TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: Quan hệ giữa xã hội với tự nhiên và vấn đề bảo vệ môi
trường ở Việt Nam hiện nay
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã SV
1
MỤC LỤC
Lời nói đầu...................................................................................................................3
I, Lý Thuyết.................................................................................................................4
1, Mối quan hệ giữa xã hội với tự nhiên.....................................................................4
1.1, Khái niệm..........................................................................................................4
1.2, Xã hội- bộ phận đặc thù của tự nhiên...............................................................5
1.3, Tự nhiên, nền tảng của Xã hội.........................................................................5
1.4, Tác động qua lại của xã hội với tự nhiên.........................................................5
2, Môi trường và các vấn đề liên quan......................................................................10
2.1 Môi trường là gì..............................................................................................10
2.2 Ô nhiễm môi trường.......................................................................................10
2.3 Khái quát về môi trường và các nguồn tài nguyên của Việt Nam..................12
II, Áp dụng thực tiễn................................................................................................13
1, Thực trạng môi trường thế giới và Việt Nam......................................................13
1.1,Thực trạng môi trường toàn cầu hiện nay....................................................13
1.2, Thực trạng môi trường Việt Nam...............................................................15
2, Hành động của Việt Nam....................................................................................15
I, Lý Thuyết
1, Mối quan hệ giữa xã hội với tự nhiên
1.1, Khái niệm
1.1.1, Tự nhiên
* Tự nhiên theo nghĩa rộng:
Là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan. Với nghĩa này thì con người, xã hội loài
người là một bộ phận, hơn nữa là một bộ phận đặc thù của thế giới tự nhiên.
Xét về mặt tiến hoá, con người có nguồn gốc từ tự nhiên, là con đẻ của tự nhiên, là sản
phẩm và là sản phẩm cao nhất của quá trình tiến hoá của thế giới vật chất. Con người với
bộ óc hoàn chỉnh là sản phẩm của thế giới vật chất.
Sự ra đời của con người không chỉ là kết quả của các qui luật sinh học mà quan trọng hơn
cả là kết quả của quá trình lao động. Đó là quá trình con người sử dụng công cụ tác động
vào thế giới tự nhiên, khai thác và cải biến giới tự nhiên tạo ra những sản phẩm vật chất
để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình.Chính quá trình đó con người làm biến
đổi tự nhiên và làm biến đổi chính bản thân mình.Chính quá trình lao động nhu cầu trao
đổi, hợp tác lao động đã làm xuất hiện ngôn ngữ. Lao động và ngôn ngữ là hai sức kích
thích chủ yếu của sự chuyển biến bộ não của loài vật thành bộ não của loài người, từ tâm
lý động vật sang ý thức con người.
Con người được hình thành từ lao động và ngôn ngữ, quá trình đó gắn liền với quá trình
hình thành quan hệ giữa con người với con người. Quá trình chuyển biến từ động vật
thành con người cũng là quá trình chuyển biến từ cộng đồng mang tính bày đàn, hoạt
động theo bản năng thành một cộng đồng mới khác hẳn về chất. Đây cũng là quá trình
chuyển biến từ vận động sinh học thành vận động xã hội. Ta gọi đó là xã hội.
Như vậy, con người là hạt nhân của sự thống nhất biện chứng giữa tự nhiên và xã hội.
* Tự nhiên theo nghĩa hẹp
Gồm toàn bộ thế giới vật chất không kể lĩnh vực xã hội (khi nghiên cứu quan hệ tự nhiên
-xã hội ở đây là tự nhiên theo nghĩa hẹp đặc biệt là môi trường tự nhiên.)
