TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TIỂU LUẬN
HỆ THỐNG CHUẨN MỰC
KẾ TOÁN
Tên đề tài: “Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với kế toán môi
trường ở Việt Nam hiện nay”
Sinh viên thực hiện: PHAN THỊ THU THẢO
Mã sinh viên
: DH00300499
Lớp : DH3KE3
Khoá : 3 (2013-2017)
Hệ
: CHÍNH QUY
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TIỂU LUẬN
HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ
TOÁN
Tên đề tài: “Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với kế toán môi trường ở
Việt Nam hiện nay”
Sinh viên thực hiện: PHAN THỊ THU THẢO
Mã sinh viên
với khoảng 350 triệu người tiêu dùng.
Các tổ chức quốc tế như liên hợp quốc (UN), tổ chức phát triển kinh tế- xã hội, OECD
tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa. Ngày nay, các thị trường tài chính quốc tế đòi hỏi sự
hài hòa những điểm không tương đồng về chính sách thuế, kiểm soát trao đổi giới hạn
đầu tư, yếu cầu những nguyên tắc kế toán. Sự thay đổi quốc tế hóa đòi hỏi sự thay đổi
nhanh chóng và năng động bản chất của kế toán quốc tế. Truyền thống và thực hành kế
toán của mỗi quốc gia sẽ là những thử thách trong những năm trước mắt với nhiều vấn đề
mới nảy sinh và thức đẩy quá trình tăng cường hài hóa quốc tế.
Trong quá trình phát triển kinh tế, những hậu quả do ô nhiễm môi trường gây ra đã
khiến nhiều quốc gia dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề bảo vệ môi trường. xét ở
phạm vi doanh nghiệp (DN), để nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý môi trường,
công tác kế toán giữ vai trò quan trọng hàng đầu. Kế toán quản trị môi trường lần đầu tiên
được đề cập đến trên thế giới vào những nằm đầu của thâp kỷ 70 của thế kỷ XX. Sau đó
đã có nhiều nghiên cứu, quy định về kế toán quản trị môi trường và không ít quốc gia đã
thực hiện ứng dụng kế toán quản trị môi trường rất thành công như: Canada, Argentina,
Mỹ, Đan Mạch, Nhật Bản, Singapore, Indonesia, Nam Phi…
Theo liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), kế toán quản trị môi trường “là quá trình quản lý
hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường thông qua sự phát triền và ứng dụng hệ thống kế
toán phù hợp với vấn đề môi trường…”. Kế toán quản trị môi trường là một bộ phận của
kế toán quản trị DN, nhầm thu thập, xử lý, phân tích và sử dụng các thông tin tiền tệ và
hiện vật liên quan tới các tác động của DN đến môi trường, từ đó cải thiện hoạt động của
DN ở cả khía cạnh tài chính và môi trường.
Theo các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính – kế toán, kế toán quản trị môi trường gồm
các nội dung: kế toán chi phí môi trường trên cơ sở kiểm soát chi phí và áp dụng các
phương pháp xác định chi phí môi trường thích hipwj; kế toán các khoản thu nhập, doanh
thu hay lợi ích môi trường phục vụ cho dự toán và kiểm soát thực hiện dự toán; kiểm soát
rác thải, phế thải và tập trung quản lý hiệu quả các nguồn lực.
Kế toán quản trị môi trường tập trung vào việc hạch toán những vấn đề có liên quan
Đưa ra vấn đề mà IAS sẽ giải quyết
Phạm vi mà IAS được áp dụng
Trình bày các khái niệm có liên quan trong IAS
Cách trình bày vấn đề có liên quan trong các báo cáo tài chính (nếu có)
Chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) là điều kiện để đảm bảo các
doanh nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới áp dụng các nguyên tắc kế toán một cách
thống nhất trong công tác lập báo cáo tài chính (BCTC). Việc áp dụng IFRS nhằm cải
thiện chất lượng thông tin kế toán và do HĐ chuẩn mực kế toán quốc tế thuận tiện cho
các nghiệp vụ tài chính trên thế giới.
Giữa những năm 1973 và năm 2000, chuẩn mực quốc tế phát hành. Trong thời kỳ này
các nguyên tắc kế toán được biểu hiện là chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS). Từ năm
2001, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế mô tả các nguyên tắc kế toán với tên gọi
mới là Chuẩn mực lập BCTC quốc tế, mặc dù các chuẩn mực kế toán quốc tế vẫn tiếp
tục được thừa nhận.
