BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
PHẠM THỊ MAI LINH
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
PHẠM THỊ MAI LINH
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số
: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả
Phạm Thị Mai Linh
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu .................................................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu............................................................................... 7
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ........................................................ 7
5. Giả thuyết khoa học ................................................................................ 7
6. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................. 7
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu .................................................................. 8
8. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 8
9. Kết cấu của luận văn ............................................................................... 8
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn ..................... 8
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH
NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG.................. 9
1.1. Cách tiếp cận triết học đối với vấn đề trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp ........................................................................................... 9
1.1.1. Hoạt động kinh doanh và tính tất yếu của vấn đề thực hiện
trách nhiệm xã hội .......................................................................... 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 83
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVMT :
Bảo vệ môi trường
DN
:
Doanh nghiệp
KTTT
:
Kinh tế thị trường
ÔNMT :
Ô nhiễm môi trường
TNXH :
Trách nhiệm xã hội
2
Thực tế hiện nay tình trạng ÔNMT ở Việt Nam đang ở mức báo động.
ÔNMT đang có xu hướng gia tăng, đe dọa sự phát triển bền vững của đất
nước, mà phần nhiều sự ô nhiễm này là do các DN gây ra từ công việc sản
xuất kinh doanh. Điển hình có thể kể đến một số DN gây ÔNMT nghiêm
trọng, bị các cơ quan chức năng xử lý như: Công ty Vedan Việt Nam xả chất
thải ra sông Thị Vải gây ÔNMT, bị phát hiện ngày 13/9/2008 tại huyện Long
Thành, tỉnh Đồng Nai; vụ Công Ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa
Hà Tĩnh xả thải gây ô nhiễm biển, cá chết hàng loạt tại nhiều tỉnh miền Trung
vào tháng 4/2016…
Vấn đề trách nhiệm đối với môi trường của toàn xã hội nói chung và
việc thực hiện TNXH của DN trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói riêng phải
được thực hiện nghiêm túc quyết liệt để môi trường ở nước ta thêm trong sạch
và bền vững. Chính vì những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt
Nam hiện nay” làm đề tài luận văn của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
TNXH của DN hiện đang là lĩnh vực nhận được sự quan tâm của xã hội
và nhiều nhà nghiên cứu. Vấn đề thực hiện TNXH trong lĩnh vực BVMT
cũng ngày càng được quan tâm nhiều hơn trong bối cảnh nền KTTT hiện nay.
Nhiều DN vì chạy theo lợi nhuận mà quên đi trách nhiệm của mình trong lĩnh
vực BVMT, gây nguy hại đến môi trường làm việc của người lao động và môi
trường sống của nhiều người dân xung quanh.
Về khái niệm trách nhiệm xã hội của DN
Tác giả Phạm Văn Đức trong bài “Trách nhiệm xã hội của DN ở Việt
Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách” giới thiệu quá trình ra đời
của khái niệm này khi mới xuất hiện và được mở rộng về sau [26, tr.132].
Tác giả Lê Thanh Hà trong sách “Trách nhiệm xã hội của DN trong bối
cảnh Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế” đưa ra các khái
4
con người trở nên lu mờ, trách nhiệm và nghĩa vụ đạo đức bị che khuất, nghĩa
vụ và trách nhiệm xã hội bị lãng quên. Và mỗi khi con người trở nên vô cảm,
vô tâm, vô đạo đức, vô trách nhiệm trước những hiểm họa đang đe dọa trực
tiếp đến sự sống, sự an nguy tính mạng con người, họ sẵn sàng sản xuất, kinh
doanh những sản phẩm, những hàng hóa không chỉ bất chấp sự hủy hoại môi
trường sống mà còn bất chấp cả tiêu chuẩn an toàn vệ sinh, dẫu vẫn biết đó là
cái cần thiết cho sưc khỏe con người [51, tr.37-38].
Về vai trò của trách nhiệm xã hội của DN
Tác giả Lê Thanh Hà (2006), “Trách nhiệm xã hội DN trong vấn đề
tiền lương”, Báo Lao động xã hội, số 290, ngày 15/05/2006 đề cập tới vai trò
của tiền lương như: các mức lương vừa thể hiện vị trí công việc vừa thể hiện
sự chia sẻ lợi ích giữa các tổ chức, các DN và người lao động, vừa thể hiện sự
phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân người lao động.
