ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN VĂN VIỆT TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
7
1.1.1.
Trách nhiệm hành chính và đặc điểm của trách nhiệm hành chính
7
1.1.2.
Quan niệm và những đặc điểm của trách nhiệm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
10
1.1.2.1.
Quan niệm trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường
10
1.1.2.2.
Đặc điểm trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường
10
1.1.2.3.
Phân biệt trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
13
1.1.2.4.
Đặc điểm của truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường
17
1.1.2.5.
Vị trí, vai trò và mục đích của trách nhiệm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường
19
1.2.
môi trường ở Việt Nam hiện nay
36
2.2.1.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
36
2.2.2.
Nội dung của pháp luật quy định về trách nhiệm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
42
2.3.
Thực trạng vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường ở nước ta trong thời gian qua
53
2.3.1.
Thực trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta trong thời gian
qua
53
2.3.2.
Thực trạng vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường ở nước ta thời gian qua
58
2.4.
Thực trạng việc truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường
69
2.5.
Những hạn chế, bất cập của pháp luật về trách hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
75
2.5.1.
94
3.1.
Hoàn thiện về chính sách truy cứu trách nhiệm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
95
3.2.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về trách nhiệm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
97
3.3.
Hoàn thiện cơ chế truy cứu trách nhiệm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường
102
3.3.1.
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về
trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
102
3.3.2.
Đổi mới cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
103
3.3.3.
Bổ sung các biện pháp bảo đảm truy cứu trách nhiệm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
103
3.3.4.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước và hoạt động thanh,
kiểm tra trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
105
3.3.5.
: Vi phạm hành chính 1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian qua, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n-ớc và xây
dựng nhà n-ớc pháp quyền của dân, do dân và vì dân ở n-ớc ta đã đạt đ-ợc những
thành tựu b-ớc đầu trong tất cả các lĩnh vực của đời sống - xã hội. Cùng với những
thành tựu kinh tế thì vấn đề khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô
nhiễm và suy thoái môi tr-ờng đang diễn ra trên cả n-ớc hết sức phức tạp, với quy
mô, tính chất, mức độ ngày càng lớn và đáng báo động, làm cho môi tr-ờng bị ô
nhiễm, tàn phá và hủy diệt nặng. Vấn đề khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp
lý phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi tr-ờng (BVMT),
phòng, chống ô nhiễm, suy thoái môi tr-ờng không chỉ là nhiệm vụ của ngành
tài nguyên môi tr-ờng, của các cơ quan quản lý nhà n-ớc mà là sự nghiệp,
nhiệm vụ chung của các ngành, các cấp và của toàn dân tộc. Hệ thống pháp
luật, tuy có những quy định về BVMT bằng cả các chế tài trách nhiệm hành
chính (TNHC), dân sự, hình sự, trong đó biện pháp TNHC đ-ợc áp dụng phổ
biến hơn cả nh-ng xem ra ch-a đủ mạnh, ch-a đủ sức răn đe và còn nhiều hạn
chế, bất cập, thể hiện tính không nghiêm minh khi đ-ợc áp dụng trong thực tiễn
đời sống. Hậu quả là nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị khai thác bừa
bãi, cạn kiệt và suy vong, ô nhiễm môi tr-ờng diễn ra ở khắp mọi nơi từ thành
thị đến nông thôn, từ môi tr-ờng đất, n-ớc đến môi tr-ờng n-ớc, không khí
đây thực sự là bài toán nan giải cho các nhà quản lý. Để tìm hiểu những quy
định pháp luật hiện hành về TNHC của tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực
BVMT, cần phải đi phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành
của Việt Nam, trên cơ sở có sự liên hệ với pháp luật một số n-ớc trên thế giới và
tổng kết kinh nghiệm thực tiễn áp dụng pháp luật về TNHC trong lĩnh vực
với hiện tại.
3
* Các công trình khoa học nghiên cứu về pháp luật thực hiện và áp
dụng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi tr-ờng
- Trần Thị Lâm Thi, Pháp luật xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi tr-ờng, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2003.
- Nguyễn Thị Hoài Ph-ơng, Thực hiện pháp luật môi tr-ờng ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội, (2009.