Môi trường tự nhiên gồm:
+ Điều kiện địa lý tự nhiên: đất đai, rừng núi, sông ngòi, khí hậu.
nước, ánh sáng, không khí, thức ăn...cho đến những điều kiện cần thiết đối với sự tồn
tại và phát triển của xã hội như các nguyên vật liệu, tài nguyên khoáng sản...tất cả
những cái đó đều do tự nhiên cung cấp. Tự nhiên là điều kiện đầu tiên, thường xuyên
và tất yếu của quá trình sản xuất ra của cải vật chất, là một trong những yếu tố cơ bản
của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Ngày nay, với khoa học kỹ thuật và
công nghệ hiện đại, con người đã có thể sản xuất, chế tạo ra những vật liệu mới vốn
không có sẵn trong tự nhiên, song suy đến cùng, những thành phần tạo nên chúng đều
xuất phát từ tự nhiên. Vì vậy, Mác kết luận: công nhân sẽ không thể sáng tạo ra cái gì
hết nếu như không có giới tự nhiên, thế giới hữu hình bên ngoài.
1.4, Tác động qua lại của xã hội với tự nhiên
Lần theo quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác – Lênin, chúng ta có thể
nhận thấy những tư tưởng về sự gắn kết đặc biệt giữa con người và tự nhiên được đề
cập từ rất sớm. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Bộ tư bản và trong nhiều thư từ
cũng như những nhận xét của Mác đã trực tiếp hay gián tiếp phân tích sâu thêm vấn
đề này. Đặc biệt ngay trong Bản thảo kinh tế triết học 1844 Mác đã cho rằng giới
5
tự nhiên là thân thể vô cơ của con người và chính nó là giới tự nhiên trong chừng mực
bản thân nó không phải là con người. Ông coi xã hội là giai đoạn cao nhất trong sự
phát triển thống nhất giữa lịch sự tự nhiên và lịch sử xã hội. Mọi lịch sử đều xuất phát
từ cơ sở tự nhiên và từ những thay đổi của chúng do hoạt động của con người tạo ra
trong quá trình lịch sử. Không thể có lịch sử bên ngoài tự nhiên. Chính vì lẽ đó, có thể
xem xét lịch sử dưới hai mặt, đó là lịch sử tự nhiên và lịch sử nhân loại. Hai mặt đó
không tách rời nhau, độc lập với nhau mà có sự qui định lẫn nhau, quan hệ chặt chẽ
với nhau. Chừng nào con người còn tồn tại thì chừng ấy lịch sử của họ và lịch sử tự
nhiên còn tác động không ngừng qua lại lẫn nhau.
Chính trong sự tác động liên tục ấy, con người và tự nhiên thể hiện vai trò khác nhau
và bổ sung cho nhau.
Trước hết, nói về tự nhiên, trong mối quan hệ với con nguời, tự nhiên vừa là nhà ở,
người đã tiến đến chỗ biến đổi cải tạo nó một cách chủ động, có phương pháp, tuân
theo những qui luật vốn có của nó. Từ chỗ bị các lực lượng tự nhiên chi phối, con
người dần dần thống trị lại tự nhiên, từ chỗ thuần túy bóc lột tự nhiên, con
người biết “từ bỏ” phương thức kinh tế “tước đoạt” theo kiểu loài vật, biết cách làm
giàu cho tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ cho những mục đích lớn hơn của mình.
Thắng lợi đó của con người phải được coi là thắng lợi hết sức vĩ đại, thắng lợi của
nền văn minh nhân loại. Đó cũng là chỗ khác nhau, chỗ phân biệt giữa con người và
động vật.
Quan hệ giữa con người và tự nhiên cũng được hình thành thông qua lao động sản
xuất, thông qua hoạt động cải biến tự nhiên mà con người tạo cho mình những điều
kiện sinh hoạt mới. Rõ ràng bản thân con người đối diện với thực thể tự nhiên với tư
cách là một lực lượng tự nhiên. Tức là, ở đây, con người chiếm hữu thực thể tự nhiên
dưới một hình thức có ích cho đời sống của bản thân mình. Để làm điều này, con
người vận dụng những sức tự nhiên thuộc về thân thể họ: đầu, tay, chân...tác động
vào tự nhiên. Lúc này con người đã phát triển những tiềm lực đang ngái ngủ ở trong
bản tính và bắt sự hoạt động của những tiềm lực ấy phải phục tùng quyền lực của
mình. Điều đó cho thấy, chính lao động đã nâng cao người lên cao hơn giới động vật,
nó cũng nâng con người lên cao hơn giới tự nhiên; đồng thời liên kết chặt hơn với tự
nhiên.
