BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA: LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
=====****=====
TIỂU LUẬN
Môn: Nguyên lí Mác Lê-nin 1
Quan hệ giữa xã hội với tự nhiên và vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay ở Việt Nam
HỌ VÀ TÊN :HOÀNG THỊ LOAN
Lớp: Anh 8 Khối :2 - TC Khóa:48
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TRẦN HUY QUANG
Hà Nội, Ngày 20 tháng 11 năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA: LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
=====****=====
TIỂU LUẬN
Môn:Nguyên lí Mác Lê-nin 1
Quan hệ giữa xã hội với tự nhiên và vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay ở Việt Nam
HỌ VÀ TÊN :HOÀNG THỊ LOAN
Lớp: Anh 8 Khối :2 - TC Khóa:48
Hà Nội, Ngày 20 tháng 11 năm 2009
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………………………. 1
I.MỐI QUAN HỆ GIỮA XÃ HỘI VỚI TỰ NHIÊN
1.Mối quan hệ giữa xã hội với tự nhiên…………………………………………… 2
II.VẤN ĐỀ BAỎ VỆ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
1.Hiện trạng môi trường đất hiện nay ở Việt Nam
1.1.Khái niệm môi trường đất…………………………………………………………4
nhiên .Tuy nhiên chúng ta cần phải biết rõ hiện trạng , nguyên nhân, mối quan hệ giữa
tự nhiên với xã hội để thấy được vai trò to lớn của tự nhiên và tìm cách bảo vệ môi
trường sống của chúng ta .
Thấy được sự quan trọng và tình trạng ngày càng nghiêm trọng của môi trường , em
đã thực hiện đề tài “Quan hệ giữa xã hội với tự nhiên và vấn đề bảo vệ môi trường
hiện nay ở Việt Nam” , qua đó em hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của tự nhiên đối với
cuộc sống của con người và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với vấn đề bảo vệ môi
trường đặc biệt là cải thiện môi trường ở Việt Nam .
1
I. MỐI QUAN HỆ GIỮA XÃ HỘI VỚI TỰ NHIÊN
1.Mối quan hệ giữa xã hội với tự nhiên
Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là không thể tách rời.Con người luôn sống
phụ thuộc vào thiên nhiên sử dụng những nguyên liệu từ thiên nhiên để phục vụ cho
cuộc sống của mình.Trong quá trình đó con người đã tác động vào thiên nhiên cải tạo
môi trường để cuộc sống của con người ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên con người cũng
tác động bất lợi cho tự nhiên . Bởi sự khăng khít của mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên cho nên những gì chúng ta làm đối với thiên nhiên đều tác động trở lại chính
mình khiến cho thiên tai xảy ra càng nhiều và nguy hiểm.
Tự nhiên có trước, điều kiện cần và đủ, trong đó bao hàm những định luật về vật lý,
hoá học, sinh học, môi trường và định luật tiến hoá của Darwin, từ đó mới sinh ra con
người. Con người chế tạo công cụ tác động trở lại tự nhiên, đó là quá trình lao động.
Tiếp theo con người quan hệ với nhau, do đó chế tạo ra công cụ và phương tiện trao
đổi. Kết hợp 2 mối quan hệ đó hình thành nên xã hội (hệ thống môi trường xã hội).
Mối quan hệ giữa tự nhiên, con người và xã hội là những mối quan hệ đa phương 2
chiều và cân bằng với nhau.
Một nguyên tắc khác: con người là sản phẩm của tự nhiên. Nếu con người chống lại
những quy luật của tự nhiên sẽ bị tự nhiên đào thải và thiết lập 1 trật tự mới. Xã hội là
sản phẩm của con người, nếu xã hội chống lại hệ thống giá trị nhân bản của con người
thì xã hội cũng sẽ bị con người đào thải và xây dựng lại một trật tự xã hội mới
Xã hội ngày càng phát triển để đáp ứng được nhu cầu của con người vì vậy tự nhiên
của chúng cũng bị giảm khiến cho sự sinh trưởng, sinh sản bị giảm vì vậy làm cho số
lượng động vật , thực vật không những bị giảm mà con ảnh hưởng cho cuộc sống của
con người do nhiều loài động vật đã tàn phá nhà cửa, hoa màu và tính mạng của con
người .