- Lê Vân, Thực trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi tr-ờng ở n-ớc
ta hiện nay và một số giải pháp đấu tranh phòng, chống, Thông tin hoạt động
khoa học trong lực l-ợng Công an nhân dân (2003), chuyên đề kỷ niệm ngày
môi tr-ờng thế giới 5/6/2003.
* Các công trình khoa học nghiên cứu tổng thể về vi phạm hành
chính và xử phạt vi phạm hành chính
- Bùi Xuân Đức, Về vi phạm hành chính và hình thức xử phạt vi phạm
hành chính; những hạn chế và giải pháp đổi mới, Tạp chí Nhà n-ớc và pháp
luật, số 2, 2006.
- Đỗ Hoàng Yến, Tăng c-ờng và đổi mới cơ chế kiểm tra, giám sát
trong xử lý vi phạm hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8, 2002.
- Đỗ Hoàng Yến, Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và việc xây
dựng Bộ luật Xử lý vi phạm hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5. 2007.
- Đỗ Hoàng Yến, Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở một số n-ớc
trên thế giới, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10, 2007.
- Nguyễn Hoàng Anh, Quy định xử lý vi phạm hành chính phải phù
hợp với thực tiễn và có tính khả thi, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1, 2007.
- Vũ Thu Hạnh, Luật môi tr-ờng trong bối cảnh toàn cầu hóa, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 12, 2003.
kết quả của các công trình nghiên cứu về xử phạt vi phạm hành chính (VPHC)
trong lĩnh vực BVMT. Tuy nhiên, đây không phải là sự sao chép vì đã có sự
sắp xếp theo kết cấu khác d-ới góc nhìn của tác giả.
- Ph-ơng pháp so sánh: So sánh biện pháp TNHC về BVMT ở Việt
Nam so với một số n-ớc trên thế giới.
- Ph-ơng pháp lịch sử: Xem xét pháp luật về TNHC trong lĩnh vực
BVMT theo từng giai đoạn phát triển trong lịch sử. Từ đó tìm ra quy luật của
sự phát triển pháp luật về TNHC trong lĩnh vực BVMT để đáp ứng yêu cầu của
Nhà n-ớc, của xã hội.
- Ph-ơng pháp thống kê xã hội học: Từ những kết quả thống kê, kiểm
tra, thanh tra về thực trạng vi phạm pháp luật về BVMT và thực trạng truy cứu
TNHC trong lĩnh vực BVMT.
- Các ph-ơng pháp của xã hội học pháp luật: Phân tích cơ sở xã hội
của TNHC trong lĩnh vực BVMT.
6. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Luận văn là công trình khoa học chuyên sâu đầu tiên nghiên cứu tổng
thể về TNHC trong lĩnh vực BVMT. Do đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo
cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy.
- Luận văn đ-a ra những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về
TNHC trong lĩnh vực BVMT. Do đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các
nhà lập pháp.
- Những điểm mới nhất của luận văn là đ-a ra cấu trúc mới của pháp
luật về TNHC trong lĩnh vực BVMT; đ-a ra các giải pháp dựa trên yêu cầu
hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn xây dựng nhà n-ớc pháp quyền hiện nay
cũng nh- kinh nghiệm của các n-ớc trên thế giới.
6
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 ch-ơng:
nhà n-ớc đối với ng-ời thực hiện VPHC, thể hiện ở sự áp dụng chế tài pháp
luật hành chính đối với chủ thể đó, kết quả là các chủ thể thực hiện VPHC
phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, thiệt hại về vật chất và tinh thần so với
tình trạng ban đầu tr-ớc khi vi phạm [57, tr. 522].
* Đặc điểm của trách nhiệm hành chính
Trách nhiệm hành chính có những đặc điểm sau:
8
Một là, cơ sở thực tế của TNHC là hành vi vi phạm pháp luật hành
chính đ-ợc quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (PLXLVPHC)
năm 2002, đ-ợc sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2008 và các nghị định của
Chính phủ quy định về xử lý VPHC. Các vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa
dạng về khách thể bị xâm hại, về mức độ nguy hiểm từ đó dẫn đến những
hậu quả pháp lý khác nhau. Trách nhiệm hình sự phát sinh do có hành vi vi
phạm pháp luật đ-ợc Bộ luật hình sự (BLHS) coi là tội phạm, còn trách nhiệm
dân sự xuất hiện khi có hành vi gây thiệt hại về mặt tài sản cho nhà n-ớc, tổ
chức hoặc công dân. Trách nhiệm kỷ luật đ-ợc ấn định đối với ng-ời có hành
vi vi phạm nội quy, điều lệ kỷ luật. TNHC đ-ợc áp dụng đối với các hành vi
đ-ợc pháp luật xử phạt VPHC coi là VPHC.