Sống trong cộng đồng xã hội, con người tất yếu có quan hệ với nhau, trao đổi hoạt
động với nhau nhất là trong sản xuất. Con người và xã hội không thể tách rời tự nhiên
mà chỉ có thể tồn tại và phát triển dựa vào tự nhiên và làm biến đổi tự nhiên. Không
có tự nhiên và xã hội thì con người không tiến hành sản xuất được và đến lượt nó
chính sản xuất lại là điều kiện quyết định để con nguời biến đổi tự nhiên và xã hội. Và
trong sản xuất con người và tự nhiên biểu hiện sự gắn bó khăng khít với nhau, sự tác
động không ngừng với nhau. Điều này lí giải hệ thống con người – tự nhiên là một hệ
thống động học thống nhất cần phải được đảm bảo ở trạng thái cân bằng. Đây là
hệ thống hoạt động theo nguyên tắc liên hệ ngược chứ không phải chỉ có liên hệ một
chiều thuận. Nghĩa là, không phải chỉ có con người tác động, cải biến tự nhiên mà tự
nhiên cũng tác động ngược trở lại một cách mạnh mẽ đến con người. Đáng chú ý là
Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên được thực hiện thông qua lực lượng
sản xuất, hay lực lượng sản xuất là biểu hiện sự chinh phục tự nhiên của con người.
Lực lượng sản xuất luôn vận động, biến đổi, và trong bản thân nó đã từng diễn ra
những cuộc cách mạng to lớn, quyết định các bước chuyển vĩ đại về chất của xã hội
loài người từ mông muội, dã man, sang văn minh, với các nền văn minh kế tiếp nhau:
nông nghiệp, công nghiệp và trí tuệ. C.Mác nhận định sự phát triển đó là sự kế tiếp
nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, mà mỗi hình thái là một bậc cao hơn trong sự
phát triển của xã hội. Mỗi nền văn minh, mỗi một hình thái kinh tế - xã hội đều được
đặc trưng bởi một trình độ phát triển của công cụ sản xuất nhất định; chẳng hạn, nền
văn minh nông nghiệp được đặc trưng bởi công cụ sản xuất bằng kim loại thủ công,
nền văn minh công nghiệp - công cụ sản xuất bằng máy móc - cơ khí, nền văn minh trí
tuệ sẽ là công nghệ trí tuệ. Điều đó nói lên rằng, sự phát triển của lực lượng sản xuất,
trước hết là công cụ sản xuất là nhân tố năng động và cốt lõi quyết định trình độ phát
triển của xã hội, nó quy định nội dung của sự phát triển của phương thức sản xuất.
•
Tuy nhiên, xã hội đối xử với tự nhiên ra sao là tùy thuộc vào bản chất chế độ xã
hội, vào quan hệ sản xuất. C.Mac viết: "những quan hệ nhất định đó với tự nhiên, là
do hình thức của xã hội quyết định ", nghĩa là tính chất của mối quan hệ lẫn nhau giữa
xã hội và tự nhiên trước hết phụ thuộc vào quan hệ sản xuất, vào chế độ xã hội, vào
tính chất của những điều kiện chính trị và kinh tế - xã hội mà trong đó con người sống
và hoạt động. Muốn điều khiển được những lực lượng tự nhiên cần phải điều khiển
được các lực lượng xã hội. Do vậy, để loại trừ tận gốc nguyên nhân phá hoại tự nhiên
và gây ô nhiễm môi trường thì phải loại bỏ chế độ người bóc lột người dựa trên cơ sở
sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, phải "hoàn toàn đảo lộn toàn bộ phương thức sản
xuất đã có … và cả chế độ hiện tại … nữa" (tức chế độ tư bản chủ nghĩa) như Ph.
