ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
---------- ---------
BÀI THUYẾT TRÌNH
MÔN XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
NHÓM 4: VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
Lớp K5 Xã hội học
Hà Nội, tháng
1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN VÀ NHIỆM VỤ
\
2
MỤC LỤC
I.
THAO TÁC HÓA KHÁI NIỆM ................................................. 4
1. Văn hóa và văn hóa nghệ thuật ............................................................... 4
2.Văn hóa truyền thống ............................................................................... 6
3. Nghệ thuật âm nhạc................................................................................. 6
4. Biến đổi xã hội......................................................................................... 7
5. Toàn cầu hóa ........................................................................................... 8
II.
đến sự sáng tạo vươn tới các giá trị nhân văn của văn hóa. Như vậy, bản chất cốt lõi và cơ
bản của văn hóa là sự sáng tạo vươn tới các giá trị nhân văn của con người qua trường kỳ
lịch sử. Hồ Chí Minh ngay từ năm 1943 đã nêu ra định nghĩa hết sức đúng đắn là: “Vì lẽ
sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn
ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ
cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng
tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh
hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu
cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Trong định nghĩa này, Hồ Chí Minh đã xác định văn hóa bao gồm những thành quả
của sự sáng tạo cả về phương diện vật chất và tinh thần nhằm đáp ứng cho sự tồn tại và
phát triển của loài người. Và điều đặc biệt ở đây là Người cho rằng văn hóa không chỉ là
sự sáng tạo mà còn là phương thức sử dụng sự sáng tạo đó. Điều này có ý nghĩa to lớn đối
với việc xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, chúng ta không chỉ
chăm lo tạo ra nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp mà cần phải chú ý tới cả "phương thức sử
dụng"cho hợp tình, hợp lý, mang tính nhân văn cao đẹp nữa. Cũng trong định nghĩa này,
Hồ Chí Minh đã xác định nghệ thuật như một bộ phận của văn hóa góp phần vào đáp ứng
nhu cầu phát triển của xã hội loài người.
Gần đây, đứng trước sự tiến công mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, vấn đề giữ
gìn, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa của các dân tộc, caùc quốc gia đang gặp phải
những thách thức to lớn, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và các dân tộc thiểu số.
Vì vậy, UNESCO đã nêu ra định nghĩa về văn hóa trên cơ sở nhấn mạnh đến nội dung này
nhằm thức tỉnh tinh thần trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc chống xu thế nhất
thể hóa văn hóa, hướng tới tôn trọng và bảo vệ những giá trị văn hóa độc đáo của các quốc
gia, các dân tộc: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần
và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm
người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những
quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín
4
– Văn hóa nghệ thuật đảm nhiệm một tổ hợp các chức năng xã hội nhất định như:
chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ, chức năng giải trí,
chức năng dự báo… Không nên tuyệt đối hóa một chức năng nào đó để dẫn đến
phủ nhận các chức năng khác.
– Văn hóa nghệ thuật hiện nay có các tính chất cơ bản là tính giai cấp, tính dân tộc
và tính nhân loại. Ngoài ra giới nghiên cứu còn bàn tới tính nhân dân và tính quốc
tế của nó.
Như vậy, văn hóa nghệ thuật là một bộ phận của văn hóa thẩm mỹ, văn hóa thẩm
mỹ là một thành tố của văn hóa tinh thần. Có thể tán thành định nghĩa sau đây: “Văn hóa
nghệ thuật là sự phát triển những năng lực nghệ thuật của cá nhân và cộng đồng (nghệ sĩ,
công chúng, giai cấp, dân tộc, nhân loại) thể hiện trong hoạt động nghệ thuật nhằm sáng
tạo, lưu truyền và thụ cảm các giá trị nghệ thuật. Hoạt động này bao gồm quá trình sáng
5
tạo, sản xuất, lưu giữ, bảo quản, truyền thông, phổ biến, đánh giá và tiêu dùng các giá trị
nghệ thuật cùng các cơ quan, các tổ chức, các thiết chế bảo đảm cho quá trình hoạt động
này”.
Với định nghĩa trên, văn hóa nghệ thuật đã được xem xét trên một bình diện tổng
quát, bao gồm cấu trúc, chức năng cũng như cơ chế hoạt động của nó, tạo nên một chỉnh
thể hoạt động trong đời sống thực tiễn xã hội. Văn hóa nghệ thuật là một trong những lĩnh
vực quan trọng của đời sống xã hội. Nó là một thành tố quan trọng của văn hóa, một điểm
tựa để suy xét và đánh giá về một nền văn hóa đang hiện hữu.Văn hóa nghệ thuật là sản
phẩm của một nền văn hóa thành văn, thể hiện được cuộc sống xã hội một cách sinh động
thông qua các sản phẩm của chính nó.