Chúng ta có thể thấy rõ được mối quan hệ mật thiết giữa con người với tự nhiên .Vì
vậy nếu con người tác động tốt vào tự nhiên thì con người sẽ nhận được những điều
tốt còn nếu chúng ta tiếp tục làm ngơ những điều xấu mà mình làm thì tự nhiên sẽ tác
động trở lại vào con người khiến cuộc sống càng ngày càng tồi tệ.
3
II. VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
1.Thực trạng môi trường đất hiện nay ở Việt Nam
1.1.Khái niệm môi trường đất
Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường
đất bởi các tác nhân ô nhiễm
1.2.Thực trạng
Theo Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2005 :
- Ô nhiễm do sử dụng phân hóa học: sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong
canh tác nông nghiệp nên hiệu lực phân bón thấp, có trên 50% lượng đạm, 50% lượng
kali và xấp xỉ 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm môi trường
đất. Các loại phân vô cơ thuộc nhóm chua sinh lý như K2SO4, KCl, super photphat
còn tồn dư axit, đã làm chua đất, nghèo kệt các cation kiềm và xuất hiện nhiều độc tố
trong môi trường đất như ion Al3+, Fe3+, Mn2+ giảm hoạt tính sinh học của đất và
năng suất cây trồng.
- Ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật có đặc điểm rất độc đối với
mọi sinh vật; tồn dư lâu dài trong môi trường đất- nước; tác dụng gây độc không phân
biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất.
Theo các kết quả nghiên cứu, hiện nay, mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được
sử dụng ở Việt nam còn ít, trung bình từ 0,5-1,0 kg ai/ha/năm, tuy nhiên, ở nhiều nơi
đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất.
- Ô nhiễm chất thải vào môi trường đất do hoạt đọng công nghiệp: kết quả của một số
và xuất hiện nhiều độc tố đối với cây trồng như : Al3+, Mn2+, Fe3+; làm giảm
hoạt tính sinh học của đất. Bón nhiều phân đạm vào thời ký muôn cho rau quả,
đã làm tăng đáng kể hàm lượng NO3- trong sản phẩm.
• Tập quán sử dụng phân Bắc, phân chuồng tươi trong canh tác nông nghiệp còn
phổ biến. Chỉ tính riêng thành phố Hà Nội, hàng năm lượng phân Bắc thải ra
khoảng 550.000 tấn, trong đó 2/3 được dùng bón cho cây trồng gây ô nhiễm
môi trường đất và nông sản. Huyện Từ Liêm nhiều hộ nông dân đã phải dùng
phân Bắc tưới với liều lượng 7 – 12 tấn / hecta. Do vậy, 1 lít nước mương máng
khu trồng rau có tới 360 E.Coli, ở nước giếng công cộng là 20, còn trong đất
đến 2.105/100g đất.
Ở ĐBSCL, phân tươi được coi là nguồn thức ăn cho cá. Phân Bắc và phân chuồng
tươi đổ trực tiếp xuống ao hồ, mương lạch để nuôi cá.
2. Ô nhiễm đất do hóa chất BVTV :
Các loại hóa chất BVTV thường là những hóa chất độc, khả năng tồn lưu lâu trong
đất, tác động vào môi trường đất, sau đó đến sản phẩm nông nghiệp, đến động vật và
người, theo kiểu tích tụ, ăn sâu và bào mòn. Do việc sử dụng, bảo quản chưa đúng quy
định nên đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và nông sản gây nhiều hậu
quả nghiêm trọng.
3. Ô nhiễm đất do nước thải đô thị và khu công nghiệp, làng nghề thủ công :
Hiện nay nhiều nguồn nước thải ở các đô thị, khu công nghiệp và các làng nghề tái
chế kim loại, chứa các kim loại nặng độc hại như :Cd, As, Cr, Cu, Zn, Ni, Pb và Hg.