Hai là, TNHC cũng nh- tất cả các biện pháp c-ỡng chế hành chính
đ-ợc áp dụng theo thủ tục hành chính. Việc áp dụng các chế tài xử phạt VPHC
chủ yếu do các cơ quan quản lý hành chính nhà n-ớc thực hiện. Ví dụ nh- ủy
ban nhân dân (UBND) xử phạt các vi phạm quy tắc xây dựng, sử dụng đất,
gây ô nhiễm môi tr-ờng sống Sự áp dụng các chế tài hình sự và dân sự thì
nhất thiết phải theo trình tự xét xử của Tòa án. Mặc dù Tòa án cũng có thẩm
quyền xử phạt hành chính đối với những hành vi gây rối trong phiên tòa nh-ng
trong các tr-ờng hợp ấy Tòa án đóng vai trò là cơ quan xử phạt hành chính
thông th-ờng và không theo trình tự xét xử.
Ba là, TNHC đ-ợc thể hiện ở chỗ: cơ quan nhà n-ớc có thẩm quyền (nhà
chức trách) ấn định đối với ng-ời vi phạm pháp luật các biện pháp xử phạt
thức và tự giác những quyền và nghĩa vụ của mình.
Mục đích phòng ngừa vi phạm pháp luật của TNHC bao gồm phòng
ngừa riêng và phòng ngừa chung. ở đây phòng ngừa riêng đ-ợc hiểu là phòng
ngừa sự tái phạm và thực hiện vi phạm pháp luật mới, từ phía ng-ời đã VPHC
và bị xử phạt hành chính, còn phòng ngừa chung là phòng ngừa các vi phạm
pháp luật từ những cá nhân khác trong xã hội.
10
1.1.2. Quan niệm và những đặc điểm của trách nhiệm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi tr-ờng
1.1.2.1. Quan niệm trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ
môi tr-ờng
Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực BVMT là một loại quan hệ
pháp luật đặc thù, xuất hiện trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà n-ớc về
BVMT, trong đó thể hiện sự đánh giá phủ nhận về mặt pháp lý và đạo đức đối
với hành vi vi phạm và ng-ời vi phạm cá nhân hay tổ chức phải chịu những
hậu quả bất lợi, những sự t-ớc đoạt về vật chất hay tinh thần t-ơng ứng với
hành vi vi phạm pháp luật môi tr-ờng mà họ đã gây ra.
1.1.2.2. Đặc điểm trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi tr-ờng
Đặc điểm của TNHC trong lĩnh vực BVMT là những dấu hiệu đặc tr-ng
của TNHC trong lĩnh vực BVMT để nói lên sự khác biệt giữa TNHC trong lĩnh
vực BVMT với TNHC trong các lĩnh vực khác nh- TNHC trong lĩnh vực an ninh
trật tự, an toàn xã hội, TNHC trong lĩnh vực giao thông, TNHC trong lĩnh vực văn
hóa, trong lĩnh vực thủy sản Theo đó TNHC trong lĩnh vực BVMT có những
đặc điểm chung của TNHC và bên cạnh đó có những đặc điểm riêng của nó.