Tác giả Hoàng Long (2007), “Trách nhiệm xã hội DN - Động lực cho
sự phát triển”, Báo Thương mại, số 26/2007, chứng minh tầm quan trọng
việc thực hiện TNXH của DN tới sự phát triển xã hội.
Tác giả Hồng Minh (2007), “Trách nhiệm xã hội và đạo đức DN”, Báo
Văn hóa và đời sống xã hội, số 2/2007, cho rằng đạo đức và TNXH rõ ràng là
những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh.
Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn trong bài viết “Kinh tế thị trường và
trách nhiệm xã hội” đưa ra nhận định: Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay
đã tạo cho nhân loại một lực lượng sản xuất khổng lồ mà các thế kỷ trước
người ta chưa thể mường tượng được. Những luật lệ của kinh tế toàn cầu
được nhiều nước chấp nhận, tuân thủ và do vậy chúng hạn chế bớt được phần
nào mặt trái do KTTT gây ra. Tuy nhiên, không thể vì thế mà coi KTTT và
các luật lệ của nó là chiếc đũa thần vạn năng có thể loại bỏ được tất cả những
gì tiêu cực ẩn chứa trong nó. Cho nên, cùng với trách nhiệm về mặt luật pháp
6
trong điều kiện KTTT đề cập đến một trong những vấn đề cấp bách hiện nay,
đó là trách nhiệm của con người đối với môi trường sống của mình từ góc
nhìn trách nhiệm xã hội [35, tr.268.273].
Tác giả Nguyễn Thị Huyền (2009), “Đạo đức môi trường - Một khía
cạnh trách nhiệm xã hội”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế TNXH trong điều kiện
KTTT đưa ra một trong những vấn đề cấp bách hiện nay là phải cân bằng
giữa lợi ích kinh tế và vấn đề đảm bảo môi trường. Tuy nhiên, khái niệm trách
nhiệm được tác giả đề cập tới bao hàm cả trách nhiệm pháp lý lẫn trách nhiệm
đạo đức. Vì vậy, nếu chỉ đơn thuần dựa vào pháp luật hay các quy tắc mang
tính cưỡng chế thì không thể giải quyết được bài toán cân bằng lợi ích.
Tác giả Vũ Dũng (2011), “Đạo đức môi trường ở nước ta - Lý luận và
thực tiễn”, Nxb Từ điển Bách Khoa, đây là cuốn sách đầu tiên phân tích về
đạo đức môi trường ở nước ta một cách hệ thống từ lý luận đến thực tiễn [28].
Tác giả Trần Nguyên Việt trong bài viết “Trách nhiệm xã hội của DN
về vấn đề sinh thái và ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay” cho rằng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là chủ trương đúng đắn của Đảng và
Nhà nước, song việc thực hiện nó như thế nào đòi hỏi các cấp các ngành phải
hướng tới sự đồng bộ và hài hòa của ba mục tiêu: tăng trưởng kinh tế, phát
triển bền vững gắn với BVMT và giải quyết công ăn việc làm cho người dân.
Điều đó hoàn toàn phù hợp với trách nhiệm của DN, bất kể đó là DN lớn, nhỏ
hay vừa [56].
Ở Việt Nam, dù đã có nhiều DN áp dụng TNXH của DN nhưng đây
vẫn là vấn đề khá mới mẻ. Vì thế những công trình viết về thực trạng việc
thực hiện TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT không nhiều. Các công trình
này đưa ra xu thế tất yếu việc thực hiện TNXH của DN ở Việt Nam, phân tích
thực trạng và từ đó đưa ra giải pháp tăng cường TNXH của DN trong điều
kiện nước ta hiện nay. Tuy nhiên thực trạng và giải pháp cho vấn đề TNXH
thời gian tới.
8
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2006 - 2016
- Phạm vi về không gian: Ở Việt Nam
- Phạm vi về nội dung: Từ cách tiếp cận TNXH của DN dưới góc độ
triết học, đề tài khái quát thực trạng thực hiện TNXH của DN ở Việt Nam. Từ
đó đề xuất những giải pháp nâng cao việc thực hiện TNXH của DN trong lĩnh
vực BVMT ở Việt Nam trong thời gian tới.
8. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: logic
- lịch sử, phân tích - tổng hợp, hệ thống hóa thống kê, so sánh, quan sát… để
tổng hợp đánh giá thực tiễn.
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu
thành 2 chương 5 tiết.
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
Những luận điểm cơ bản:
- Thực hiện TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay
là yêu cầu cấp thiết.
- Thực hiện nghiêm túc TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT là một
trong những yếu tố đưa Việt Nam tiến gần đến mục tiêu phát triển bền vững.
Đóng góp mới của luận văn:
- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần bổ sung thêm lý luận về TNXH của
DN và việc thực hiện TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo
1.1.1. Hoạt động kinh doanh và tính tất yếu của vấn đề thực hiện
trách nhiệm xã hội
Xã hội loài người được phát triển mạnh mẽ cũng chính từ nhu cầu trao
đổi, mua bán, kinh doanh. Theo Adam Smith, tác giả của cuốn sách “Của cải
10
của các dân tộc” (The Wealth of Nations) thì thông qua ký kết giao kèo, trao
đổi, mua bán mà người này nhận được từ người kia phần lớn những sự giúp
đỡ đôi bên cùng có lợi, và “cũng do sự buôn bán trao đổi như vậy mà con
người mở đầu cho sự phân công lao động” [2, tr.65]. Phần lớn những thứ cần
thiết của con người đều được cung cấp thông qua việc trao đổi, mua bán, ký
kết giao kèo. “Nếu như không có thiên hướng buôn bán, trao đổi hàng hóa sản
phẩm thì tất nhiên mỗi người chắc đã phải tự mình cung cấp cho chính mình
mọi đồ dùng cần thiết cho đời sống” [2, tr.65].
Khi mà nhu cầu kinh doanh phát triển, con người đẩy mạnh các phát
kiến vĩ đại của mình. Khoảng 4000 năm trước công nguyên, xuất phát từ nhu
cầu vận chuyển hàng hóa mà người Ai Cập đã phát minh ra thuyền buồm đi
lại trên sông. Văn minh Ai Cập dọc theo thung lũng sông Nile ra đời từ đó. Ai
cập cũng chính là nền văn minh lớn thời cổ đại chứa đựng nhiều kho tàng tri
thức và phát kiến quan trọng của nhân loại.
Vùng Địa Trung Hải từ thời cổ đại cũng được biết đến là nơi giao
thương nhộn nhịp với các quốc gia giàu có như Syria, Lenbanon và Israel.
Người dân ở đây sản xuất dầu olive, rượu nho, vải rồi buôn bán với Ai cập,
Crete, Cyprus, thậm chí với cả Tơroa (Troy) ở phía đông Thổ Nhĩ Kỳ. Họ
thành lập ra thành phố Ugarit năm 4000 TCN, Byblos năm 3000 TCN. Thành
phố này đã trở thành trung tâm buôn bán, thương mại quốc tế nhiều thế kỷ sau
đó. Một số thị trấn nằm sâu trong đất liền cũng ăn theo chuyên về buôn bán
được lập ra như Ebla (năm 3000 TCN). Tới năm 1500 TCN, miền đông của
khu vực Địa Trung Hải gọi là Phonenicia, nơi giao các con đường buôn bán từ
lực để thúc đẩy sự phát triển khoa học, thúc đẩy sự phát triển của nền văn
minh vật chất của con người. Nói về điều này, Hêghen cũng đã khẳng định:
“lợi ích thúc đẩy lịch sử các dân tộc và các cá nhân”.
Xã hội ngày càng phát triển kéo theo nhu cầu kinh doanh và trao đổi
hàng hóa ngày càng được đẩy mạnh. Sự đa dạng của các hoạt động kinh
12
doanh đã đặt ra các yêu cầu đối với sự phát triển của khoa học. Những tiến bộ
khoa học kỹ thuật từ cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra những nhà máy
công nghiệp khổng lồ, những thương trường sôi động, chợ búa, cửa hàng, cửa
hiệu,… đồng thời kéo theo sự tập trung dân cư tại những trung tâm công
nghiệp, thương nghiệp. Hàng loạt những ngành công nghiệp mới ra đời tạo ra
hàng triệu chủng loại những sản phẩm mới với khối lượng hàng triệu đơn vị
sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Con người đã được hưởng thụ
“những đống khổng lồ của cải” mà trước đó nó chưa hề biết đến. Cuộc sống
của con người ở tất cả các lĩnh vực đều được cải thiện, các năng lực và khả
năng của con người được gia tăng nhờ vào sự hỗ trợ của các phương tiện nghe
nhìn, phương tiện giao thông,...