Ăngghen đã nói. Chủ nghĩa tư bản trong quá trình phát triển lâu dài, bằng sự kết hợp
giữa sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa với quá trình công nghiệp hóa, đã tập trung vơ
8
ý thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Đó là cách giải quyết đúng đắn cho
các vấn đề sinh thái toàn cầu hiện nay. Chúng ta có nguồn gốc từ tự nhiên, và tất cả sự
thống trị của chúng ta đối với tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh
khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được
những quy luật đó một cách chính xác". Như vậy, để điều khiển được tư nhiên, trước
hết, con người cần phải nhận thức được rằng mình là một bộ phận không thể tách rời
của tự nhiên, hơn thế nữa, còn là con đẻ của tự nhiên. Vì vậy, con người cần phải nắm
vững những quy luật của tự nhiên và quan trọng hơn, phải biết vận dụng những quy
luật đó một cách chính xác vào trong hoạt động thực tiễn của mình.
(Nguồn: voer.edu.vn)
9
2, Môi trường và các vấn đề liên quan
2.1, Môi trường là gì
Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người,
ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như:
không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế.
Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn
cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này
hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng.
2.2, Ô nhiễm môi trường
2.2.1, Khái niệm
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời các
tính chất Vật lý,hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức
khỏe con người và các sinh vật khác. Ô nhiễm môi trường chủ yếu do hoạt động
của con người gây ra. Ngoài ra, ô nhiễm còn do một số hoạt động của tự nhiên khác
có tác động tới môi trường.
2.2.2 Các dạng ô nhiễm chính
a, Ô nhiễm môi trường đất
sông gây ô nhiễm trầm trọng,ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, sinh vật trong
khu vực. Các loại chất độc hại đó lại bị đưa ra biển xa hơn nữa là nguyên nhân xảy
ra hiện tượng "thủy triều đỏ", gây ô nhiễm nặng nề và làm chết ngạt các sinh vật
sống ở môi trường nước.
c, Ô nhiễm môi trường không khí
Ô nhiễm môi trường không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan
trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây mùi khó
chịu, giảm thị lực khi nhìn xa do bụi.
Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ không
phải riêng của một quốc gia nào. Môi trường khí quyển đang có nhiều biến đổi rõ
rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật. Ô nhiễm khí đến từ con
người lẫn tự nhiên. Hàng năm con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá,
dầu mỏ, khí đốt. Đồng thời cũng thải vào môi trường một khối lượng lớn các chất
thải khác nhau như: chất thải sinh hoạt, chất thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm
cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng.
Ô nhiễm từ xe gắn máy cũng là một loại ô nhiễm khí đáng lo ngại.
Ô nhiễm môi trường khí quyển tạo nên sự ngột ngạt và "sương mù", gây nhiều bệnh
cho con người. Nó còn tạo ra các cơn mưa axítlàm huỷ diệt các khu rừng và các
cánh đồng. Điều đáng lo ngại nhất là con người thải vào không khí các loại khí độc
như: CO , đã gâyhiệu ứng nhà kính. Theo nghiên cứu thì chất khí quan trọng gây
hiệu ứng nhà kính là CO , nó đóng góp 50% vào việc gây hiệu ứng nhà kính, CH là
13%,, nitơ 5%, CFC là 22%, hơi nước ở tầng bình lưu là 3%...
