CƠ CHẾ PHÁP lý về sự THAM GIA của các tổ CHỨC xã hội TRONG bảo vệ môi TRƯỜNG ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 45

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ TỐ UYÊN

CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ SỰ THAM GIA
CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

HÀ NỘI - 2017


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ TỐ UYÊN

CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ SỰ THAM GIA
CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 62 38 01 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN MẠNH

HÀ NỘI - 2017


2.4. Cơ chế pháp lý về sự tham gia của các tổ chức xã hội trong bảo vệ môi
trường ở một số nước trên thế giới và những giá trị tham khảo đối với
Việt Nam
Chương 3: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG
CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ SỰ THAM GIA CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI
TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

3.1. Quá trình hình thành, phát triển của cơ chế pháp lý về sự tham gia của
các tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường
3.2. Thực trạng cơ chế pháp lý về sự tham gia của các tổ chức xã hội trong
bảo vệ môi trường
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ
VỀ SỰ THAM GIA CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

4.1. Quan điểm hoàn thiện cơ chế pháp lý về sự tham gia của các tổ chức xã
hội trong bảo vệ môi trường
4.2. Giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý về sự tham gia của các tổ chức xã
hội trong bảo vệ môi trường
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang
1
8
8
30

ĐMC

: Đánh giá tác động Môi trường chiến lược

ĐTM

: Đánh giá tác động môi trường

HĐND

: Hội đồng nhân dân

KTXH

: Kinh tế xã hội

KHCN

: Khoa học công nghệ

MTTQ

: Mặt trận Tổ quốc

NGO

: Tổ chức phi Chính phủ

TCXH


văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hòa với tự nhiên
của cha ông ta” [16]. Đại hội Đảng lần thứ XII cũng đã khẳng định: “BVMT phải là
trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công
dân” [62, tr.42]. Nhiều văn bản pháp luật về BVMT cũng đã được ban hành và tổ
chức thực hiện như Luật BVMT năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 2005), Luật tài
nguyên nước năm 1998, Luật đa dạng sinh học năm 2008; Luật năng lượng nguyên
tử năm 2008, Luật Khoáng sản năm 2010, Luật BVMT năm 2014,… Trong đó,
quan điểm chỉ đạo xuyên suốt là BVMT gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội,
BVMT để phát triển bền vững; BVMT là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức,
mọi gia đình và của mỗi người. Nhờ có những chủ trương, chính sách pháp luật
đúng đắn, công tác BVMT đã có những chuyển biến tích cực cả trong nhận thức lẫn
hành động.


2
Trên bình diện quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng, các tổ chức xã hội
(TCXH) đang ngày càng góp phần quan trọng vào những nỗ lực chung của cộng
đồng trong đó có BVMT. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, hàng loạt
các TCXH đã ra đời và phát triển mạnh góp phần đáng kể trong việc tăng cường vai
trò tham gia của người dân vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, trong đó
có sự nghiệp BVMT. Do vậy, vai trò của các TCXH trong BVMT ở Việt Nam rất
quan trọng. Các TCXH đã chung sức cùng với Nhà nước tham gia quá trình giám
sát, BVMT. Tuy nhiên, do chưa có một khung pháp lý đồng bộ và một cơ chế thực
thi hiệu quả nên sự tham gia của các TCXH trong BVMT còn nhiều hạn chế. Một
trong những khó khăn của các TCXH trong việc BVMT đó là nhận thức của chính
quyền, ban, ngành địa phương, thậm chí của xã hội nói chung, về vị trí, vai trò và
nhiệm vụ của các TCXH còn chưa đầy đủ. Vì vậy, các TCXH ở Việt Nam hoạt
động trong lĩnh vực BVMT chưa thực sự tạo ra được sức mạnh góp phần hỗ trợ
Nhà nước quản lý, BVMT; đặc biệt là chưa mang lại nhiều tác động hiệu quả từ
hoạt động vận động chính sách, tư vấn, phản biện xã hội đối với những chính sách

