Pháp luật xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU THỦY Pháp luật xử phạt hành chính trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường / \c Trần Thị Lâm Thi ;
Nghd. : TS. Hoàng Thị Kim Quế
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ
NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT


1993, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Nghị định 26/NĐ-CP năm
1996 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trƣờng Tuy
nhiên, qua gần 7 năm thực hiện, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995
và Nghị định 26/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập cần đƣợc nghiên

2
cứu khắc phục nhƣ: các quy định còn thiếu hoặc quá chung chung, thiếu tính cụ
thể, chƣa phù hợp, lại không đƣợc hƣớng dẫn cụ thể nên dễ bị làm trái; các biện
pháp xử phạt hành chính còn nghèo nàn, chƣa đáp ứng đƣợc với tình hình vi
phạm hành chính đa dạng, phức tạp; một số quy định về thẩm quyền xử phạt,
thủ tục xử phạt chƣa phù hợp với thực tế Ngoài ra, một số quy định trong
Pháp lệnh và Nghị định 26/CP cũng không còn phù hợp với các luật, pháp lệnh
có liên quan khác đƣợc ban hành trong những năm gần đây. Do vậy, chúng cần
đƣợc sửa đổi, bổ sung nhằm đảm bảo sự thống nhất của hệ thống pháp luật.
Để khắc phục những tồn tại nêu trên, việc sửa đổi Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 1995 là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh
phòng chống vi phạm pháp luật. Tại phiên họp ngày 02/7/2002, UBTVQH đã
thông qua Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính sửa đổi. Pháp lệnh này có hiệu
lực kể từ ngày 01/10/2002 (gọi tắt là Pháp lệnh 2002). Trên cơ sở pháp lệnh xử
lý vi phạm hành chính năm 2002, các quy định pháp luật về xử phạt hành chính
trong các lĩnh vực quản lý nhà nƣớc trong đó có lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng
cũng cần phải đƣợc sủa đổi theo cho phù hợp.
Xuất phát từ nguy cơ môi trƣờng của toàn cầu nói chung, của Việt Nam
nói riêng, xuất phát từ vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trƣờng, từ
thực tế quy định của pháp luật bảo vệ môi trƣờng trong đó có quy định về xử
phạt vi phạm hành chính còn mới mẻ đối với nƣớc ta, các công trình khoa học
pháp lý nghiên cứu về vấn đề này chƣa nhiều, hơn thế nữa để tạo nên một hệ
thống pháp luật xử lý vi phạm hành chính đồng bộ, hoàn chỉnh, việc nghiên cứu
pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng là
cần thiết, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu lý luận và áp dụng trong thực tiễn đấu

phong phú, đa dạng và công tác xử lý đối với chúng cũng cực kỳ khó khăn và
phức tạp. Do đó, phạm vi nghiên cứu mà chúng tôi muốn đặt ra trong luận văn
này là tập trung chủ yếu vào các quy định của Luật bảo vệ môi trƣờng năm
1993, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 sửa đổi năm 2002, Nghị
định 26/NĐ-CP năm 1996 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi

4
trƣờng và một số quy định khác có liên quan. Mặt khác, pháp luật về xử phạt
hành chính gồm rất nhiều quy định: về hành vi vi phạm hành chính, hình thức
xử phạt, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt, thời hiệu xử phạt v.v , trong
phạm vi khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật
xử phạt hành chính dƣới góc độ nội dung chứ không đi sâu nghiên cứu pháp luật
dƣới góc độ trình tự, thủ tục. Cụ thể đó là những quy định về: hành vi vi phạm
hành chính, hình thức xử phạt và thẩm quyền xử phạt.
Với mục đích và phạm vi nghiên cứu của luận văn nhƣ trên, những nội
dung sẽ đƣợc làm rõ trong luận văn là:
- Thứ nhất: nghiên cứu một số vấn đề cơ bản của pháp luật bảo vệ môi
trƣờng và pháp luật xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng
- Thứ hai: đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật xử phạt hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng.
- Thứ ba: Trên cơ sở những bất cập trong pháp luật thực định cũng nhƣ
thực tiễn áp dụng, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật xử
phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng và tổ chức thực hiện.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác LêNin
và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớc và Pháp luật; các tƣ tƣởng, quan điểm
mang tính nguyên tắc của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nƣớc Việt Nam
về hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền, về vấn đè
bảo vệ môi trƣờng.
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phƣơng pháp cụ thể nhƣ: phƣơng