Như chúng ta đã biết, không phải ở thời kỳ nào những di sản văn hóa nghệ thuật
cũng chỉ biểu hiện một diện mạo tinh thần của một xã hội, tùy vào thời kì lịch sử mà
những sản phẩm văn hóa nghệ thuật có những diện mạo khác nhau, thể hiện cho một thời
kỳ, một xã hội nào đó. Chính vì thế, khi xã hội thay đổi, văn hóa cũng thay đổi, đặc biệt là
văn hóa nghệ thuật.
một cách ước lệ và trừu tượng. Âm nhạc mô tả các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống.
Âm nhạc còn có thể thể hiện quan điểm sống, chuyển tải tư tưởng. Còn một phần rất quan
trọng trong nội dung của âm nhạc là sự đánh giá thực tại trên quan điểm của Mỹ học, có
nghĩa là đánh giá các sự vật, hiện tượng nhưng không phụ thuộc vào cách nhìn nhận thực
tiễn, thực dụng về đối tượng ấy. Vĩ dụ khi ngắm nhìn cảnh mặt trời mọc, chúng ta thích
ngắm nhìn nó vì nó đẹp chứ hoàn toàn không có ý nghĩ là mặt trời sẽ cung cấp năng lượng
cho chúng ta, mặt trời sẽ sưởi ấm cho ta,… Có thể nói rằng, cách đánh giá trên quan điểm
Mỹ học là một cách đánh giá “vô tư”.
Sở dĩ âm nhạc có được sức ảnh hưởng lớn bởi vì âm nhạc là một loại hình nghệ
thuật có tính biểu hiện. Ngôn ngữ của nó giống với ngữ điệu của tiếng nói và giống với cử
chỉ, nghĩa là giống với phương tiện biểu hiện của cảm xúc. Chính sự khái quát hoá và tăng
lên gấp nhiều lần những khả năng biểu hiện của ngữ điệu và tiết tấu, âm nhạc đã có được
một sức mạnh tác động vào cảm xúc thật lớn lao. Hơn nữa, trong tác phẩm âm nhạc còn
miêu tả những điều mà chúng ta thích thú và quan tâm trong thực tiễn. Âm nhạc có sự tái
hiện những âm thanh đầy sức hấp dẫn của thiên nhiên, thể hiện những cảm xúc dễ chịu và
đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của chúng ta.
Chính vì âm nhạc tác động lên mặt xúc cảm và tư tưởng nên âm nhạc đóng vai trò
không kém phần quan trọng trong việc giáo dục con người, nhất là thế hệ trẻ. Có thể thông
qua âm nhạc để giáo dục tư tưởng, đạo đức cho người nghe. Những nhân vật tích cực,
những tấm gương đạo đức cao cả và cả hình tượng những con người bị dày vò bởi sự đấu
tranh nội tâm khổ sở, những con người sống dằn vặt và không thoả mãn được đề cập đến
trong bản nhạc đã ảnh hưởng đến tình cảm đạo đức của người nghe, nâng người nghe lên
một tầm cao bao la về đạo đức. Những tác phẩm âm nhạc diễn tả những tư tưởng, tình
cảm đạo đức cao đẹp như tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc, tình bạn, tình
yêu, tình huynh đệ, tình phụ tử, tình mẫu tử,… luôn đóng một vai trò giáo dục đặc biệt có
ý nghĩa. Âm nhạc đã đánh thức lương tâm, thức tỉnh một sự bồn chồn cao quí, một nỗi
niềm lo lắng thiêng liêng: Mình đã làm được điều tốt đó chưa? Mình đã sống tốt chưa?
Mình có xứng với cái đẹp ấy không? Liệu mình còn đủ sức để hoàn thiện bản thân hơn
nữa không?… Những điều ấy tạo nên nội lực thúc đẩy người nghe vươn tới sự toàn thiện,
toàn mỹ.
học hoặc được phát triển tiến về con đường tách khỏi sự sắp đặt của Thượng đế vì sự tiến
bộ của nhân loại.
5. Toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền
kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các
tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v…v... trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt
trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương
mại nói chung và tự do hóa thương mại hay “tự do thương mại” nói riêng. Cũng ở góc độ
kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy
thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, văn hoá.
