nghiệp nhà nước: Quốc hội (2014), là doanh nghiệp do Nhà nước nắm
giữ 100% vốn điều lệ.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Ngọc, Phạm Minh Thu (2015), khu vực có năng
suất lao động cao nhất là khu vực đầu tư nước ngoài đạt 392,4 triệu đồng/người, bằng
5,7 lần năng suất lao động chung nhưng lao động khu vực này chỉ bao phủ 3,4% lao
động có việc làm cả nước. Nhìn chung các thành phần sở hữu đều có tốc độ tăng năng
suất lao động ổn định ở mức 3-4%/năm.
Khu vực địa lý (đặc điểm vùng miền)
Các khu vực địa lý kinh tế khác nhau thường có những đặc điểm về tự nhiên,
kinh tế và xã hội khác nhau và ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới doanh nghiệp cũng
như ảnh hưởng tới khả năng làm việc của người lao động (Rice và Patacchini, 2006).
Những doanh nghiệp đặt ở khu vực kinh tế phát triển sẽ nhận được lực lượng lao động
có trình độ cao và năng suất lao động vì thế sẽ tăng cao hơn. Tại Việt Nam, hiện nay có
hai cách phân chia khu vực kinh tế: phân chia theo khu vực kinh tế trọng điểm và phân
chia theo khu vực địa lý kinh tế, việc phân chia theo khu vực kinh tế trọng điểm phục vụ
cho mục đích quản lý chiến lược của Nhà nước để thúc đẩy kinh tế các khu vực trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status