Nếu không ngăn chặn được hiện tượng hiệu ứng nhà kính thì trong vòng 30 năm tới
mặt nước biển sẽ dâng lên từ 1,5 – 3,5 m (Stepplan Keckes). Có nhiều khả năng
lượng CO sẽ tăng gấp đôi vào nửa đầu thế kỷ sau. Điều này sẽ thúc đẩy quá trình
nóng lên củaTrái Đất diễn ra nhanh chóng. Nhiệt độ trung bình của Trái Đất sẽ tăng
khoảng 3,60 °C (G.I.Plass), và mỗi thập kỷ sẽ tăng 0,30 °C. Theo các tài liệu khí
2
2
2.3, Khái quát về môi trường và các nguồn tài nguyên của Việt Nam
2.3.1, Tài nguyên đất Việt Nam
Theo Lê Văn Khoa, đất bằng ở Việt Nam có khoảng >7 triệu ha, đất dốc >25 triệu
ha, >50% diện tích đất đồng bằng và >70% diện tích đất đồi núi là đất có vấn đề và đất
xấu và có độ phì nhiêu thấp
+ Đất bạc màu: 3 triệu ha
+ Đất trơ sỏi đá: 5,76 triệu ha
+ Đất mặn: 0.91 triệu ha
+ Đất dốc > 25 độ là gần 12,4 triệu ha
2.3.2, Tài nguyên nước Việt Nam
Tài nguyên nước ở Việt Nam được đánh giá là rất đa dạng và phong phú, bao gồm
cả nguồn nước mặt và nước ngầm ở các thủy vực tự nhiên và nhân tạo như sông, suối, hồ
tự nhiên, hồ nhân tạo, giếng khơi, hồ đập, ao, đầm phá và các túi nước ngầm. Tuy nhiên,
Trữ lượng dồi dào nhưng phân bố không đều, Nhiều vùng bị thiếu nước sạch để sinh hoạt
do ô nhiễm, lũ lụt, sạt lở đất, hạn hán và các tác nhân khác.
2.3.3, Tài nguyên khoáng sản Việt Nam
Việt Nam có vị trí địa chất, địa lý độc đáo, là nơi giao cắt của hai vành đai sinh
khoáng lớn Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, là nước nhiệt đới gió mùa phát triển
mạnh các quá trình phong hoá thuận lợi cho sự hình thành khoáng sản. Qua 65 năm
nghiên cứu điều tra cơ bản và tìm kiếm khoáng sản của các nhà địa chất Việt Nam cùng
với các kết qủa nghiên cứu của các nhà địa chất Pháp từ trước cách mạng tháng 8 đến nay
chúng ta đã phát hiện trên đất nước ta có hàng nghìn điểm mỏ và tụ khoáng của hơn 60
12
loại khoáng sản khác nhau từ các khoáng sản năng lượng, kim loại đến khoáng chất công
nghiệp và vật liệu xây dựng: dầu khí, than khoáng, địa nhiệt, urani, apatit,...
2.3.4, Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học
a) Tài nguyên rừng
57
29
400
62
-
Cá
Nước
ngọt
550
90
-
Nước
mặn
2000
II, Áp dụng thực tế
1, Thực trạng môi trường thế giới và Việt Nam
1.1,Thực trạng môi trường toàn cầu hiện nay
Trên hành tinh Xanh của chúng ta, ở đâu ta cũng dễ dàng nhận thấy dấu hiệu của sự ô nhiễm
môi trường: từ những biến đổi của khí hậu khiến thời tiết trở nên khắc nghiệt bất
thường, những cơn mưa axit phá hủy các công trình kiến trúc có giá trị, gây tổn
thương hệ sinh thái, đến việc làm thủng tầng ôzôn khiến tăng cường bức xạ tia cực tím
gây nguy hại lớn đến sức khỏe con người,...
Chúng ta đang phải đối mặt với 3 vấn đề phổ biến đó là sự nóng lên của Trái Đất, sự ô
nhiễm biển và đại dương cùng với sự hoang mạc hóa.
Nhiệt độ trung bình của Trái Đất hiện nay nóng hơn gần 40 độ C so với nhiệt độ trong
kỷ băng hà gần nhất, khoảng 13. 000 năm trước. Tuy nhiên trong vòng 100 năm qua,
bỏ hoang vì quá cằn trong tiến trình hoang mạc hóa.