6
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG VÀ PHÁP LUẬT
XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
Ở VIỆT NAM

1.1. Môi trường và bảo vệ môi trường
1.1.1. Môi trường và hiện trạng môi trường
Hiện nay trên thế giới có khá nhiều các quan niệm khác nhau về môi
trƣờng. Điều đó cũng thật dễ hiểu bởi lý do chủ yếu là: thứ nhất, khoa học về
môi trƣờng là một bộ môn khoa học còn hết sức non trẻ so với các bộ môn khoa
học truyền thống khác, cùng với sự tiến triển của thời gian, khái niệm về môi
trƣờng ngày càng đƣợc bổ sung, hoàn thiện và chính xác hoá dần; thứ hai, với
các mục đích nghiên cứu hoặc ứng dụng khác nhau ngƣời ta đƣa ra những khái
niệm khác nhau về môi trƣờng cho phù hợp. Trong các lĩnh vực của đời sống xã
hội chúng ta sử dụng nhiều khái niệm khái niệm môi trƣờng nhƣ: môi trƣờng sƣ
phạm, môi trƣờng xã hội, môi trƣờng kinh tế v.v
Môi trƣờng theo định nghĩa thông thƣờng “là toàn bộ nói chung những
điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con ngƣời hay một sinh vật tồn tại, phát
triển trong mối quan hệ với con ngƣời hay sinh vật ấy” [16. tr 5].
Bách khoa toàn thƣ về môi trƣờng (1994) đƣa ra định nghĩa môi trƣờng
nhƣ sau: “Môi trƣờng là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội - nhân
văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống

Trong số đó, những yếu tố vật chất tự nhiên nhƣ đất, nƣớc, không khí, ánh
sáng, âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật có ý nghĩa đặc biệt và quan trọng
hơn cả. Những yếu tố này đƣợc coi là những yếu tố cơ bản của môi trƣờng,
chúng hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có và nằm
ngoài khả năng quyết định của con ngƣời. Con ngƣời chỉ có thể tác động tới
chúng ở chừng mực nhất định.

8
Bên cạnh những yếu tố vật chất tự nhiên, môi trƣờng còn bao gồm cả
những yếu tố nhân tạo. Những yếu tố này do con ngƣời tạo ra nhằm tác động tới
các yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con ngƣời. Ví dụ nhƣ: hệ
thống đê điều, các công trình nghệ thuật, công trình văn hoá, kiến trúc mà con
ngƣời từ thế hệ này sang thế hệ khác dựng nên.
Qua phân tích trên chúng ta thấy các khía cạnh về môi trƣờng kinh tế, môi
trƣờng văn hóa, môi trƣờng xã hội - nhân văn không đƣợc đề cập đến.
Với mục đích thực hiện công tác quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng
ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, khái niệm môi trƣờng đề cập tới trong
Luật bảo vệ môi trƣờng là hoàn toàn phù hợp và đây chính là khái niệm đƣợc sử
dụng trong luận văn này.
Hiện trạng môi trường Việt Nam
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay
đang ngày càng khởi sắc và đạt đƣợc rất nhiều thành tƣụ quan trọng. Đồng thời
với quá trình phát triển đó là sự gia tăng của các vấn đề ô nhiễm môi trƣờng, suy
thoái môi trƣờng. Theo báo cáo hiện trạng môi trƣờng Việt Nam năm 2002 của
Bộ tài nguyên và môi trƣờng, chúng ta có thể thấy đƣợc hiện trạng môi trƣờng
hiện nay của Việt Nam nhƣ sau:
Hiện trạng môi trường không khí
Môi trƣờng không khí ở hầu hết đô thị và các khu công nghiệp nƣớc ta
đều bị ô nhiễm nặng về bụi. Nồng độ bụi trong không khí vƣợt quá trị số tiêu
chuẩn cho phép từ 1,3 đến 3 lần, cá biệt có chỗ vƣợt tới 10 lần. Nồng độ khí SO