Toàn cầu hoá sẽ tạo ra một sự đa dạng cho các cá nhân do họ được tiếp xúc với các
nền văn hoá và văn minh khác nhau. Toàn cầu hoá giúp con người hiểu hơn về thế giới và
những thách thức ở quy mô toàn cầu qua sự bùng nổ các nguồn thông tin, việc phổ thông
hoá hoạt động du lịch, việc tiếp cận dễ dàng hơn với giáo dục và văn hoá; ngoài ra nó còn
tạo ra một sự đồng nhất đối với các dân tộc qua ảnh hưởng của các dòng chảy thương mại
và văn hoá mạnh. Trên thực tế, thông tin tạo ra chính kiến và vì thế một vài tập đoàn
truyền thông lớn, chủ yếu là phương Tây có thể tạo ra (và làm giả) thông tin đưa đến dân
chúng. Sự độc quyền trong lĩnh vực văn hoá và thông tin này được xem như một sự “Mỹ
hoá” thế giới.
8
II. NỘI DUNG CHÍNH
1. THỰC TRẠNG SỰ BIẾN ĐỔI CỦA VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT
NAM (NGHỆ THUẬT ÂM NHẠC)
Xét ở góc độ khái quát nhất, nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, nghệ thuật
phản ảnh hiện thực bằng hình tượng sinh động cụ thể, gợi cảm nhằm thỏa mãn những nhu cầu
hiểu biết, khám phá và sáng tạo của con người. Nghệ thuật chân chính bao giờ cũng tạo nên
một sức mạnh to lớn. Sức mạnh đó được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau: nghệ thuật
Trong giai đoạn đất nước hội nhập với thế giới, văn hóa nghệ thuật đã có những
biến đổi nhất định, trang phục biểu diễn của các nghệ sĩ chịu nhiều ảnh hưởng bởi phong
cách thời trang của các nước phát triển ở cả châu Âu và châu Á. Các ca sĩ Việt có phong
9
cách ăn mặc giống những nghệ sĩ nước ngoài giờ cũng không còn là chuyện hiếm. Các
trang phục biểu diễn của nghệ sĩ đa dạng, phong phú hơn, độc đáo hơn, không còn chịu bó
buộc trong những khuôn mẫu truyền thống. Nghệ sĩ được tự do hơn trong việc lựa chọn
trang phục biểu diễn sao cho phù hợp với những ca khúc mình thể hiện và làm nổi bật cá
tính của riêng mình. Điều đó có thể coi là một sự hội nhập văn hóa, những phát triển trong
văn hóa nghệ thuật. Song đi cùng với sự phát triển và hội nhập vẫn còn tồn tại những mặt
trái.
Trước đây, trang phục biểu diễn của các ca sĩ thường khá kín đáo, thường đó là
quần âu áo sơmi, nếu là váy thì là váy dài. Khi biểu diễn các bài hát về quê hương đất
nước thì các ca sĩ thường mặc áo dài truyền thống. Ngày nay, các chương trình ca nhạc,
phim ảnh của các nước phát triển như Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ… có mặt trên khắp các
phương tiện truyền thông, qua đó trang phục biểu diễn của nước ta đã chịu ảnh hưởng của
các nước này, trở nên phong phú, đa dạng, độc đáo và sáng tạo hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì sự biến đổi về trang phục biểu diễn
cũng có những vấn đề nảy sinh. Thời gian gần đây, các nghệ sĩ ăn mặc ngày càng
“thoáng” trong biểu diễn. Những trang phục biểu diễn phản cảm như quần soóc siêu ngắn,
áo trong suốt... xuất hiện ngày càng nhiều. Những cụm từ như thời trang gây sốc, thời
trang khoe thân, thời trang xuyên thấu… trở nên quá quen thuộc với những người quan
tâm đến vấn đề ăn mặc của bản thân và xã hội. Trên mặt báo, mạng xã hội nhan nhản
những hình ảnh, tin tức cập nhật về cách ăn mặc không giống ai của nghệ sĩ, người đẹp
Việt. Không chỉ những ca sĩ trẻ tuổi như Đông Nhi, Hương Tràm… mà cả những cả sĩ có
tuổi nghề lâu năm như Phương Thanh, Thu Minh… cũng có lần nằm trong danh sách
những nghệ sĩ ăn mặc phản cảm.