Về những đặc điểm chung: TNHC trong lĩnh vực BVMT cũng bao
gồm các đặc điểm chung nh- cơ sở thực tế của TNHC trong lĩnh vực BVMT là
hành vi vi phạm pháp luật hành chính đ-ợc quy định trong PLXLVPHC năm
2002 và Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ quy định về
xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT (sau đây gọi tắt là Nghị định 81); TNHC
với từng thành phần môi tr-ờng cũng nh- đối với tổng thể môi tr-ờng, thiệt
hại đối với tài sản, thiệt hại đối với sức khỏe và tính mạng của con ng-ời). Thứ
hai, môi tr-ờng là đối t-ợng khai thác, sử dụng của rất nhiều ng-ời, vì vậy
trên thực tế có những thiệt hại về môi tr-ờng có thể do sự tác động đồng thời
của nhiều ng-ời, nhiều nguyên nhân gây nên và các tác động này th-ờng
mang tính tiềm ẩn, đan xen. Thứ ba, trong một số tr-ờng hợp không thể xác
12
định đ-ợc ngay mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của hành vi đó
xảy ra, vì hậu quả xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân gây nên (lý do thứ hai
đã kể ở trên) hoặc hậu quả không xảy ra ngay sau khi có hành vi vi phạm mà
phải trải qua một thời gian nhất định mới xuất hiện (ví dụ nh- ô nhiễm n-ớc
ngầm, phóng xạ, đất ).
Môi tr-ờng đ-ợc tạo thành bởi nhiều thành phần, yếu tố môi tr-ờng,
dẫn đến hoạt động BVMT đ-ợc pháp luật quy định rất đa dạng và phong phú,
bao gồm hoạt động BVMT nói chung và hoạt động BVMT đối với từng thành
phần, từng yếu tố môi tr-ờng; hoạt động BVMT của Nhà n-ớc và của toàn xã
hội; hoạt động BVMT của tổ chức và của cá nhân
Xuất phát từ tính đa dạng và phong phú của hoạt động BVMT nên
VPHC trong lĩnh vực BVMT đ-ợc pháp luật quy định có đặc điểm rất rộng và
đa dạng, bao gồm các hành vi vi phạm các quy định pháp luật về BVMT nói
chung và từng thành phần môi tr-ờng nói riêng. Đặc điểm này biểu hiện rõ nét
tại Nghị định 81 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực
BVMT. Nghị định 81 quy định các hành vi VPHC đối với môi tr-ờng nói
chung cũng nh- đối với từng thành phần, yếu tố môi tr-ờng nói riêng. Ví dụ
nh- vi phạm về bảo vệ đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên; vi phạm về
khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; vi phạm về BVMT trong hoạt động
sản xuất, kinh doanh, bệnh viện, khách sạn, nhà hàng; vi phạm quy định về ô
nhiễm đất, n-ớc, không khí; vi phạm về nhập khẩu nguyên liệu, phế liệu
Ngoài ra, VPHC trong lĩnh vực BVMT còn đ-ợc quy định tại một số
thể hiện rõ tính cấp bách và tầm quan trọng đặc biệt của việc đấu tranh phòng
và chống đối với các hành vi xâm hại môi tr-ờng. Điều này không chỉ thể hiện
qua việc BLHS năm 1985 ch-a dành riêng một ch-ơng cho các tội phạm về
môi tr-ờng, mà còn dễ nhận thấy qua việc một số tội phạm về môi tr-ờng
đ-ợc gộp lại với những tội phạm khác và đ-ợc hiểu không phải với t- cách là
những tội phạm về môi tr-ờng (tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ
14
đất - Điều 180, tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng - Điều 181
trong BLHS năm 1985 đ-ợc hiểu là những tội phạm kinh tế hoặc tội phạm
xâm phạm trật tự quản lý hành chính - Điều 216). Các tội phạm về môi tr-ờng
đ-ợc quy định tại 10 điều luật trong ch-ơng XVII BLHS năm 1999 (từ Điều 182
đến Điều 191). Tuy nhiên, Ch-ơng XVII BLHS mới chỉ quy định bảy nhóm
hành vi (trong 16 nhóm hành vi) bị nghiêm cấm bởi Luật BVMT Việt Nam
năm 2005 (Điều 7), mà vẫn ch-a bao hàm hết một số hành vi xâm hại môi
tr-ờng khác xảy ra trong thực tiễn nh- hành vi xâm hại công trình, thiết bị,
ph-ơng tiện phục vụ hoạt động BVMT; hành vi che giấu hành vi hủy hoại môi
tr-ờng, cản trở hoạt động BVMT, làm sai lệch thông tin dẫn đến gây hậu quả
xấu đối với môi tr-ờng Những hành vi này cho dù đ-ợc đề cập hay ch-a
đ-ợc đề cập trong các văn bản xử phạt hành chính do Chính phủ ban hành,
nh-ng nếu nh- chúng đ-ợc thực hiện gây nên những hậu quả nghiêm trọng
đến mức phải áp dụng các chế tài hình sự thì rõ ràng trong tr-ờng hợp này
việc áp dụng các chế tài hành chính là không đủ sức răn đe và ngăn chặn.