Năm 2005, đánh dấu sự bắt đầu của kỷ nguyên mới về cách quản lý kinh doanh
toàn cầu và hoàn thành sự nỗ lực trong 30 năm bằng việc ban hành các nguyên tắc lập
BCTC cho thị trường vốn trên thế giới. Cũng trong năm này, rất nhiều quốc gia đã
chính thức áp dụng hệ thống chuẩn mực lập BCTC được xây dựng phù hợp với quốc
gia mình và bắt đầu áp dụng từ 1/1/2005, như Úc, Hồng Kông, các nước Châu Âu…
Hầu hết các nguyên tắc kế toán được chấp nhận phổ biến (GAAP) của các quốc
gia đã bị giảm tầm quan trọng hoặc đang dần dần được thay thế bởi IFRS. Cụ thể,
Canada thông báo GAAP (mà tương tự như GAAP của Mỹ) sẽ thay thế bằng IFRS
vào năm 2011. Ngoại trừ GAAP của Mỹ được coi như là sức ép cạnh tranh trong
chuẩn mực kế toán và trong tương lai cần thiết có sự hợp nhất giữa GAAP của Mỹ và
IFRS.
IFRS do Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) và Hội đồng giải thích lập
BCTC quốc tế (IFRIC) biên soạn theo định hướng thị trường vốn và hệ thống lập
IAS 19: Lợi ích người lao động
IAS 20: Kế toán đối với nguồn tài trợ và trình bày sự hỗ trợ của chính phủ
IAS 21: Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái
IAS 23: Chi phí đi vay
IAS 24: Trình bày các bên liên quan
IAS 26: Kế toán và báo cáo lợi ích hưu trí
IAS 27: BCTC hợp nhất và riêng biệt
IAS 29: Lập BCTC trong nền kinh tế siêu lạm phát
IAS 31: Lập BCTC về lợi ích của liên doanh
IAS 32: Công cụ tài chính: Trình bày
IAS 33: Lãi trên cổ phiếu
IAS 34: Lập BCTC tạm thời
IAS 36: Giảm giá trị tài sản
IAS 37: Dự phòng, công nợ và tài sản ngẫu nhiên
IAS 38: Tài sản cố định vô hình
IAS 39: Công cụ tài chính: ghi nhận và đo lường
IAS 40: Tài sản đầu tư
IAS 41: Nông nghiệp
IFRS 1: Áp dụng lần đầu IFRS
IFRS 2: Thông tin dựa trên cổ phiếu
IFRS 3: Hợp nhất kinh doanh
IFRS 4: Hợp đồng bảo hiểm
IFRS 5: Tài sản dài hạn chờ để bán và hoạt động gián đoạn
IFRS 6: Thăm dò và đánh giá tài sản nguyên khoáng sản
IFRS 7: Công cụ tài chính: Trình bày
IFRS 8: Bộ phận kinh doanh
Theo kế hoạch của IASB, trong thời gian tới IASB sẽ tập trung vào những vấn đề liên
quan đến IFRS. Vấn đề lập báo cáo (hiện được đổi tên là trình bày BCTC) là công việc
chuẩn mực kế toán quốc tế.
Tại Việt Nam, Bộ Tài chính là cơ quan có thẩm quyền ban hành các chuẩn mực kế
toán. Các chuẩn mực kế toán này được nghiên cứu và soạn thảo bởi Ban chỉ đạo nghiên
cứu, soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam gồm 13 thành viên, bao gồm các thành viên
đến từ các cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính và các thành viên đến từ các trường đại học
và Hội kế toán Việt Nam. Vụ chế độ kế toán là đơn vị thường trực của các Ban chỉ đạo và
các Tổ soạn thảo chuẩn mực, có nhiệm vụ tổ chức triển khai việc soạn thảo, tiếp thu ý
kiến và hoàn chỉnh trình Bộ ký ban hành.
Việt Nam đã ban hành được 26 chuẩn mực kế toán sau 5 đợt ban hành. Các chuẩn mực kế
toán của Việt Nam cũng đã dịch ra tiếng Anh nhằm đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư nước
ngoài trong việc tìm hiểu hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam. Các chuẩn mực kế toán
Việt Nam so với chuẩn mực kế toán quốc tế đã 11 có sự tương đối phù hợp về nội dung,
về cơ sở đánh giá, ghi nhận và trình bày trên BCTC mà còn cả về hình thức trình bày.