và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nƣớc
trong vùng lãnh thổ. Trữ lƣợng nƣớc ngầm ở Việt Nam rất lớn, nhƣng phân bố
không đồng đều nên việc tìm kiếm và thăm dò nƣớc ngầm thƣờng tập trung vào
những vùng có nhu cầu khai thác sử dụng. Mặt khác, chất lƣợng nƣớc ngầm
cũng rất khác nhau. Mực nƣớc ngầm bị hạ thấp. Chế độ khai thác không hợp lý,
lƣợng nƣớc ngọt lấy ra quá mức cho phép khiến cho ranh giới mặn - ngọt bị kéo
về phía công trình khai thác.
Ô nhiễm các nguồn nƣớc mặt ở khu vực đô thị và khu công nghiệp là vấn
đề nổi cộm hiện nay. Tình trạng ô nhiễm nƣớc rõ ràng nhất là ở Hà nội và Thành
phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Nam Định, Hải Dƣơng và các
thành phố, thị xã lớn. Tại Hà nội, thực tế là nƣớc thải sinh hoạt và công nghiệp
đều không đƣợc xử lý trƣớc khi xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ kênh, mƣơng).
Trong số các doanh nghiệp đã khảo sát tới 90% số doanh nghiêp không đạt yêu
cầu về tiêu chuẩn chất lƣợng dòng xả nƣớc thải xả ra môi trƣờng. 73% số doanh

10
nghiệp xả nƣớc thải không đạt tiêu chuẩn do không có các công trình và thiết bị
xử lý nƣớc thải. 60% số công trình xử lý nƣớc thải hoạt động vận hành không
đạt yêu cầu. Kết quả tải lƣợng ô nhiễm trong các sông, hồ khá cao. Nƣớc ở
kênh, mƣơng trong TP Hồ Chí Minh lại bị ô nhiễm nặng nề hơn do tình trạng
tăng dân số quá nhanh. Cảng Sài gòn là một trong những cảng chính về các sản
phẩm dầu và đã xảy ra một số sự cố tràn dầu trong những năm gần đây.
Hiện trạng môi trường biển và vùng biển ven bờ:
Nguồn lợi sinh vật và đa dạng sinh học biển bị suy giảm do tình trạng
đánh bắt quá mức, đánh bắt bằng các loại công cụ mang tính huỷ diệt. Hậu quả
của việc khai thác hải sản bằng các công cụ huỷ diệt rất nghiêm trọng: làm mất
khả năng phục hồi quần thể, phá hoại sinh cảnh và nơi sinh cƣ, làm mất cân
bằng hệ sinh thái
So sánh kết quả quan trắc, phân tích chất lƣợng môi trƣờng nƣớc biển ven
bờ năm 2001 với kết quả của các năm trƣớc cho thấy chất lƣợng nƣớc và trầm

thoái rừng phòng hộ đầu nguồn, xói mòn, sụt lở đất đất, khô hạn, hoang hoá, bạc
màu, xâm nhập mặn, chua phèn hoá nhiều vùng đất đai rộng lớn, giảm mạnh các
khả năng thanh lọc ô nhiễm và các nguồn dƣỡng khí cải thiện sinh quyển của
rừng, suy thoái nhiều vùng sinh cảnh thích nghi của động vật hoang dã, giảm
nhanh mức độ đa dạng sinh học, mất đi nhiều hệ sinh thái tối ƣu.
Đa dạng sinh học:
Theo đánh giá của WWF (Quỹ động vật hoang dã quốc tế) thì Viêt Nam
mặc dù là quốc gia có tính đa dạng sinh học cao, nhƣng cũng là nƣớc có tỷ lệ
rừng bị tàn phá cao nhất (80%) và ở trong nhóm 10 nƣớc có mức mất đa dạng
sinh học cao nhất thế giới, những nƣớc khác trong khu vực nhƣ Indonexia,
Malaysia tỷ lệ cũng chỉ tới 40% (Công bố năm 1999). Sự đa dạng sinh học thể
hiện ở thành phần loài sinh vật, đồng thời còn thể hiện ở sự đa dạng các kiểu
cảnh quan, các hệ sinh thái.
Trong thời gian qua, mặc dù Nhà nƣớc rất quan tâm đến bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên nói chung, sự đa dạng sinh học nói riêng, nhƣng cho đến nay sự suy
giảm đa dạng sinh học vẫn đang bị đe doạ bởi nhiều yếu tố. Có thể khái quát