Một diện tích đáng kể đất nông nghiệp ven đô thị, khu công nghiệp và làng nghề đã bị
ô nhiễm kim loại nặng.
Như vậy đất ở Việt Nam nhìn chung đã bị thoái hóa trên ba mặt:
6
• Thoái hóa hóa học : Đất trở nên chua dần, hàm lượng hữu cơ và lân dễ tiêu
thấp, nghèo các ion kiềm như : Ca2+ và Mg2+
• Thoái hóa vật lý : tầng đất mỏng dần, mất cấu trúc hoặc cấu trúc kém, sức thấm
nước kém, đất chặt không thuận lợi cho bộ rễ những cây trồng ngắn ngày phát
triên.
Gòn đã bị ảnh hưởng.
2.2. Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Người dân sinh sống quanh khu vực ô nhiễm ngày càng mắc nhiều bệnh tình nghi là
do dùng nước bẩn trong mọi sinh hoạt.Nhiều đoạn sông được coi là đã “chết” vì nước
đen đặc, tỏa mùi cả một vùng.Cá tôm nhiều lần chết từng loạt tại những nơi nay gây
thiệt hại lớn cho các hộ nuôi trồng thủy sản.Theo một nghiên cứu về ảnh hưởng kinh
tế của vệ sinh môi trường giai đoạn 2006-2007 được thực hiện do Ngân hàng Thế giới
phối hợp với Viện Khoa học-Kĩ thuật và Môi trường thuộc Đại học Xây Dựng Hà
Nội, thì mỗi năm Việt Nam thiệt hại khoảng 800 triệu đôla vì điều kiện vệ sinh môi
trường yếu kém.
2.3.Biện pháp cải thiện môi trường nước
• Không được xả rác trực tiếp xuống các ao hồ sông suối
• Có các biện pháp xử lý các nhà máy xí nghiệp đã làm ô nhiễm môi trường.
• Tuyên truyền cho mọi người dân về ý thức bảo vệ môi trường.Đặc biệt là các
hộ dân sống gần các ao, hồ, sông, suối không được vứt rác xuống mà cần vứt
vào đúng nơi qui định .
• Thường xuyên nạo vét kênh mương để làm sạch lòng.
• Bắt buộc các nhà máy ,xí nghiệp phải có hệ thống lọc chất thải trước khi thải ra
môi trường
3.Thực trạng môi trường không khí hiện nay ở Việt Nam
3.1.Thực trạng
8
Các chuyên viên cho biết là benzene và đi-ốc-xít lưu huỳnh trong không khí ở Hà Nội
và Saigon đã lên tới mức nguy hiểm. Ngoài ra thì mức độ của một trong những chất
gây ô nhiễm nguy hiểm nhất, là thứ bụi vi ti mang tên là PM-10, tuy chỉ mới lên tới
mức trung bình so với các thành phố đang phát triển ở Á Châu; nhưng có thể sẽ tệ hại
hơn nhiều nếu Việt Nam quyết định xây các nhà máy điện chạy bằng than đá để thoả
mãn nhu cầu điện đang gia tăng theo tỉ lệ hơn 10% mỗi năm.
3.2.Nguyên nhân gây ô nhiễm không khí
10
SÁCH THAM KHẢO
Trang web:
• http://www.scribd.com/doc/12732832/Quan-Ly-Moi-Truong
• http://www.vietbao.com
• http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/update-on-toxic-waste-issue-in-
Vietnam-NTran-08252008131028.html
Sách :
• Sinh thái học môi trường, Trần Kiên. NXB GD.1999
• Ô nhiễm môi trường không khí khu đô thị và công nghiệp. Phạm Ngọc Đăng.
NXB KHKT.Hà Nội 1992
• Bảo vệ nguồn nước . Trần Hữu Uyển. NXB Nông nghiệp. Hà Nội 1995
• Môi trường (tập 1) Lê Huy Bá (chủ biên).NXB KHKT 1997
• Sinh thái môi trường . Lê Huy Bá ,Lâm Minh Triết . NXB GD 1999
11