Luận án có các nhiệm vụ cụ thể sau:
Một là, xây dựng cơ sở lý luận của cơ chế pháp lý về sự tham gia của các
TCXH trong BVMT ở Việt Nam hiện nay dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực
trạng quy định pháp luật BVMT liên quan đến sự tham gia của các TCXH trong
BVMT trên thế giới và ở Việt Nam.
Giải quyết nhiệm vụ này, luận án tập trung nghiên cứu, phân tích đưa ra khái
niệm, đặc điểm, vai trò, các thành tố và các tiêu chí hoàn thiện cơ chế pháp lý về sự
tham gia của các TCXH trong BVMT, nghiên cứu cơ chế pháp lý về sự tham gia
của các TCXH trong BVMT của một số nước trên thế giới và những giá trị tham
khảo cho Việt Nam.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế pháp lý về sự tham gia của các
TCXH trong BVMT ở Việt Nam; trên cơ sở chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế và
nguyên nhân của thực trạng này.
Giải quyết nhiệm vụ này, luận án tập trung làm rõ thực trạng các thành tố của
cơ chế pháp lý về sự tham gia của các TCXH trong BVMT và mối quan hệ thực tế
của các yếu tố này. Trên cơ sở đó, đánh giá, phân tích những kết quả đạt được,
những tồn tại, bất cập trong cơ chế pháp lý về sự tham gia của các TCXH trong
BVMT và những nguyên nhân của tồn tại, bất cập đó.
Ba là, xây dựng nhận thức chung về vai trò tham gia BVMT của các TCXH
và cơ chế pháp lý về sự tham gia của các TCXH trong BVMT ở Việt Nam, nghiên


4
cứu, luận giải các quan điểm, đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp
lý về sự tham gia của các TCXH trong BVMT ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Quan điểm khoa học liên quan đến cơ chế pháp lý về sự tham gia của các
TCXH trong BVMT.
- Các quy định pháp luật thể hiện cơ chế pháp lý về sự tham gia của các

các vấn đề liên quan đến nội dung đề tài.
Trên cơ sở phương pháp luận nói trên, luận án sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê;
phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn; phương pháp lịch sử; phương pháp so
sánh… để nghiên cứu các nội dung cụ thể trong từng chương của luận án.
Các phương pháp được sử dụng nhằm làm rõ nội dung cơ bản của đề tài,
đảm bảo tính khoa học và logic giữa các vấn đề của đề tài trong các chương. Do
tính chất của từng chương, từng phần nên trong mỗi chương, mỗi nội dung nghiên
cứu của đề tài sẽ sử dụng một trong các phương pháp trên làm chủ đạo. Phương
pháp phân tích tổng hợp sẽ được sử dụng xuyên suốt trong các Chương 1, Chương
2, Chương 3 và Chương 4. Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, thống kê, so
sánh sẽ được sử dụng chủ yếu trong Chương 3 và Chương 4.
Ngoài những phương pháp cụ thể nêu trên, luận án còn kết hợp sử dụng các
phương pháp khác dưới đây:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Phương pháp này được áp dụng để phân
tích cả tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp. Tài liệu sơ cấp bao gồm các văn bản pháp
luật và Văn kiện của Đảng có liên quan, các vụ việc, các số liệu thống kê chính thức
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như số liệu thống kê do tác giả thực hiện
thông qua phỏng vấn và điều tra sử dụng bảng hỏi. Tài liệu thứ cấp bao gồm các bài
báo, tạp chí, kết luận phân tích đã được các tác giả khác thực hiện.
- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được sử dụng để thu thập
thông tin và ý kiến của những chuyên gia, các nhà khoa học Việt Nam và nước
ngoài đã và đang nghiên cứu về Luật BVMT và Lý luận Nhà nước và pháp luật.
Phương pháp này được thực hiện thông qua việc tác giả luận án liên lạc trực tiếp với
các chuyên gia, các nhà khoa học trong nước và liên hệ gián tiếp với các chuyên gia
nước ngoài thông qua các cuộc hội thảo mà tác giả tham dự hoặc qua trao đổi bằng
thư điện tử. Thông tin thu được qua trao đổi với các chuyên gia sẽ là cơ sở quan