Đa dạng sinh thái bị suy giảm, đất đai trở nên bạc màu không thể canh tác là hai ảnh
hưởng chủ yếu của quá trình hoang mạc hóa. Tình trạng này đang đe dọa cuộc sống
14
của gần 1 tỉ người trên Trái Đất. Châu Phi có thể chỉ nuôi được 25% dân số vào năm
2025 nếu tốc độ hoang mạc hóa ở lục địa đen tiếp tục như hiện nay.
Những dấu hiệu cảnh báo về hiện tượng ô nhiễm môi trường toàn cầu xuất hiện ngày
càng nhiều ở mọi nơi trên toàn thế giới. Chúng ta đều hiểu rằng, một khi ô nhiễm môi
trường xảy ra, chính loài người chúng ta cùng những sinh vật vô tội khác trên Trái Đất
sẽ là đối tượng chịu ảnh hưởng đầu tiên - những ảnh hưởng tiêu cực tác động đến sự
sống hôm nay và mai sau.
(theo moitruong.com)
1.2, Thực trạng môi trường Việt Nam
Theo đánh giá mới đây của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, với 59 điểm trong
bảng xếp hạng chỉ số hiệu quả hoạt động môi trường, Việt Nam đứng ở vị trí
85/163 các nước được xếp hạng. Các nước khác trong khu vực như Philippines
đạt 66 điểm, Thái Lan 62 điểm, Lào 60 điểm, Trung Quốc 49 điểm, Indonesia 45
điểm,... Còn theo kết quả nghiên cứu khác vừa qua tại Diễn đàn Kinh tế thế giới
Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp và ảnh
hưởng nhiều nhất đến sức khỏe.
Mới đây, hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và Columbia
của Mỹ thực hiện báo cáo thường niên khảo sát ở 132 quốc gia. Kết quả nghiên
cứu cho thấy: Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ
123/132 quốc gia khảo sát; về ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe đứng vị trí
77; về chất lượng nước Việt Nam được xếp hạng 80. Tính theo chỉ số chung EPI,
Việt Nam xếp thứ 79. Đó là những đánh giá chung, còn nếu xem xét cụ thể trên
từng khía cạnh thì sẽ càng thấy rõ hơn bức tranh chung của môi trường Việt Nam
-Thứ hai: Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gắn nhiệm vụ bảo vệ môi trường với phát
triển kinh tế-xã hội. Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Khắc phục
suy thoái, khôi phục và nâng cao chất lượng môi trường; Thực hiện tốt chương trình
trồng rừng, ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng, tăng diện tích các khu bảo
tồn thiên nhiên; Khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm môi trường và cân
bằng sinh thái; Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; Thực hiện
sản xuất và tiêu dùng bền vững; từng bước phát triển “năng lượng sạch”, “sản xuất sạch”,
“tiêu dùng sạch”; Tăng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động và tranh thủ sự
giúp đỡ của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường, ứng phó
với biến đổi khí hậu; Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
-Thứ ba: Coi trọng yếu tố môi trường trong tái cơ cấu kinh tế, tiếp cận các xu thế tăng
trưởng bền vững và hài hòa trong phát triển ngành, vùng phù hợp với khả năng chịu tải
môi trường, sinh thái cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên và trình độ phát triển. Đã đến lúc
“nói không” với tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá; Tăng trưởng kinh tế phải đồng thời với
bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo vệ môi trường, ứng phó với biến
đổi khí hậu cũng phải thay đổi theo hướng có lợi cho tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm, hỗ trợ để đất nước phát triển nhanh hơn, bền
vững hơn.
-Thứ tư: Dự báo, cảnh báo kịp thời, chính xác các hiện tượng khí tượng thủy văn, chung
sức và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; Tập trung triển khai thực hiện Chiến lược
phát triển ngành khí tượng thủy văn đến năm 2020 và hai đề án: Hiện đại hóa công nghệ
dự báo khí tượng thủy văn; Hiện đại hóa ngành khí tượng thủy văn; Tiếp tục phối hợp với
các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cộng đồng quốc tế trong việc tham gia ứng phó
với biến đổi khí hậu toàn cầu; lồng ghép các yếu tố biến đổi khí hậu với Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011-2020) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
(2011-2015), xác định các giải pháp chiến lược và chính sách thực thi, bố trí các nguồn
lực cần thiết để tổ chức và triển khai thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng
phó với biến đổi khí hậu.