Những khác biệt giữa hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và hệ thống chuẩn mực
kế toán quốc tế. Với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, sự hình
thành hàng loạt các công ty đa quốc gia, thị trường tài chính quốc tế và các hoạt động
thương mại quốc tế, nhà đầu tư không chỉ hoạt động trong phạm vi khu vực mà còn mở
rộng hoạt động ra toàn thế giới. Các báo cáo tài chính phải nói cùng một ngôn ngữ, nhằm
nâng cao tính khách quan, tính có thể tin cậy được, tính có thể so sánh được là một nhu
cầu khách quan và tất yếu. Một ví dụ điển hình ảnh hưởng đến việc so sánh của các nhà
đầu tư do sự khác biệt của chuẩn mực kế toán của công ty Daimler Benz năm 1993, công
ty sản xuất hàng đầu của Đức và là công ty đầu tiên của nước này niêm yết cổ phiếu trên
thị trường chứng khoán NewYork, đã buộc phải chấp nhận các yêu cầu công bố thông tin
theo chuẩn mực kế toán Mỹ. Theo đó, Công ty Daimler Benz đã phải công bố quỹ dự trữ
vào khoảng 4 tỷ DM (tương đương 2 tỷ đô la Mỹ) trên thị trường New York mà theo luật
của Đức thì công ty không cần phải công bố khoảng quỹ dự trữ này. Luật kế toán của
Đức theo khuynh hướng chống rủi ro -risk-averse trong đầu tư, trong khi đó hệ thống kế
toán Mỹ theo khuynh hướng risk-friendly và báo cáo tài chính được thiết kế nhằm cung
cấp thông tin cho các cổ đông tiềm năng (Geoffrey Mazullo, 1999). Sự khác biệt này đem
lại sự phẫn nộ của các cổ đông của Công ty Daimler Benz ở Đức mà nguyên nhân xuất
nên việc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của các doanh nghiệp Việt Nam cũng bị
nhiều hạn chế.
Trên thực tế, hệ thống tài khoản của các doanh nghiệp thường lập ra nhằm cho mục đích
báo cáo thuế là chính nên cũng ảnh hưởng đến khả năng xây dựng một hệ thống tài khoản
phục vụ cho mục đích kế toán quản trị của doanh nghiệp.
Hệ thống báo cáo tài chính:
Tương tự như hệ thống tài khoản của doanh nghiệp, hệ thống Báo cáo tài chính của Việt
Nam phải xây dựng tuân theo mẫu do Bộ Tài chính đưa ra. Trong khi đó, IAS 01 – Trình
bày báo cáo tài chính chỉ yêu cầu doanh nghiệp phải trình bày đầy đủ các chỉ tiêu tài
chính cần thiết trong từng loại báo cáo.
Hệ thống phương pháp đánh giá tài sản:
Đối với phương pháp đánh giá các tài sản, chuẩn mực kế toán Việt Nam thì phương pháp
khấu hao ngoài ra còn có các phương pháp đánh giá tài sản khác là đánh giá lại và tổn
thất.
Nguyên nhân này là do Việt Nam chủ yếu đo lường giá trị tài sản theo phương pháp “giá
gốc” hay “giá lịch sử” (historical/ original cost) mà ít sử dụng phương pháp “giá trị hợp
lý” (fair value). Nguyên tắc giá gốc làm cho báo cáo tài chính của doanh nghiệp Việt
Nam mang tính bảo thủ cao, không phản ảnh được một cách chính xác giá trị hiện tại của
các tài sản khi được đánh giá lại.
Tuy nhiên, việc đánh giá lại của tài sản đòi hỏi phải có thị trường hoạt động, thị trường
hoạt động là thị trường có đặc điểm sau: các giao dịch trên thị trường là đồng nhất,
thường có thể tìm thấy những người muốn mua và bán, và có sẵn giá cả công khai. Vì ở
thị trường Việt Nam, thị trường hoạt động chưa xây dựng được mức giá chuẩn của một số
tài sản nên cũng ảnh hưởng đến việc đánh giá lại giá trị của một số tài sản.