6



7
- Đánh giá thực trạng cơ chế pháp lý về sự tham gia của các TCXH trong
BVMT ở Việt Nam, nêu được những hạn chế và nguyên nhân hạn chế của cơ
chế này.
- Luận án đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý về sự
tham gia của các TCXH trong BVMT trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận, kết quả của luận án đóng góp phần hoàn thiện lý luận về quyền
lực nhân dân, quyền làm chủ của nhân dân, về kiểm soát quyền lực nhà nước, góp
phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, chỉ rõ thực trạng và đề xuất những giải
pháp nhằm hoàn thiện cơ chế pháp lý về sự tham gia của các TCXH trong BVMT ở
Việt Nam hiện nay.
- Về thực tiễn, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên
cứu, giảng dạy, học tập lý luận chung về nhà nước và pháp luật trong các cơ sở đào
tạo, làm tài liệu tham khảo nghiên cứu đối với các cơ quan chức năng trong quá
trình hoạch định chính sách, pháp luật, dự án kinh tế - xã hội để xây dựng và hoàn
thiện nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Luận
án còn góp phần nâng cao nhận thức cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân về
BVMT và sự tham gia của toàn xã hội trong việc BVMT. Những kiến thức khoa
học của đề tài sẽ có giá trị tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy ở các
đơn vị đào tạo chuyên môn liên quan để đề tài và có giá trị tham khảo cho những ai
quan tâm đến lĩnh vực này.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công
bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
luận án được kết cấu làm 4 chương, 10 tiết.


TCXH khi nghiên cứu về vai trò của các tổ chức này trong BVMT. Tuy nhiên,
cũng bởi xuất phát từ góc độ nghiên cứu này mà công trình này hoàn toàn không
đề cập đến các nội dung liên quan đến cơ chế pháp lý về sự tham gia của các
TCXH trong BVMT ở Việt Nam.
Hội thảo “Vai trò của các cơ quan tổ chức, trong việc giải quyết vụ việc ô
nhiễm môi trường do Công ty Vedan gây ra” của Hội Luật gia Việt Nam [104]. Kết
quả hội thảo cho thấy vai trò của các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết các vấn
đề vi phạm pháp luật BVMT rất quan trọng nhưng thiếu cơ chế pháp lý để các cơ
quan, tổ chức này tham gia.


11
Kết quả các tham luận và thảo luận của Hội thảo “Sự tham gia của các tổ
chức xã hội trong việc bảo vệ pháp luật môi trường và tranh tụng vì lợi ích cộng
đồng” của Hội Luật gia Việt Nam [105], cũng đề cập đề vấn đề bức thiết hiện nay
đó là vai trò ngày càng quan trọng của các TCXH trong việc BVMT ở Việt Nam
hiện nay và sự cần thiết phải có cơ chế, chính sách nâng cao vai trò của các TCXH
trong BVMT.
Hội thảo “Phát triển bền vững ở Việt Nam và vai trò của cộng đồng” của Hội
Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam phối hợp với Viện Chiến lược Chính
sách Tài nguyên và Môi trường [101] với sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà
khoa học thuộc Viện Chiến lược chính sách tài nguyên và môi trường, Hội Bảo vệ
Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE), Tổng cục Môi trường; đại diện
một số cơ quan quản lý, cơ quan nghiên cứu: Viện Môi trường và Phát triển bền
vững, Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Điều tra quy hoạch rừng, Hội Kinh tế Môi
trường Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Luật Hà Nội... và nhiều cơ
quan thông tấn, báo chí. Tại Hội thảo, các đại biểu đều khẳng định vai trò quan
trọng của cộng đồng trong BVMT chưa được đánh giá đúng mức. Cộng đồng còn
thiếu thông tin cần thiết về môi trường, chưa tạo được cơ chế tối thiểu cho việc chủ
động tham gia, chưa tăng cường được năng lực để cộng đồng có đủ sức BVMT như