Có thể thấy rằng kinh doanh chính là yếu tố rất quan trọng đối với quá
trình phát triển kinh tế thịnh vượng, đời sống ấm no và đưa xã hội tới văn
minh. Các quốc gia giàu có thịnh vượng và kinh tế hùng mạnh đều có hệ
thống kinh doanh bền vững, cạnh tranh. Môi trường kinh doanh sôi động
chính là biểu hiện của nền kinh tế năng động. Quá trình cạnh tranh trong kinh
doanh cũng chính là nguồn sức ép để cải thiện dân trí nhằm có công việc hấp
dẫn, doanh nghiệp tăng năng suất lao động, chỉnh đốn chiến lược và phương
pháp kinh doanh, khoa học kỹ thuật phát triển phục vụ dân sinh, v.v..
Thực tiễn kinh doanh trong lịch sử đã cho thấy những cuộc cạnh tranh
tàn khốc, các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau cũng chỉ vì những mục đích
thương mại. Trong thời cận đại, các cuộc chiến tranh nhằm tranh giành quyền
phạm vi toàn thế giới nói chung và đặc biệt là ở các quốc gia có nền kinh tế đang
phát triển trong đó có Việt Nam nói riêng, vụ việc các cá nhân, các công ty, DN
chỉ vì chạy theo lợi nhuận mà cạnh tranh không lành mạnh, dùng mọi thủ đoạn
tiêu diệt, thôn tính, chèn ép lẫn nhau, làm ăn gian dối, làm hàng giả, hàng kém
chất lượng, buôn lậu, trốn thuế, lừa đảo, đầu cơ,... vẫn còn là những hiện tượng
không phải là hiếm thấy.
14
Tuy nhiên, các cách kiếm lợi bất chính như vậy đã gặp phải sự phản đối
của xã hội. Xã hội càng phát triển thì làn sóng phản đối cách kiếm lợi chụp
giật, thiển cận, thiếu văn hóa, vô đạo đức, phản tự nhiên như vậy càng trở nên
mạnh mẽ. Con người đã sớm nhận ra rằng xã hội loài người sẽ không thể phát
triển lâu bền nếu mỗi cá nhân chỉ chú trọng đến lợi ích của bản thân mà chà
đạp lên lợi ích của người khác. Kiểu kinh doanh như trên chỉ làm cho nền
kinh tế rối loạn, tạo ra hiểm họa đe dọa sự tồn tại của thị trường, của người
tiêu dùng và đe dọa sự tồn tại của cả DN và cụ thể là những người kinh
doanh. Thực tế cho thấy, không ít chủ thể kinh doanh giàu có, sở hữu một tài
sản kếch sù mà vẫn thấy bất hạnh bởi tình cảm giữa con người với nhau trở
nên cạn kiệt, đạo đức suy đồi, sa ngã vào các tệ nạn xã hội. Đây chính là
những yếu tố làm hủy hoại nền tảng tinh thần và đạo đức của xã hội. Như vậy,
sự giàu có về vật chất, những tiến bộ về kinh tế, về khoa học kỹ thuật và công
nghệ chưa đủ để đảm bảo cho sự bền vững của một xã hội. Nếu con người quá
tôn sùng hàng hóa, tiền tệ và giành giật lợi ích vật chất bằng mọi giá thì xã hội
loài người sẽ mất dần tính nhân bản. “Sự sùng bái hàng hóa tiền tệ bắt nguồn từ
bản chất sâu xa của nền kinh tế đang ở giai đoạn công nghiệp hóa. Thực chất
đó không phải là nền kinh tế “sáng tạo” ra của cải vật chất, mà chỉ là cải biến
những thứ cướp đoạt được từ giới tự nhiên, nó chưa giải phóng con người mà
trái lại còn trói buộc thêm con người bằng xiềng xích công nghiệp” [29, tr.189].