Do đặc thù tại Việt Nam, công tác kế toán đôi khi lại phụ thuộc vào các thông tư
hướng dẫn thực hiện các chuẩn mực kế toán. Các nhân viên thực thi công tác kế toán tại
các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại không xem trong các nội
biểu hiện chủ yếu sau:
- Khác biệt cơ bản nhất là VAS chưa có quy định cho phép đánh giá lại tài sản và nợ phải
trả theo giá trị hợp lý tại thời điểm báo cáo. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc kế toán các
tài sản và nợ phải trả được phân loại là công cụ tài chính, làm suy giảm tính trung thực,
hợp lý của BCTC và chưa phù hợp với IAS/IFRS.
- VAS 21 không quy định trình bày Báo cáo biến động vốn chủ sở hữu thành một báo cáo
riêng biệt như IAS 1, mà chỉ yêu cầu trình bày trong thuyết minh BCTC. Ngoài ra, chế độ
kế toán Việt Nam quy định mẫu biểu báo cáo một cách cứng nhắc, làm triệt tiêu tính linh
hoạt và đa dạng của hệ thống BCTC, trong khi IAS/IFRS không đưa ra mẫu biểu cụ thể
của báo cáo.
- Theo VAS 21, doanh thu và chi phí tài chính được tính vào lãi/lỗ hoạt động kinh doanh
trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là không phù hợp với thông lệ quốc tế, khi các
khoản lãi/lỗ bán cổ phiếu vốn không phải của hoạt động mang tính thường xuyên của
doanh nghiệp lại được hiểu là kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu.
- IAS 2 cho phép sử dụng các phương pháp ước tính giá trị hàng tồn kho như phương
pháp chi phí định mức hoặc phương pháp giá bán lẻ, nhưng vấn đề này không được đề
cập ở VAS 2. VAS 2 cho phép áp dụng phương pháp “Nhập sau - Xuất trước” (LIFO)
trong khi IAS/ IFRS không cho phép áp dụng phương pháp này.
- VAS 3 chỉ cho phép đánh giá lại tài sản cố định là bất động sản, nhà xưởng và thiết bị
trong trường hợp có quyết định của Nhà nước, đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, liên kết,
chia tách, sáp nhập doanh nghiệp và không được ghi nhận phần tổn thất tài sản hàng năm.
Trong khi đó, theo IAS 16, doanh nghiệp được phép đánh giá lại tài sản theo giá thị
trường và được xác định phần tổn thất tài sản hàng năm, đồng thời được ghi nhận phần
tổn thất này theo quy định tại IAS 36.
- VAS 11 quy định lợi thế thương mại được phân bổ dần trong thời gian không quá 10
năm kể từ ngày mua trong giao dịch hợp nhất kinh doanh. Trong khi đó, IFRS 3 quy định
doanh nghiệp phải đánh giá giá trị lợi thế thương mại tổn thất;
- VAS hiện thiếu một số chuẩn mực liên quan đến các đối tượng và giao dịch đã phát sinh
- IAS/IFRS cho phép sử dụng xét đoán và ước tính nhiều hơn so với VAS, dẫn đến
IAS/IFRS yêu cầu khai báo thông tin liên quan đến sử dụng xét đoán và ước tính nhiều
hơn.
Nguyên nhân thuộc về môi trường kế toán:
- Thứ nhất, văn hoá của người Việt Nam là tránh rủi ro và sự không chắc chắn. Áp dụng
IAS/IFRS, sự không chắc chắn là rất cao bởi vì BCTC theo IAS/IFRS sử dụng nhiều ước
tính kế toán, ví dụ như giá trị hợp lý. VAS với các ước tính kế toán ít hơn và thận trọng
hơn làm hạn chế những yếu tố không chắc chắn, tuy nhiên, điều này cũng giảm nhiều sự
phù hợp của thông tin trên BCTC. Đặc điểm văn hoá này là yếu tố ảnh hưởng gián tiếp và
rất quan trọng đến việc VAS chưa áp dụng hoàn toàn IAS/IFRS.