12
hiện trạng đa dạng sinh học nhƣ sau: hầu hết các hệ sinh thái tự nhiên bị tác
động trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội theo hƣớng bị thu hẹp diện tích
hoặc chuyển sang các hệ sinh thái thứ sinh; số lƣợng cá thể giảm do khai thác
quá mức, do mất nơi sinh cƣ; số lƣợng các loài trong sách Đỏ tăng (Các loài
động, thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt).
Sự cố môi trường:
Các vấn đề môi trƣờng cho đến nay đã đƣợc nhận thức là nó không có
giới hạn chỉ ở tầm quốc gia mà đã ở tầm khu vực và toàn cầu: hiệu ứng nhà
kính, ô nhiễm công nghiệp, cháy rừng, ElNino, là những nguyên nhân gây ô
nhiễm môi trƣờng và là nguồn gốc của nhiều sự cố môi trƣờng. Các sự cố môi
trƣờng vẫn tiếp tục gia tăng, tập trung chủ yếu vào những sự cố nhƣ: đắm tàu và
tràn dầu, sự cố môi trƣờng do việc rò rỉ hoá chất, bão, lũ lụt, lốc, hạn hán, mƣa

chức sử dung triệt để nhằm thu hút sự ủng hộ chính trị từ quần chúng và các tổ
chức xã hội. Nhiều đảng phái chính trị mang màu sắc môi trƣờng đã xuất hiện,
ví dụ nhƣ Đảng Xanh ở các nƣớc Châu Âu là tổ chức chính trị của những ngƣời
bảo vệ môi trƣờng.
Ở Việt Nam, các biện pháp chính trị đƣợc sử dụng trong bảo vệ môi
trƣờng mang sắc thái khác. Đảng Cộng sản Việt Nam đƣa vấn đề môi trƣờng
vào cƣơng lĩnh, chiến lƣợc hành động của mình không nhằm mục đích tranh cử
hay giành quyền lực chính trị mà nhằm làm tăng thêm tính chất toàn diện, đúng
đắn và khả thi của các cƣơng lĩnh, chiến lƣợc. Trên cơ sở đó nâng cao vai trò
lãnh đạo của Đảng trong đời sống xã hội. Ý nghĩa của các biện pháp chính trị
trong bảo vệ môi trƣờng thể hiện qua một số điểm chính sau:
- Vấn đề bảo vệ môi trƣờng trở thành các nhiệm vụ chính trị mỗi khi các
tổ chức chính trị, đảng phái đƣa chúng vào các cƣơng lĩnh hoạt động của mình
- Bằng vận động chính trị, vấn đề bảo vệ môi trƣờng sẽ đƣợc thể chế hoá
thành các chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc.
Biện pháp kinh tế
Các biện pháp kinh tế đƣợc sử dụng khá hiệu quả trong các hoạt động
quản lý vi mô và vĩ mô đối với nền kinh tế. Trong quản lý và bảo vệ môi trƣờng,

14
các biện pháp kinh tế cũng phát huy tác dụng của nó. Thực chất của phƣơng
pháp kinh tế trong bảo vệ môi trƣờng là việc dùng những lợi ích vật chất để kích
thích chủ thể thực hiện những hoạt động có lợi cho môi trƣờng, cho cộng đồng.
Các biện pháp kinh tế đƣợc thực hiện trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng bao
gồm:
- Thành lập các quỹ bảo vệ môi trƣờng
- Áp dụng các ƣu đãi về thuế đối với những doanh nghiệp, những dự án
có các giải pháp tốt về bảo vệ môi trƣờng
- Áp dụng thuế suất cao đối với những sản phẩm mà việc sản xuất chúng
có tác động xấu đến môi trƣờng