Tội phạm về môi tr-ờng theo quy định của BLHS Việt Nam bao gồm
ba loại tội phạm: tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng.
Không có hành vi tội phạm về môi tr-ờng nào bị coi là tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng trong khi các n-ớc trên thế giới coi hành vi vi phạm về BVMT
là tội đặc biệt nghiêm trọng nh- Singapo, Canada
Tuyệt đại bộ phận tội phạm về môi tr-ờng có cấu thành vật chất (9/10
tội phạm). Hậu quả trong các tội phạm về môi tr-ờng đ-ợc quy định trong các
BVMT là việc các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà n-ớc áp dụng các
chế tài hình sự (phạt tiền, phạt tù, ngoài ra, ng-ời phạm tội còn có thể bị áp
dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định) đối với các cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của
pháp luật về BVMT, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đ-ợc thực hiện theo
trình tự, thủ tục tố tụng t- pháp tại Tòa án.
16
- Nếu nh- TNHC trong lĩnh vực BVMT áp dụng đối với cả cá nhân và
tổ chức thì trách nhiệm hình sự lại chỉ áp dụng đối với cá nhân.
- Hành vi đó đã bị xử phạt hành chính hay ch-a.
- Mức độ hậu quả trực tiếp của hành vi: nếu "gây hậu quả nghiêm trọng"
(hoặc làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm) hoặc "hậu quả rất nghiêm trọng" hoặc
"hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Có tr-ờng hợp việc phân định giữa VPHC và tội phạm về môi tr-ờng
chỉ cần một trong các tiêu chí trên nh- hành vi đó đã bị xử phạt hành chính,
nh-ng cũng có tr-ờng hợp phải cần các tiêu chí nh- hành vi đó đã bị xử phạt
hành chính và mức độ hậu quả trực tiếp của hành vi mới phân định đ-ợc hai
loại vi phạm pháp luật này.
Về dấu hiệu "đã bị xử phạt hành chính", nội dung các điều trong
BLHS phần các tội phạm về môi tr-ờng thể hiện rất rõ kết luận này khi sử
dụng hai kết cấu: "đã bị xử phạt hành chính mà cố tình không thực hiện các
biện pháp khắc phục" hoặc "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này". Tuy
nhiên, cần nhận thức rằng môi tr-ờng là một thể thống nhất, các bộ phận của
nó không thể tồn tại độc lập với nhau và với môi tr-ờng nói chung. ý thức
BVMT không thể chỉ đối với một bộ phận cấu thành nào đó của môi tr-ờng.
Với lý do này, nên nâng cao ý thức và trách nhiệm gìn giữ, BVMT của mọi
ng-ời thông qua việc nâng cao khả năng xử lý bằng hình sự các hành vi xâm
hại môi tr-ờng. Cụ thể, các điều luật quy định trách nhiệm hình sự đối với các
tội phạm về môi tr-ờng có thể chỉ cần yêu cầu dấu hiệu đã bị xử phạt hành
hành chính do pháp luật quy định" [55] và khoản 2 Điều 3 Nghị định 81 quy
định: "Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi tr-ờng khi thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này và
các Nghị định khác của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi tr-ờng" [19].
Nh- vậy, để thực hiện hoạt động truy cứu TNHC tr-ớc hết đòi hỏi các
chủ thể có thẩm quyền phải xem xét đã có VPHC xảy ra hay ch-a.
18
- Truy cứu TNHC trong lĩnh vực BVMT là hoạt động c-ỡng chế nhà
n-ớc mang tính quyền lực nhà n-ớc. Tính c-ỡng chế và tính quyền lực nhà
n-ớc thể hiện ở việc truy cứu TNHC chỉ do các cơ quan nhà n-ớc, ng-ời có
thẩm quyền truy cứu TNHC tiến hành.
