MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
1
Nội dung
A. Mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên
I.Một số khái niệm
II.Mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên – xã hội
2
2
2
1.Xã hội – bộ phận đặc thù của tự nhiên
2
2.Sự thống nhất biện chứng giữa con người, xã hội và tự nhiên
3
3.Sự tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên
3
3.1. Vai trò của yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội trong hệ thống
3
7
3.
Tài nguyên đất
7
4.
Các tài nguyên khác
8
Bảo vệ môi trường
8
1.
Thực trạng, nguyên nhân
8
2.
Một số giải pháp
10
yếu tố cơ bản của điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, một vấn đề đang
được quan tâm hàng đầu hiện nay trên thế giới; tuy nhiên bài tiểu luận tập trung
vào vấn đề bảo vệ môi trường ở Việt Nam, đặc biệt trong công cuộc Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay. Qua đó, hy vọng có thể thay đổi nhận thức
của mỗi cá nhân và toàn xã hội, giúp mọi người có cái nhìn đúng đắn về mối
quan hệ giữa tự nhiên, xã hội và con người; từ đó sẽ có những chuyển biến, cải
thiện trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam.
2
NỘI DUNG
A. Mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên
I. Một số khái niệm
Tự nhiên, theo nghĩa rộng, là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách
quan. Với nghĩa này thì con người và xã hội loài người là một bộ phận,
hơn nữa, là bộ phận đặc thù của tự nhiên.
Xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất, lấy mối quan hệ
của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền
tảng. “Xã hội không phải bao gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng
số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau”.
II. Mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên và xã hội
1. Xã hội – bộ phận đặc thù của tự nhiên
Với định nghĩa “tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách
quan” thì con người và xã hội loài người là một bộ phận của tự nhiên.
Xét về mặt tiến hoá, con người có nguồn gốc từ tự nhiên, là sản
phẩm cao nhất của quá trình tiến hoá của thế giới vật chất. Sự tồn tại của
bản tính tự nhiên trong con người là một tất yếu khách quan, bởi vì con
người có nguồn gốc phát sinh từ động vật. Để tồn tại và phát triển, con
của vật chất vận động. Thế giới vật chất luôn vận động, nhưng sự vận
động đó lại diễn ra một cách cụ thể trong trạng thái ổn định tương đối,
bởi vì đó là sự vận động có quy luật và tuân theo quy luật. Tất cả các quá
trình diễn ra trong tự nhiên, trong xã hội, trong con người đều phải chịu
sự chi phối của những quy luật phổ biến nhất định. Sự hoạt động của các
quy luật đó đã nối liền các yếu tố trong thế giới thành một chỉnh thể
thống nhất, vĩnh viễn vận động và phát triển không ngừng trong không
gian và thời gian.
3. Sự tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên
4
3.1. Vai trò của yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội trong hệ thống
tự nhiên – xã hội
Trong sự tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên, yếu tố tự nhiên
có ảnh hưởng to lớn đến sự tồn tại và phát triển của xã hội, còn yếu tố xã
hội ngày càng có vai trò quan trọng đối với việc biến đổi và phát triển
của tự nhiên.
Tự nhiên là điều kiện đầu tiên, thường xuyên và tất yếu của quá
trình sản xuất ra của cải vật chất. Tự nhiên là môi trường sống của con
người và xã hội loài người, vai trò này không có gì có thể thay thế được
và cũng không bao giờ bị mất đi, cho dù xã hội phát triển đến trình độ
nào đi chăng nữa. Chỉ có tự nhiên mới cung cấp được những thứ cần
thiết nhất cho sự sống của con người như nước, ánh sáng, không khí,…
và những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội như
các nguyên vật liệu, tài nguyên khoáng sản,… Ngày nay, với khoa học,
kỹ thuật và công nghệ hiện đại, con người có thể sản xuất, chế tạo ra
những vật liệu mới vốn không có sẵn trong tự nhiên, song, suy đến cùng,
những thành phần tạo nên chúng đều xuất phát từ tự nhiên. Vì vậy, tự
trong hệ thống “tự nhiên - xã hội” dưới chủ nghĩa tư bản. Trong giai
đoạn này, con người không chỉ coi tự nhiên như môi trường sống, như
kho tài nguyên, mà chủ yếu còn như đối tượng để khai thác, vơ vét nhằm
thu lợi nhuận tối đa. Mối quan hệ đó đã dẫn đến những hậu quả khôn
lường. Khủng hoảng sinh thái đang đe doạ nhân loại, đe doạ sự sống của
cả hành tinh.
3.3. Sự tác động lẫn nhau giữa xã hội và tự nhiên phụ thuộc
vào nhận thức và vận dụng quy luật tự nhiên, quy luật xã hội trong
hoạt động thực tiễn
Bằng hoạt động thực tiễn, con người và xã hội ngày càng giữ vai
trò quan trọng đối với sự biến đổi và phát triển của tự nhiên. Đứng trên
bình diện xã hội, những kết quả mà con người đạt được trong lĩnh vực
6
sản xuât vật chất đều phải nhằm phục vụ cho mục đích phát triển không
ngừng của xã hội. Trong các chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất, đặc biệt trong suốt mấy thế kỷ thống trị của chủ nghĩa tư bản, sự
khai thác tự nhiên, vơ vét của cải nhằm thu lợi tối đa đã tàn phá tự nhiên
hết sức nặng nề. Do đó, xét trên bình diện tổng thể của hệ thống tự
nhiên–xã hội, thì hoạt động của con người là hoạt động tự phát. Vì rằng,
những hoạt động đó chưa tính toán đầy đủ những quy luật tồn tại và phát
triển của tự nhiên mà con người cần tuân thủ trong hoạt động thực tiễn,
trước hết là hoạt động sản xuất xã hội. Cuộc khủng hoảng sinh thái đang
diễn ra ở một số nơi trên hành tinh là hậu quả của những hành động thiếu
suy nghĩ và “bóc lột” quá đáng tự nhiên của con người.