bảo vệ môi trƣờng vào chƣơng trình học tập chính thức của các bậc học; sử dụng
rộng rãi các phƣơng tiện truyền thông để giáo dục cộng đồng; tổ chức các hoạt
động cụ thể: ngày môi trƣờng thế giới, Tuần lễ xanh, phong trào thành phố
xanh-sạch - đẹp v.v ; tổ chức các diễn đàn và các cuộc điều tra xã hội
Biện pháp tổ chức
Các biện pháp mang tính tổ chức bao gồm việc xây dựng hệ thống các cơ
quan quản lý việc bảo vệ môi trƣờng, trong đó có hệ thống các cơ quan thanh tra
về bảo vệ môi trƣờng.
Biện pháp pháp lý
Trong tổng hợp các biện pháp bảo vệ môi trƣờng, pháp luật là một công
cụ không thể thiếu và có vị trí đặc biệt quan trọng. Pháp luật với tƣ cách là hệ
thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con ngƣời cho nên nó sẽ có
vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trƣờng. Vai trò của pháp luật trong
bảo vệ môi trƣờng sẽ đƣợc phân tích cụ thể ở phần sau.
1.2. Tổng quan về pháp luật bảo vệ môi trường
1.2.1. Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ môi trường.
Pháp luật bảo vệ môi trƣờng là một lĩnh vực tƣơng đối mới không chỉ của
hệ thống pháp luật Việt Nam mà còn của hệ thống pháp luật nhiều nƣớc đang
phát triển khác. Sự vắng bóng hoặc tình trạng kém phát triển của pháp luật môi
trƣờng ở các nƣớc đang phát triển, trong đó có nƣớc ta đƣợc giải thích bởi nhiều

16
lý do khác nhau. Nhƣng một lý do khá phổ biến đối với các nƣớc đang phát triển
đó là sự phát triển bằng mọi giá, kể cả sự hy sinh các nguồn tài nguyên. Khi sự
phát triển kinh tế là động lực phát triển của các quốc gia thì tài nguyên và môi
trƣờng không phải là vấn đề quan trọng. Các quốc gia sẵn sàng khai thác hết tài
nguyên để công nghiệp hoá, để phát triển. Chính sự hy sinh các giá trị môi
trƣờng, các giá trị sinh thái cho sự phát triển đã đẩy sự quan tâm tới môi trƣờng
và Luật môi trƣờng ra sau những mối quan tâm khác. Chỉ đến khi tất cả các quốc
gia phải đối mặt với sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên, sự mất cân bằng sinh thái

nhiễm hay chƣa? ô nhiễm đến mức độ nào? ai là ngƣời gây ô nhiễm? Từ đó, nhà
nƣớc có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn, khắc phục tình trạng môi trƣờng
bị ô nhiễm và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật môi trƣờng. Về phần
mình, các tổ chức và cá nhân biết đƣợc mình sống trong điều kiện môi trƣờng
nhƣ thế nào? có thể tác động đến môi trƣờng trong giới hạn nào? Các tiêu chuẩn
này thực chất là những tiêu chuẩn kỹ thuật, tuy nhiên do đƣợc ban hành bằng
các văn bản pháp luật nên chúng trở thành những tiêu chuẩn pháp lý, tức là
những tiêu chuẩn mà các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải tuân thủ nghiêm
ngặt khi khai thác, sử dụng các yếu tố khác nhau của môi trƣờng.
Các yếu tố cơ bản của môi trƣờng bao gồm: đất, nƣớc, không khí, các hệ
thực vật, động vật và các nguồn tài nguyên khác Môi trƣờng nói chung và các
yếu tố, thành phần của môi trƣờng nói riêng đều đƣợc đặt dƣới sự bảo vệ của
các quy phạm pháp luật.
Đất có tầm quan trọng đặc biệt xét dƣới góc độ môi trƣờng, nó đƣợc coi là
một trong những thành phần quan trọng nhất của môi trƣờng. Ô nhiễm và suy
thoái môi trƣờng đất ở Việt Nam đã và đang xảy ra trên quy mô rộng lớn. Trong
mối quan hệ bảo vệ đất với tƣ cách là thành phần môi trƣờng, pháp luật bảo vệ
môi trƣờng đất quy định các chủ thể khi khai thác, sử dụng đất phải có trách
nhiệm tăng khả năng sinh lợi của đất và bảo vệ đất. Ngƣời sử dụng đất cần phải
tuyệt đối tuân theo các quy định về bảo vệ môi trƣờng đất, thực hiện các biện
pháp để bảo vệ đất.