- Thứ hai, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam còn khá non trẻ, Việt Nam mới phát triển
kinh tế thị trường từ những năm cuối của thế kỷ 20, thị trường vốn của Việt Nam là một
trong những thị trường non trẻ nhất trên thế giới, mới được hình thành hơn mười năm
nay. Đến nay, nó vẫn chưa thể hiện rõ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, mới chỉ trong
phạm vi quốc gia, chưa liên thông với thị trường vốn trên thế giới. Trong khi đó, định
hướng của IAS/IFRS là xây dựng hệ thống các chuẩn mực kế toán hoàn toàn thị trường
và hỗ trợ thị trường vốn, một hệ thống chuẩn mực kế toán phục vụ cho lợi ích chung, chất
lượng cao, dễ hiểu và có thể áp dụng trên toàn thế giới, nhằm giúp những người tham gia
vào các thị trường vốn khác nhau trên thế giới ra quyết định kinh tế. Do vậy, định hướng
phát triển của VAS để phục vụ cho các nhà đầu tư trên thị trường vốn không mạnh như
IAS/IFRS; nhu cầu của Việt Nam về một hệ thống kế toán phức tạp và hợp lý như
IAS/IFRS để phục vụ thị trường vốn là chưa cấp bách. Ngoài ra, ở Việt Nam hiện nay,
nhiều đối tượng sử dụng BCTC chưa có nhu cầu thực sự đối vối thông tin tài chính chất
lượng cao vì thông tin tài chính chỉ đóng vai trò thứ yếu trong việc ra quyết định của họ.
- Thứ ba, Việt Nam là một nước theo hướng điển chế luật (code law) hay luật thành văn
(civil law), khác với các nước theo hướng thông luật (common law). Trong các nước theo
hướng điển chế luật, nhìn chung, sự bảo vệ quyền cổ đông và yêu cầu về tính minh bạch
của thông tin thấp hơn trong các nước theo hướng thông luật. VAS được xây dựng phù
khá lớn, xây dựng lại hệ thống thu thập, xử lý và trình bày các thông tin tài chính. Ngoài
ra, phương pháp xây dựng IAS/IFRS về cơ bản là theo mô hình Anglo-America, do đó có
thể không phù hợp với các nước đang phát triển vì có sự khác biệt lớn về văn hóa và môi
trường kinh tế giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển (Prather-Kinsey,
2006). Theo Carmona and Trombetta (2008), IAS/IFRS dựa trên nguyên tắc (principlebased IAS/IFRS) có tính linh hoạt cao nên có thể khó vận dụng vào hoàn cảnh các nước
đang phát triển, vốn thiếu một thị trường phát triển để có thể áp dụng phương pháp dựa
trên thị trường (market-base) để ước tính giá trị hợp lý
Từ các nguyên nhân của sự chưa hòa hợp giữa VAS với IAS/IFRS và những phân tích
nêu trên, có thể thấy, việc Việt Nam lựa chọn mô hình vận dụng có chọn lọc IAS/IFRS
làm cơ sở chủ yếu để xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán cho mình là một sự lựa chọn
hợp lý. Tuy nhiên, trong thời gian sắp tới, để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế nói chung
và hội nhập về kế toán nói riêng, một số giải pháp mang tính định hướng cần được xem
xét một cách tích cực, như sau:
Thứ nhất, như đã phân tích ở trên, trong IAS/IFRS, giá trị hợp lý được sử dụng ngày càng
nhiều trong đo lường và ghi nhận các yếu tố của BCTC. Cuộc họp tháng 09/2009 tại Mỹ,
nhóm các nước G-20 đã xác nhận lại cam kết thúc đẩy việc hội tụ hệ thống chuẩn mực
BCTC quốc tế ( IFRS) trong đó có đề cập đến việc sử dụng giá trị hợp lý như một cơ sở
đo lường chủ yếu nhằm tăng cường tính thích hợp của thông tin trình bày trên BCTC.
Cũng trong năm 2009, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) công bố dự thảo “Các
quy định về đo lường giá trị hợp lý’, trong đó, thống nhất giá trị hợp lý là “ giá trị đầu ra”
của tài sản hay nợ phải trả. Trong khi đó, VAS1 hầu như chỉ đưa ra nguyên tắc giá gốc.
Việc sử dụng giá gốc làm cơ sở đo lường chủ yếu có thể đạt được độ ‘tin cậy’ nhưng làm
giảm tính ‘liên quan’ của thông tin được cung cấp bởi BCTC. Do vậy, trong một tương lai
không xa, việc nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận và điều kiện, phương pháp vận dụng
“Nguyên tắc giá trị hợp lý” trở thành một vấn đề cần được Việt Nam xem xét và thực
hiện một cách nghiêm túc.