-Thứ năm: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai; Quy hoạch sử dụng đất cả nước
đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 - 2015. Xác lập cơ chế cung - cầu,
2.2 Đánh giá cá nhân
Hiện tại, đối với tôi, vấn đề về môi trường thì hầu như ai cũng quan tâm và nhận
thức được về sự ô nhiễm đáng báo động đang xảy ra trên toàn bộ thế giới cũng như
trên Việt Nam và hậu quả thì chúng ta cũng đang dần phải gánh chịu như là thảm họa
Farmosa đã làm cá chết hàng loạt dọc theo bờ biển miền trung, hay thiên tai lũ lụt
xảy ra thường xuyên hơn và gây hậu quả nặng nề về cả người và của, hay gần đây thì
các báo cáo đã cho thấy nồng độ hơi thủy ngân trong không khí vượt mức cho phép ở
một số nơi trên thành phố Hà Nội đã gây hoang mang cho người dân. Không những
thế, nguồn nước ô nhiễm và thực phẩm bẩn đã gây ra hàng loạt cái chết thương tâm
vì ung thư, vi khuẩn.( Việt Nam thuộc top 2 thế giới vì tỉ lệ mắc ung thư và Theo
thống kê của Dự án phòng chống ung thư Quốc gia, mỗi năm ở Việt Nam có khoảng
70.000 người chết và hơn 200.000 nghìn người mắc mới).
Hậu quả thì ai cũng biết, nguyên nhân ai cũng rõ, giải pháp đã được đưa ra nhưng
dường như việc thực hiện còn chưa hiệu quả. Bởi chúng ta , những người cùng một
17
dân tộc lại thiếu ý thức, vì lợi ích cá nhân mà bất chấp hậu quả, và chính người Việt
đang hại người Việt. Gần đây thì Hội nghị về Biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc
2015, COP 21 diễn ra ở Paris đã đi đến thỏa thuận thẳng hầu hết tất cả các quốc gia
sẽ cam kết giảm thiểu lượng khí thải thải ra môi trường 40% tính đến năm 2030 và
hạn chế sự nóng lên toàn cầu 2.7 độ C vào năm 2100. Đó mới chỉ là mục đích mà các
nguyên thủ Quốc gia cam kết. Nhưng liệu mục đích có thể thực hiện được hay không
khi mà điều tối quan trọng để gìn giữ môi trường là ý thức của những người dân bởi
một con én đâu thể làm nên mùa xuân. Hàng ngày tin tức vẫn đưa tin về thực phẩm
bẩn, về lũ lụt hay ngập nặng ở TP Hồ Chí Minh,… Một câu hỏi đặt ra là những dự án
bảo vệ môi trường tiền tỉ mà chính phủ đầu tư hoạt động liệu đã thực sự được hoạt
động? Điều này đòi hỏi chính phủ phải quản lý chặt chẽ sao cho sử dụng vốn đầu tư
một cách hợp lý( vốn ODA, FDI,...), xử lý nghiêm tham nhũng để có thể tận dụng
nguồn vốn một cách tối ưu nhất trong việc đầu tư các dự án giảm thiểu ô nhiễm và
Tham khảo:
- Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê-nin- Nhà xuất bản chính trị
quốc gia
- Từ điển bách khoa Wikipedia
- Mùa xuân im lặng( Silent Spring)- Rachel Carson
- Niên giám xứ cát( A Sand County Almanac)- Aldo Leopold
- Earth in the Balance- Al Gore
- Letters from a Stoic – Seneca
19
- Meditations – Marcus Aurelius
- Man’s search for meaning – Viktor Frankl
- Nature and Selected essays- Ralph Waldo Emerson
20