- Hoạt động truy cứu TNHC trong lĩnh vực BVMT thể hiện bằng quyết
định xử phạt của cơ quan nhà n-ớc, ng-ời có thẩm quyền tiến hành. Hoạt động
truy cứu TNHC trong lĩnh vực BVMT có thể tiến hành qua nhiều khâu, nhiều
giai đoạn, bằng các hành vi khác nhau nh-ng kết quả của hoạt động này phải
đ-ợc thể hiện bằng quyết định xử phạt. Quyết định xử phạt hành chính là hình
thức thể hiện ý chí của nhà n-ớc, thái độ, phản ứng của nhà n-ớc tr-ớc hành vi
vi phạm và đồng thời nó cũng thể hiện mức c-ỡng chế đối với chủ thể vi phạm.
- Hoạt động truy cứu TNHC trong lĩnh vực BVMT đ-ợc thực hiện trong
khuôn khổ của pháp luật và tuân theo trình tự, thủ tục hành chính. Khi tiến
hành hoạt động xử phạt các cơ quan nhà n-ớc có thẩm quyền, ng-ời có thẩm
quyền xử phạt phải tuân theo trình tự, thủ tục do pháp luật hành chính quy định.
- Các cơ quan chức năng có thẩm quyền truy cứu TNHC trong lĩnh vực
BVMT muốn truy cứu các chủ thể VPHC trong BVMT phải căn cứ vào bộ tiêu
chuẩn kỹ thuật Việt Nam về BVMT đ-ợc cơ quan Nhà n-ớc có thẩm quyền
công bố. Đây là đặc điểm khác biệt so với việc truy cứu TNHC trong các lĩnh
vực khác.
- Do đặc điểm của VPHC trong lĩnh vực BVMT nên trong hoạt động
định nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn xây dựng nhà n-ớc pháp quyền của
dân, do dân và vì dân là xây dựng, phát triển những phải đảm bảo sự phát triển
đó là bền vững không những đáp ứng nhu cầu tr-ớc mắt mà còn đáp ứng các
nhu cầu của các thế hệ mai sau. Do vậy, vấn đề TNHC trong lĩnh vực BVMT
là nền tảng của pháp luật BVMT, nó bảo đảm cho việc tuân thủ nghiêm chỉnh
các quy định về pháp luật BVMT nói chung của các tổ chức và các cá nhân
trong xã hội.
20
Xuất phát từ mục đích chung, TNHC trong lĩnh vực BVMT cũng có mục
đích trực tiếp là: giáo dục ng-ời vi phạm và phòng ngừa các vi phạm pháp luật
về môi tr-ờng.
Việc áp dụng các biện pháp c-ỡng chế hành chính trong lĩnh vực BVMT
không phải là mục đích tự thân của biện pháp trách nhiệm đó, mà nó là
ph-ơng tiện giáo dục con ng-ời lòng kính trọng pháp luật.
Mục đích phòng ngừa vi phạm pháp luật của TNHC trong lĩnh vực
BVMT bao gồm phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung. ở đây phòng ngừa
riêng đ-ợc hiểu là phòng ngừa sự tái phạm và thực hiện vi phạm pháp luật mới
từ phía ng-ời đã VPHC và bị xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT, còn
phòng ngừa chung là phòng ngừa các vi phạm pháp luật về môi tr-ờng từ
những cá nhân khác trong xã hội.
Một vấn đề quan trọng khác, khi nghiên cứu TNHC trong lĩnh vực
BVMT đó là việc phân định giữa VPHC trong lĩnh vực BVMT với VPHC
trong các lĩnh vực khác nh- an ninh trật tự, an toàn xã hội, lĩnh vực an toàn
trật tự, giao thông Sau khi nghiên cứu TNHC trong các lĩnh vực khác nhau
của đời sống xã hội, tác giả luận văn nhận thấy, ở các lĩnh vực trên pháp luật
về TNHC có những đặc điểm giống nhau đều thể hiện sự đánh giá phủ nhận
về mặt pháp lý và đạo đức đối với hành vi vi phạm và ng-ời vi phạm cá nhân
hay tổ chức phải chịu những hậu quả bất lợi, những sự t-ớc đoạt về vật chất
hay tinh thần t-ơng ứng với vi phạm mà họ đã gây ra. Tuy nhiên, chúng khác