18
Nƣớc là thành phần cơ bản, là yếu tố quan trọng hàng đầu của môi trƣờng
sống, là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quí giá của mỗi quốc gia cũng
nhƣ của toàn nhân loại. Vì vậy, pháp luật về bảo vệ tài nguyên nƣớc cũng là một
bộ phận quan trọng của pháp luật bảo vệ môi trƣờng. Pháp luật bảo vệ tài
nguyên nƣớc xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia các quan
hệ phát sinh từ việc khai thác, sử dụng tài nguyên nƣớc; quy định các tiêu chuẩn
về nƣớc sạch để trên cơ sở đó xác định mức độ ô nhiễm, suy thoái môi trƣờng

việc làm cho ngƣ dân và cũng chính là bảo vệ môi trƣờng. Do vậy, pháp luật bảo
vệ môi trƣờng quy định hoạt động khai thác và phát triển nguồn lợi thuỷ sản
đƣợc đặt trong tƣơng quan với việc bảo vệ môi trƣờng.
Ngoài các đối tƣợng của pháp luật bảo vệ môi trƣờng nói trên, bảo vệ đa
dạng sinh học cũng là một nội dung không kém quan trọng. Bằng việc trao cho
các tổ chức và cá nhân một số quyền cũng nhƣ buộc họ phải thực hiện các nghĩa
vụ, pháp luật hƣớng các hành vi xử sự trong lĩnh vực bảo vệ sự đa dạng sinh học
theo một khung thống nhất với mục tiêu bảo vệ thành công tính đa dạng sinh
học ở Việt Nam.
Cùng với việc đặt ra các tiêu chuẩn môi trƣờng, các quy tắc xử sự trong
việc khai thác, sử dụng hợp lý các yếu tố của môi trƣờng, pháp luật bảo vệ môi
trƣờng quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức thực hiện
chức năng bảo vệ môi trƣờng. Bảo vệ môi trƣờng là một công việc rất khó khăn,
phức tạp. Nhiều yếu tố của môi trƣờng có phạm vi rộng lớn, có kết cấu phức tạp
nên việc bảo vệ chúng đòi hỏi phải có hệ thống các cơ quan, tổ chức thích hợp.
Pháp luật có tác động rất lớn trong việc tạo ra cơ chế hoạt động hiệu quả cho các
cơ quan, tổ chức bảo vệ môi trƣờng thông qua quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn, cơ cấu tổ chức của chúng.
Hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc về môi
trƣờng bao gồm hai loại: các cơ quan quản lý Nhà nƣớc có thẩm quyền chung
(Chính phủ , Uỷ ban nhân dân) và các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn (Bộ
tài nguyên và môi trƣờng, Sở tài nguyên và môi trƣờng).

20
Trƣớc đây, cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng bảo vệ môi trƣờng
ở Việt Nam là Bộ khoa học, công nghệ và môi trƣờng. Điều 1, Nghị định số
22/CP ngày 22/5/1993 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ
khoa học, công nghệ và môi trƣờng quy định: “Bộ khoa học, công nghệ và môi
trƣờng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc trong
lĩnh vực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, tiêu chuẩn hoá sở hữu công