- Bài viết “Hoàn thiện pháp luật về vai trò của các tổ chức xã hội trong giám
sát bảo vệ môi trường" của Nguyễn Thị Tố Uyên [206]. Qua bài viết, tác giả đánh
giá vai trò của các TCXH trong giám sát BVMT và đề xuất một số giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật để nâng cao vai trò giám sát của các TCXH trong công tác
BVMT hiện nay.
* Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ chế pháp lý
Đối với nhóm các công trình nghiên cứu về cơ chế pháp lý nói chung, hiện
đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề cơ chế pháp lý trên các lĩnh vực
khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội. Có thể kể đến các công trình tiêu biểu như:
- “Cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam” của Nguyễn Chí
Dũng [55], tiếp cận, phân tích cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư
pháp như: các khái niệm quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, giám sát, giám sát hoạt
động tư pháp, cơ chế, cơ chế pháp lý, các yếu tố cấu thành và mối quan hệ mật thiết
của các yếu tố tạo nên hệ thống cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp. Trong
hệ thống cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp bao gồm ba yếu tố cấu thành:
phương thức tổ chức giám sát, yếu tố pháp lý, mối quan hệ tương tác giữa chủ thể
giám sát tác động đến đối tượng giám sát. Mỗi yếu tố trong hệ thống cơ chế là tiền
đề của nhau và là điều kiện bổ sung cho nhau để hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích cơ
sở lý luận của cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp, luận án tập trung phân
tích thực trạng cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp, yêu cầu khách quan,
quan điểm chỉ đạo và các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư
pháp hiện nay.
Luận án này là một công trình nghiên cứu có hệ thống về cơ chế pháp lý
giám sát hoạt động tư pháp, phân tích các yếu tố cấu thành của cơ chế này và sự vận


15
hành, mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố đó. Tuy không đề cập đến cơ chế pháp
lý đảm bảo sự tham gia của các TCXH trong BVMT nhưng một số vấn đề lý luận
về cơ chế pháp lý cũng có ý nghĩa tham khảo đối với đề tài nghiên cứu của nghiên

16
hiện quyền lực nhà nước.Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận của cơ chế pháp lý giám
sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước, luận án tập trung phân tích
thực trạng cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà
nước, yêu cầu khách quan, quan điểm chỉ đạo và các giải pháp hoàn thiện cơ chế
pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước.
- “Cơ chế pháp lý đảm bảo giải quyết tranh chấp hành chính ở Việt Nam"
của Trần Quang Hiển [89], phân tích cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý đảm bảo giải
quyết tranh chấp hành chính như: các khái niệm tranh chấp hành chính, giải quyết
tranh chấp hành chính, cơ chế pháp lý, các yếu tố cấu thành và mối quan hệ mật
thiết của các yếu tố tạo nên hệ thống cơ chế pháp lý đảm bảo giải quyết tranh chấp
hành chính cũng như vai trò và các tiêu chí hoàn thiện cơ chế này. Trong hệ thống
cơ chế pháp lý bảo đảm giải quyết tranh chấp hành chính bao gồm bốn yếu tố cấu
thành: các nguyên tắc pháp lý cơ bản trong giải quyết tranh chấp hành chính, những
quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hành chính, thủ tục và phương thức
pháp lý giải quyết tranh chấp hành chính, con người trong cơ chế bảo đảm giải
quyết tranh chấp hành chính và mối quan hệ giữa các chủ thể có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp hành chính. Mỗi yếu tố trong hệ thống cơ chế là tiền đề của nhau
và là điều kiện bổ sung cho nhau để hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận
của cơ chế pháp lý bảo đảm giải quyết tranh chấp hành chính, luận án tập trung
phân tích thực trạng cơ chế pháp lý bảo đảm giải quyết tranh chấp hành chính, yêu
cầu khách quan, quan điểm chỉ đạo và các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo
đảm giải quyết tranh chấp hành chính hiện nay. Luận án này là một công trình
nghiên cứu có hệ thống về cơ chế pháp lý bảo đảm giải quyết tranh chấp hành
chính, phân tích các yếu tố cấu thành của cơ chế này và sự vận hành, mối quan hệ
tương tác giữa các yếu tố đó. Nghiên cứu sinh sẽ tham khảo luận án này về cấu trúc
và việc tiếp cận vấn đề dưới góc độ lý luận về cơ chế pháp lý nói chung.
- Nghiên cứu về cơ chế pháp lý còn có công trình “Hoàn thiện cơ chế pháp
lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước” của Nguyễn Quang Anh [3]... Đây là
công trình góp phần xây dựng cơ sở lý luận khoa học cho việc hoàn thiện cơ chế

việc bảo đảm thực thi pháp luật về môi trường. Tuy không trực tiếp đề cập đến cơ
chế pháp lý về sự tham gia của các TCXH trong BVMT ở Việt Nam hiện nay song
kết quả nghiên cứu đề tài, nhất là giải pháp nêu trên là tư liệu tham khảo quan trọng
đối với nghiên cứu sinh trong việc nghiên cứu luận án của mình. Luận án “Quản lý
nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay”của Hà
Công Tuấn [195] đã làm rõ cơ sở lí luận về quản lý nhà nước bằng pháp luật trong