Thời gian qua, trang phục gây sốc của nhiều nghệ sĩ đã khiến dư luận bức xúc.
nghệ thuật, trang phục biểu diễn cũng có sự thay đổi theo sự phát triển của xã hội. Khi vẻ
đẹp trong cách ăn mặc truyền thống dần mất đi bản sắc, chúng ta bắt đầu lo lắng trước
những đổi thay về văn hóa trong quá trình hội nhập. Từ trước đến nay, chưa bao giờ cách
ăn mặc của người Việt Nam, nhất là một bộ phận giới nghệ sĩ ngày nay lại gây đau đầu
cho những cơ quan văn hóa đến vậy. Vì thế, vấn đề gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa
của dân tộc trong cách ăn mặc nói chung và trang phục biểu diễn nói riêng cần được chú
trọng và quan tâm hơn nữa.
1.2. Sự thay đổi trong phong cách biểu diễn của các nghệ sĩ
Phong cách biể u diễn bao gồ m có cách hát, phố i khí và vũ đa ̣o. Trong những giai
đoa ̣n trước sáng tác âm nh ạc, biểu diễn âm nhạc và lắng nghe âm nhạc là hình thái thưởng
thức, chia sẻ, đầy tính nghệ thuật và trân trọng lẫn nhau, họ nghe âm nhạc bằng cả trái tim
và sáng tác thể hiện âm nhạc bằng cả tâ m huyế t . Với mỗi tác phẩ m các nha ̣c si ̃ đã sáng tác
bằ ng biế t bao tâm huyế t , biế t bao sức lực để rồ i làm nên những tác phẩ m đươ ̣c mo ̣i người
nhớ đế n maĩ , và một điều nữa những tác phẩm âm nhạc với những ca từ rất đơn gi ản dễ
nhớ dễ thuô ̣c nhưng la ̣i rấ t ý nghiã trong những thời khắ c đó . Và mỗi khi ra tác phẩm các
nhạc sĩ luôn muốn tìm một người ca sĩ có thể thể hiện được những tâm tư tình cảm những
điề u ẩ n chứa trong tác phẩ m của mì nh để khi thể hiê ̣n cho khán giả thì khán giả cũng có
thể cảm nhâ ̣n đươ ̣c điề u đó . Những ca si ̃ trong giai đoa ̣n trước thực sự không có nhiề u
điề u kiê ̣n như những ca si ̃ trẻ ở Viê ̣t Nam bây giờ , họ không có p hòng thu hiên đa ̣i , kỹ
thuâ ̣t xử lý âm thanh tốt, phố i khí và kèm theo đó là những ba ̣n vũ đa ̣o , nhưng những điề u
đó không hề ảnh hưởng đế n chấ t lươ ̣ng bài hát , những bài hát vẫn đươ ̣c thể hiê ̣n rấ t hay
rấ t sâu sắ c các khán giả rấ t yêu thić h . Vâ ̣y ta ̣i sao các ca si ̃ có thể làm đươ ̣c điề u đó ? Có
thể là do niề m đam mê , do ho ̣ có thể cảm thụ tốt âm nh ạc, và họ hát bằng cả tấm lòng
mình và có thể những bài hát đó phù hợp với hoàn cảnh đó và những ca sĩ đó số ng trong
giai đoa ̣n đó nên ho ̣ có thể cảm nhâ ̣n đươ ̣c mô ̣t cách sâu sắ c bài hát
. Ví dụ như bài hát
cách mạng , bài hát trữ tình , những bài hát này vẫn tồ n ta ̣i cùng năm tháng cho đế n bây
giờ.
Còn ngày nay , sự phát triể n k inh tế - xã hội đã và đang làm thay đổ i nhiề u phong
cách biểu diễn của các nghệ sĩ Viê ̣t Nam hiê ̣n nay . Điều này cũng tạo ra ảnh hưởng hai
phẩm nghiêm túc, một chương trình biểu diễn nghiêm túc, nhưng nó có thể bán được vé,
bởi người ta vào đó không phải là nghe âm nhạc mà là người ta khều nhau mỉm cười, cười
ngặt nghẽo, cười lăn lộn và thấy vui với trò đó. Âm nhạc không chỉ là phương tiện trong
một thời buổi của thương mại mà còn là phương tiện nằm ở vị trí thấp nhất trong ý nghĩa
phương tiện mà hôm nay chúng ta đang thấy. Thật là khó nói về âm nhạc Việt Nam hôm
nay thế nào, nhưng có thể nói rằng nó ảnh hưởng từ rất nhiều thứ, nó ảnh hưởng luôn cả
một thế hệ những người trẻ lớn lên trong một nền giáo dục của chế độ cộng sản Việt Nam
và chủ nghĩa duy vật, đó là những thứ chạy theo những giá trị tức thời, không biết gọi tên
nó là gì và nó dẫn đến âm nhạc là một trong những biểu hiện đầu tiên âm nhạc mỗi ngày
suy đồi, suy thoái, ở đây âm nhạc chỉ là một phần trong đó.