Thứ hai, cần khẩn trương đánh giá, sửa đổi, bổ sung cập nhật 26 chuẩn mực đã ban hành
Tại Đức, các DN áp dụng kế toán môi trường giúp đưa ra quyết định thay đổi về kỹ
thuật, về hệ thống tổ chức quản lý, về chiến lược sản phẩm theo hướng sản phẩm xanh,
về sử dụng nguyên liệu thân thiện với môi trường… Sự thay đổi này dẫn đến tiết kiệm
chi phí nguyên liệu, năng lượng, nước, tiết kiệm chi phí xử lý chất thải, nâng cao năng
suất, hiệu quả hoạt động... Kinh nghiệm của các DN Đức cũng cho thấy, việc áp dụng kế
toán môi trường chủ yếu tập trung vào hạch toán dòng vật liệu, phân tích Bảng đầu vào đầu ra, xác định lượng nguyên liệu, năng lượng, nước sử dụng hàng năm, xác định lượng
khí thải, nước thải, chất thải rắn hàng năm.
Ở châu Á, Nhật Bản là quốc gia mà các DN luôn đi đầu trong việc nghiên cứu và ứng
dụng kế toán môi trường. Thực tế tại các DN quốc gia này cho thấy, việc áp dụng những
biện pháp bảo vệ môi trường và áp dụng kế toán môi trường sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế
của DN và hiệu quả bảo vệ môi trường.
Việc áp dụng kế toán môi trường tập trung vào hạch toán dòng vật liệu, kế toán chi phí
và thu nhập về môi trường, phân tích bảng cân bằng sinh thái, phân tích chu kỳ sống sản
phẩm, xác định lượng nguyên liệu, năng lượng, nước sử dụng hàng năm, xác định lượng
khí thải nước thải, chất thải rắn hàng năm, kế toán chi phí và thu nhập về môi trường. Kế
toán môi trường của Nhật Bản chú trọng đến việc sử dụng cả thước đo hiện vật và thước
đo giá trị trong quá trình hạch toán và thông tin về môi trường được trình bày trong Báo
cáo thường niên về môi trường, xã hội và tài chính.
Về cơ bản, để áp dụng kế toán môi trường đòi hỏi phải có hệ thống các chính sách,
pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan của Chính
phủ liên quan đến vấn đề môi trường và kế toán, các tổ chức bảo vệ môi trường, các hội
nghề nghiệp về kế toán trong, ngoài nước và đặc biệt đối tượng chính là cộng đồng DN.
Việc áp dụng kế toán môi trường trong DN của các quốc gia ban đầu thường mang tính
tự nguyện, nên trong giai đoạn đầu, các cơ quan quản lý chỉ ban hành những hướng dẫn
DN thực hiện kế toán môi trường. Thực tiễn cho thấy, các DN thực hiện kế toán môi
trường thì hiệu quả kinh doanh ngày càng tăng, tạo động lực cho tất cả các DN khác áp
dụng kế toán môi trường. Vì vậy, các cơ quan quản lý nên ban hành những chuẩn mực về
kế toán môi trường, quy định những thông tin môi trường trình bày trong báo cáo cung
cách đồng bộ trong mối quan hệ mất thiết, kế thừa với nhau. Các cơ quan soạn thảo và
hoạch định chính sách thuế và chính sách kế toán, cần tăng cường trao đổi, hội thảo để
xác định và từng bước thu hẹp khoảng cách giữa các chính sách một cách hợp lý.
Việt Nam đang thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường với việc đa dạng hóa
các loại hình doanh nghiệp, các thành phần kinh tế khác ngoài doanh nghiệp nhà nước.
Trước đây, chúng ta chỉ có những chính sách tài chính, quy định dành riêng cho các
doanh nghiệp nhà nước mà không cú cỏc chính sách và quy định đối với doanh nghiệp cổ
phần và trách nhiệm hữu hạn, từ đó, không tạo ra môi trường bình đẳng và sự đồng nhất,
có thể so sánh được. Còn ngày nay, cạnh tranh mạnh mẽ hơn, bình đẳng hơn đòi hỏi các
doanh nghiệp phải công khai thông tin một cách hữu hiệu hơn để tăng cường thu hút đầu
tư. Thêm vào đó nhu cầu của nhà đầu tư là có một cơ sở để so sánh các công ty với nhau
nhằm đưa ra các quyết định đầu tư bắt đầu nảy sinh cùng với sự ra đời của thị trường
chứng khoán Việt Nam và sự thay đổi trong chính sách đầu tư của Việt Nam. Đó là Chính
phủ Việt Nam ngày càng mong muốn kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài đổ vốn vào Việt
Nam.