18
lĩnh vực bảo vệ rừng; đánh giá thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật trong
lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay và nêu các quan điểm, đề xuất các giải
pháp chủ yếu đảm bảo quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng
ở Việt Nam đến năm 2020. Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung
vào vấn đề quản lý và bảo vệ rừng chứ không đề cập đến cơ chế pháp lý về sự tham
gia của các TCXH trong BVMT nói chung.
Tương tự “Đảm bảo vai trò của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt
Nam” của Võ Mai Anh [4] cũng chỉ tập trung nghiên cứu vào đối tượng là vai trò
của pháp luật trong bảo vệ rừng ở Việt Nam mà chưa nói đến cơ chế pháp lý như đề
tài mà nghiên cứu sinh đang say mê, muốn nghiên cứu.
Nghiên cứu “Hoàn thiện pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở Việt
Nam” của Lê Thị Hồng [106] đã phân tích rất sâu sắc cơ sở lý luận hoàn thiện
pháp luật về đánh giá tác động môi trường, quá trình phát triển và thực trạng pháp
luật về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam. Sau khi xác định đầy đủ quan
điểm và đánh giá yêu cầu khách quan hoàn thiện pháp luật về đánh giá tác động
môi trường, luận văn đã đưa ra nhiều giải pháp rất khả thi nhằm hoàn thiện pháp
luật về đánh giá tác động môi trường. Trong số các giải pháp được đưa ra, tác giả
cũng đề cập đến giải pháp: nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cộng
đồng, doanh nghiệp và các nhà quản lý… Giải pháp này có nói đến việc nâng cao
nhận thức để lôi kéo, thu hút đông đảo các lực lượng khác nhau của xã hội tham
gia BVMT nhưng chưa đề cập đến cơ chế pháp lý đảm bảo sự tham gia của các

hiện nay.
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài
* Các công trình nghiên cứu về tổ chức xã hội
Do cách tiếp cận khác với Việt Nam về TCXH, nên hầu hết các các nghiên
cứu ở nước ngoài đều tập trung nghiên cứu vào quá trình hình thành, tồn tại và phát
triển của xã hội dân sự ở những quốc gia ở cả hai khu vực phát triển và đang phát
triển. Các nghiên cứu này đã có bề rộng và chiều sâu từ những đầu thế kỷ 19 cùng
với quá trình truyền bá dân chủ, sản phẩm nghiên cứu rất nhiều và tập trung vào
phân tích đánh giá các khía cạnh cơ bản của xã hội dân sự như khái niệm, vai trò,
cấu trúc, quá trình hình thành và phát triển, tổ chức và hoạt động... Số lượng các
nghiên cứu này rất phong phú và đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Điển hình
cho các nghiên cứu này là:


20
- “Civil Society” in John T. Ishiyama and Marijke Breuning" (eds), "21st
Century Political Science: A Reference Handbook" (“Xã hội dân sự” in trong sách
"Sổ tay chuyên khảo: Khoa học Chính trị thế kỷ 21") của Ryan Salzman [276];
- "Alternate Civilities: Democracy and Culture in China and Taiwan" (Xã
hội dân sự kiểu mới: Dân chủ và văn hóa ở Trung Quốc và Đài Loan) của Robert
Weller [273];
- "Making Democracy Work: Civil Traditions in Modern Italy" (Thúc
đẩy nền dân chủ: Truyền thống dân sự trong xã hội Ý đương đại) của Robert
Putnam [274];
- “Nonprofit organisations and policy advocacy” (Các tổ chức phi lợi nhuận
và vận động chính sách) in trong tập sách của Powell, The Nonprofit Sector: A
Research Handbook (Khu vực phi lợi nhuận: Sách hướng dẫn nghiên cứu) của JC
Jenkins [253];
- "Getting to the 21st Century: Voluntary Action and the Global Agenda"
(Bước vào thế kỷ 21: Các hoạt động tự nguyện và chương trình hành động toàn cầu)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status