Cùng với hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng bảo vệ môi trƣờng
nói chung kể trên, pháp luật còn quy định một số cơ quan khác thực hiện công
tác quản lý nhà nƣớc của mình trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng. Ví dụ: Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ công nghiệp, Bộ Thuỷ sản Các Bộ,
ngành khác cũng đã kiện toàn các Vụ khoa học, công nghệ và môi trƣờng theo
hƣớng bổ sung chức năng, nhiệm vụ nhằm thực hiện công tác quản lý nhà nƣớc
của mình trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng.
Nhóm đối tƣợng điều chỉnh thứ hai của Luật môi trƣờng là các quan hệ xã
hội trong việc đảm bảo an toàn môi trƣờng sống của con ngƣời thông qua thực
hiện các quy định về bảo vệ môi trƣờng. Nói một cách ngắn gọn đây chính là
các quan hệ về trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong việc giữ gìn môi
trƣờng trong sạch, khai thác và sử dụng hợp lý các yếu tố của môi trƣờng.
Việc đƣa ra các tiêu chuẩn để định hƣớng hành vi khai thác và sử dụng
môi trƣờng có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên không phải trong mọi tình huống
các tiêu chuẩn này đƣợc tự giác tuân thủ. Sự vi phạm xảy ra thƣờng xuyên hơn
đối với những yếu tố môi trƣờng mà ở đó có sự hiện diện mâu thuẫn giữa nhu
cầu bức bách của cuộc sống và yêu cầu bảo vệ môi trƣờng. Vì vậy, pháp luật
quy định các chế tài pháp lý để buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ
các yêu cầu của pháp luật trong việc khai thác, sử dụng các yếu tố của môi
trƣờng, bảo vệ môi trƣờng.
Vi phạm pháp luật môi trƣờng là một dạng vi phạm pháp luật, vì vậy các
cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật môi trƣờng phải chịu trách nhiệm
pháp lý trƣớc Nhà nƣớc, trƣớc cộng đồng hoặc cá nhân, tổ chức bị thiệt hại.
Điểm đặc biệt của vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng là việc xác định hành

22
vi vi phạm và hâụ quả vi phạm thƣờng gặp những khó khăn do tính chất và
phạm vi rộng lớn của môi trƣờng. Vi phạm pháp luật môi trƣờng trong đa số
trƣờng hợp chƣa để lại hậu quả trực tiếp, ngay lập tức và có thể định lƣợng
đƣợc.

trƣờng mà gây thiệt hại cho ngƣời khác, cho tổ chức hoặc cộng đồng sẽ bị truy
cứu trách nhiệm dân sự. Căn cứ pháp lý để tiến hành truy cứu trách nhiệm dân
sự đôí với vi phạm pháp luật môi trƣờng đƣọc quy định tại Điều 52 Luật bảo vệ
môi trƣờng, Điều 2 NĐ 26/CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trƣờng, Điều 628 Bộ luật dân sự. Theo đó, cá nhân, pháp nhân
và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trƣờng gây thiệt hại thì phải bồi thƣờng
theo quy định của pháp luật. Ngƣời có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm dân sự
đối với chủ thể vi phạm pháp luật môi trƣờng là Toà án, tiến hành theo thủ tục tố
tụng dân sự.
Trách nhiệm kỷ luật: đƣợc áp dụng đối với các cán bộ, công chức, viên
chức Nhà nƣớc khi họ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi vi
phạm kỷ luật về bảo vệ môi trƣờng. Việc truy cứu trách nhiệm kỷ luật đƣợc thực
hiện bởi cơ quan, tổ chức nơi có cán bộ, công chức, viên chức vi phạm kỷ luật,
theo thủ tục xử lý kỷ luật. Các hình thức kỷ luật có thể là: khiển trách, cảnh cáo,
hạ bậc lƣơng, hạ ngạch, cách chức và buộc thôi việc.
Trách nhiệm hình sự là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất áp
dụng đối với cá nhân có hành vi tội phạm về môi trƣờng, tức là “hành vi nguy
hiểm cho xã hội vi phạm các quy định của Nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng, qua
đó gây thiệt haị cho môi trƣờng” [17. tr 463].
Bộ luật hình sự năm 1999 đã xây dựng một chƣơng riêng quy định những
hành vi tội phạm về môi trƣờng. Điều đó thể hiện chính sách hình sự của nƣớc
ta trong việc bảo vệ môi trƣờng có sự đột phá quan trọng. Bộ luật hình sự năm
1985 chƣa thể hiện rõ tính cấp bách và tầm quan trọng đặc biệt của việc đấu
tranh với các hành vi xâm hại môi trƣờng. Điều này không chỉ thể hiện qua việc
Bộ luật hình sự năm 1985 chƣa dành riêng một chƣơng cho các tội phạm về môi
trƣờng, mà còn dễ dàng nhận thấy qua việc một số tội phạm về môi trƣờng đƣợc

24
gộp lại với những tội phạm khác và đƣợc hiểu không phải với tƣ cách là những
tội phạm về môi trƣờng(tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status