B. Vấn đề bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
I. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
0
43,0
1983
7,2
6,8
0,4
22,0
2005
12,7
10,2
2,5
38,0
- Biện pháp bảo vệ tài nguyên rừng:
+ Đối với rừng phòng hộ: có kế hoạch, biện pháp bảo vệ, nuôi dưỡng
rừng hiện có, trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc.
+ Đối với rừng đặc dụng: bảo vệ cảnh quan, đa dạng về sinh vật của các
vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên.
…
8
4. Các tài nguyên khác
- Tài nguyên nước:
Tình trạng ngập lụt vào mùa mưa, thiếu nước vào mùa khô và ô
nhiễm môi trường nước là hai vấn đề quan trọng nhất trong việc sử dụng
tài nguyên nước hiện nay. Do vậy, cần sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài
nguyên nước, đảm bảo cân bằng nước và phòng chống ô nhiễm nước.
- Tài nguyên khoáng sản:
Quản lí chặt chẽ việc khai thác khoáng sản. Tránh lãng phí tài nguyên
và làm ô nhiễm môi trường.
II. Bảo vệ môi trường
1. Thực trạng, nguyên nhân
Thực trạng:
Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2008, cả
nước có khoảng trên 200 khu công nghiệp. Theo báo cáo giám sát của
Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các khu
công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương
rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc.
Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lí nước
thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu
công nghiệp đang xây dựng trạm xử lí nước thải.
Cùng với đó, các làng nghề thủ công truyền thống cũng có sự phục
hồi, phát triển mạnh mẽ và hậu quả về môi trường do các hoạt động sản
xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng. Tình trạng ô nhiễm
không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than,
lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 thải ra trong quá trình sản xuất khá cao.
trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường. Công tác thanh tra, kiểm tra
về môi trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất
dường như vẫn mang tính hình thức.
d.
Công tác tuyên truyền, giáo dục bảo vệ môi trường trong xã hội
còn hạn chế, dẫn đến chưa phát huy được ý thức tự giác, trách nhiệm của
các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường.
e.
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên
trách công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế; phương tiện kỹ thuật phục
vụ công tác kiểm tra chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn.
2. Một số giải pháp
Để ngăn chặn, khắc phục và xử lí có hiệu quả những hành vi gây ô
nhiễm môi trường, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau :
10
a. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường,
trong đó những chế tài xử phạt phải thực sự đủ mạnh để đủ sức răn đe
các đối tượng vi phạm. Cần xây dựng đồng bộ hệ thống quản lí môi
trường trong các nhà máy, các khu công nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc
tế, đồng thời tổ chức giám sát chặt chẽ nhằm hướng tới một môi trường
tốt đẹp và thân thiện hơn với con người.
b. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường;
phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, nhất là giữa lực lượng
Qua hơn 3 năm thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia,
các nội dung, nhiệm vụ được quy định trong Chiến lược đã được từng
bước thực hiện, cụ thể:
a.
Từng bước tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận
thức và hành động của người dân và cộng đồng xã hội về nhiệm vụ bảo
vệ môi trường. Thông qua hoạt động tích cực của Ban Công tác Mặt trận
và các tổ tự quản bảo vệ môi trường ở khu dân cư đã giúp định hướng
nhận thức và tạo sự quan tâm, chú ý của người dân.
b.
Thông qua các hoạt động tuyên truyền, vận động, giám sát của Mặt
trận các cấp đã phát huy quyền làm chủ, nâng cao tính tích cực, chủ
động của người dân trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như xây dựng các quy ước, hương
ước của cộng đồng dân cư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
c. Góp phần phát huy và tăng cường sự thống nhất hành động giữa Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, sự phối hợp ngày
càng hiệu quả giữa ngành chuyên môn với Mặt trận và các tổ chức thành
viên trong việc huy động toàn xã hội tham gia thực hiện Chiến lược bảo
vệ môi trường quốc gia.
12
KẾT LUẬN
5. Lan Hương, Được vay vốn ưu đãi để bảo vệ môi trường,
http://vepf.vn/TinTuc-ChiTiet&action=viewNews&id=15
6. Lê Bá Trình, Một số kết quả thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường
quốc gia của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
http://www.mattran.org.vn/home/thongtinCTMT/so48/dangchinhquyen.htm#1
7. TS.Trần Đắc Hiến, Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay - Thực trạng
và một số giải pháp khắc phục,
http://www.khucongnghiep.com.vn/news_detail.asp?ID=163&CID=1&IDN=2170&lang=vn
8. Thái Công Tung, Môi trường và các vấn nạn hiện nay ở Việt Nam,
http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/9#
9. Thu Cúc, Giáo dục - ‘chìa khoá’ đối phó với biến đổi khí hậu,
http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Giao-duc--chia-khoa-doi-pho-voibien-doi-khi-hau/201011/45896.vgp
14