Do đó, sự ra đời của hệ thống chuẩn mực kế toán đã đáp ứng nhu cầu minh bạch hóa
thông tin của doanh nghiệp thụng cỏc báo cáo tài chính có khả năng phản ánh đúng thực
trạng kinh doanh của doanh nghiệp và tạo một cơ sở chung để so sánh các doanh nghiệp
với nhau. Không phải chỉ là sự so sánh giữa các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam, mà
còn có thể so sánh doanh nghiệp Việt Nam với những doanh nghiệp nước ngoài, hoặc là
doanh nghiệp nước ngoài cũng có thể so sánh với doanh nghiệp Việt Nam. Vì thế, mục
tiêu của chuẩn mực kế toán là rất cao và khác hẳn với cơ chế chính sách mà Việt Nam đó
cú từ những năm trước.
Đây chính là tiền đề cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam vì yêu cầu
đặt ra đối với các công ty niêm yết là phải công khai, minh bạch thông tin và báo cáo tài
chính trung thực.
Đây cũng là một nhân tố tạo lòng tin cho nhà đầu tư nước ngoài do rủi ro đối với việc
thông tin tài chính không được minh bạch hóa ở Việt Nam đã được giảm bớt. Nhà đầu tư
Khái niệm về thị trường hoạt động đã được trích dẫn ở trên cho thấy chỉ có một nền
kinh tế thị trường mới có thể những thị trường hoạt động cung cấp các ước tính đáng tin
cậy về giá trị của tài sản. Nếu chúng ta cứ bàn về vấn đề hoàn thiện các chuẩn mực kế
toán Việt Nam theo các chuẩn mực kế toán quốc tế mà không có cơ sở vững chắc từ nền
kinh tế thỡ đú sẽ là những giải pháp không khả thi.
Không chỉ có vậy, nền kinh tế phát triển thì mới nảy sinh các hoạt động kinh tế cần sự
điều chỉnh của các chuẩn mực kế toán quốc tế. Như hoạt động tài chính ở nước ta chưa
phát triển đến mức cần có chuẩn mực kế toán điều chỉnh nờn dự thế giới đó cú IAS 32 là
chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày công cụ tài chính thì cho đến nay Việt Nam mới
chỉ bàn đến việc soạn thảo chuẩn mực kế toán này ở Việt Nam.
Do đó, tốc độ phát triển của nền kinh tế là một điều kiện quyết định việc tiến hành đưa
chuẩn mực kế toán Việt Nam về gần với chuẩn mực kế toán quốc tế là nhanh hay chậm,
dễ dàng hay khó khăn.
Mà để đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế thì cần phải có những chính sách
phát triển kinh tế đúng hướng của Nhà Nước. Bên cạnh đó Nhà Nước cần hoàn thiện các
cơ chế và hệ thống pháp luật kinh tế tài chính phù hợp với nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà Nước.
Sự chuẩn bị của các doanh nghiệp:
Các chuẩn mực kế toán đưa ra vừa để quản lý các hoạt động của doanh nghiệp vừa để
tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng thực thi các nghĩa vụ của họ về báo cáo tài
chính.
Do đó, các chuẩn mực có thể có sức sống trong thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp
hay không phụ thuộc vào các doanh nghiệp rất nhiều.
Nếu như các doanh nghiệp không tìm hiểu các chuẩn mực được ban hành và có ý thức
chấp hành nghiêm chỉnh các chuẩn mực thỡ cỏc chuẩn mực kế toán sẽ hoàn toàn không
có ý nghĩa thực tiễn. Việc tuân theo các chuẩn mực đòi hỏi doanh nghiệp phải hiểu được
đỳng, sõu và đầy đủ định nghĩa, khái niệm và cách hạch toán được quy định trong các
chuẩn mực. Điều này hoàn toàn có thể thực hiện nếu như hội kế toán và kiểm toán Việt
Nam (VAA) đứng ra chủ trì và tổ chức nhiều buổi hội thảo để phổ biến các chuẩn mực kế
môi trường nhằm mục tiêu phát triển bền vững..