Vì vậy, vấn đề làm thế nào để con người có cuộc sống hài hòa hơn,
thiết. Trong đó, việc thực hiện TNXH của các DN - một trong những yếu tố
của văn hóa kinh doanh, là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với sự phát
triển của bản thân các DN nói riêng và đối với sự phát triển bền vững của Việt
Nam nói chung.
Việc đảm bảo sự công bằng cho người lao động, công khai và minh
bạch trong các hoạt động kinh doanh, không tham ô, tham nhũng; không kiếm
16
lời bằng sự lừa dối khách hàng, bằng sự hủy hoại môi trường, hay bằng sự
bóc lột người lao động,... là những vấn đề của đạo đức kinh doanh mà các DN
muốn phát triển bền vững đều phải lưu ý tới, đặc biệt là vấn đề TNXH của
DN hiện nay.
Trên thế giới, vấn đề TNXH của DN cũng đang được chú trọng. TNXH
được hiểu là “sự cam kết của DN đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền
vững, thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống của người lao
động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách
có lợi cho cả DN cũng như phát triển chung của xã hội”. Những DN mong
muốn phát triển bền vững luôn phải tuân thù những chuẩn mực về BVMT,
bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng,
đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng... Ngày càng nhiều DN
chú trọng đến vấn đề TNXH. Hãng điện tử dân dụng Best Buy đã áp dụng
chương trình tái chế sản phẩm để BVMT. General Electric cũng chi 2 tỷ đôla
hàng năm để nghiên cứu các công nghệ mới BVMT. Evian, hãng nước
khoáng nổi tiếng của Pháp cũng đưa ra thị trường những chai nước thân thiện
BVMT. Google với trụ sở Goolepex cũng tạo ra môi trường làm việc thân
thiện và đối xử với nhân viên như vàng ngọc… [3, tr.29].
Vấn đề TNXH của DN hiện nay là một vấn đề mang tính toàn cầu. Bộ
ISO 26000 - Tiêu chuẩn về TNXH, là mục tiêu phấn đấu mới cho các DN
trong xu hướng nhân văn hóa các hoạt động kinh doanh.
Quá trình thực hiện TNXH của DN cũng là quá trình giải quyết các mâu
thuẫn, mâu thuẫn giữa lợi ích bộ phận và lợi ích hệ thống, mâu thuẫn giữa lợi
ích riêng và lợi ích chung, mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị xã
hội, mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài… Xã hội và DN sẽ
không thể phát triển bền vững khi không giải quyết được những mâu thuẫn đó.
Vì thế, thực hiện TNXH của DN là một yêu cầu tất yếu khách quan, hướng đến
mục tiêu phát triển bền vững lâu dài.
18
1.1.2. Một số quan điểm về vấn đề thực hiện trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp trong lịch sử
Để thực hiện đúng và tốt TNXH thì ngoài việc nhận thức đầy đủ và rõ
ràng, cách thức tiếp cận khi thực hiện TNXH của DN cũng có ý nghĩa rất
quan trọng. Trong lịch sử đã có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với việc
thực hiện TNXH của các DN… nổi trội là bốn quan điểm đã được PGS. TS
Nguyễn Mạnh Quân đề cập trong giáo trình Đạo đức kinh doanh và Văn hóa
công ty như sau:
Quan điểm cổ điển thịnh hành ở đầu thế kỉ XIX, nhưng đến nay vẫn
còn có những ảnh hưởng đáng kể. TNXH của DN theo quan điểm cổ điển
được hiểu như sau: Các DN chỉ nên tập trung vào việc thực hiện các mục tiêu
kinh tế chính thức, các nghĩa vụ khác nên để cho các tổ chức chuyên môn
thực hiện. Những người theo quan niệm này cho rằng, Chính phủ nên gánh
lấy trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ xã hội. Việc đòi hỏi các DN thực hiện
các nghĩa vụ xã hội khác chỉ dẫn đến tình trạng chồng chéo, lộn xộn và không
hiệu quả. Những người theo quan điểm cổ điển đặt niềm tin vào sự phân công
xã hội và chuyên môn hóa của cơ chế thị trường tự do với sự can thiệp của
Chính phủ ở chừng mực nhất định, và coi đó là cách tốt nhất để đạt được tính
hiệu quả về xã hội. Tuy nhiên, quan điểm này còn rất nhiều hạn chế. Nếu DN
chỉ tập trung vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, các chỉ tiêu về lợi nhuận