Bên cạnh đó, hệ thống quảng bá, tuyên truyền âm nhạc, nhất là một số chương
trình âm nhạc trên truyền hình cũng có xu hướng lựa chọn nhạc thị trường như giải pháp
an toàn mà vẫn thu được lợi nhuận. Số cuộc thi tìm kiếm tài năng âm nhạc ngày càng
nhiều, nhưng chưa thật sự chú trọng chất lượng mà chủ yếu, như vì mục đích kinh doanh,
nên mang đến những sản phẩm thập cẩm, nhạt nhẽo, đôi khi làm trò gây cười hơn là thể
hiện tài năng, sáng tạo nghệ thuật. Ngoài ra, một số tờ báo (nhất là báo, trang tin trên
mạng) cũng cổ xúy xu hướng âm nhạc này khi ngày ngày đăng tải tin tức vô bổ về đời tư
của ca sĩ trẻ, về các scandal, về đời tư của các ca sĩ,... để thu hút đông độc giả. Điều này
12
phần nào khiến nhiều người nghe nhạc, nhất là những người trẻ tin vào các giá trị "ảo",
hay các giá trị ngoài âm nhạc, từ đó dẫn đến lựa chọn lệch chuẩn thẩm mỹ. Dẫu thế nào
thì âm nhạc cũng không phải là môi trường tự do để nghệ sĩ tha hồ đưa ra loại sản phẩm
lệch lạc, vì thế ngoài ý thức trách nhiệm của mỗi người trong nghề, cùng với việc cần phổ
biến những tác phẩm có chất lượng tư tưởng - nghệ thuật tốt, đưa âm nhạc lành mạnh đến
với công chúng nhiều hơn, góp phần nâng cao thị hiếu âm nhạc cho giới trẻ, các cơ quan
chức năng cần chú ý hơn nữa đến trách nhiệm của mình, nhất là các công việc trước biểu
diễn, phát tán, lưu hành sản phẩm mang xu hướng âm nhạc thị trường.
1.3. Sự biến đổi trong cách thưởng thức của khán giả
thưởng thức nghệ thuật miễn phí, tức là chỉ đi xem khi có giấy mời. Lại có nhiều người
sẵn sàng bỏ hàng triệu đồng mua vé để nghe nhạc hàn lâm, chỉ có điều đi để cho oai, được
tiếng “thưởng thức nghệ thuật đỉnh cao”, được chụp tấm ảnh đưa lên Facebook với thiên
13
hạ mà thôi. Cũng có người đi xem cùng bạn cùng bè chỉ để cho vui. Số còn lại, những
người đi xem với tâm thế thưởng thức nghệ thuật như một nhu cầu thỏa mãn bản thân thì
chưa nhiều. Ngày xưa người Việt thường hay nghe hát, xem diễn ở đình làng, góc chợ,
thích thì đến xem, không thích thì bỏ đi, người ngồi người đứng, người vừa xem vừa trò
chuyện rôm rả, người chạy ra cho tiền. Đó là những nếp quen tồn tại trong sinh hoạt đời
sống và văn hóa của người Việt trong suốt nhiều thế kỷ. Có lẽ chúng ta vẫn đang chật vật
tiếp nhận “văn hóa nhà hát” du nhập từ phương Tây nhưng cần phải thay đổi để phù hợp
với nếp sống văn minh.
Thứ hai là ở nội dung thưởng thức nghệ thuật. Có thể lấy ví dụ, trong vòng hơn
một chục năm trở lại đây, đời sống âm nhạc Việt Nam rất đa dạng, phong phú. Bên cạnh
xu hướng âm nhạc chính thống với các tác phẩm được đánh giá có chất lượng tư tưởng nghệ thuật là sự tồn tại rất sôi động của xu hướng âm nhạc thị trường. Tuy mới xuất hiện,
nhưng xu hướng này lại thu hút đông người xem - nghe, chủ yếu là giới trẻ. Sự xuất hiện
và tồn tại của xu hướng âm nhạc thị trường là khó tránh khỏi, bởi đó là một trong nhiều hệ
quả của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa và nghệ thuật diễn ra trên toàn cầu. Thị hiếu
âm nhạc của một bộ phận công chúng dường như đang thay đổi theo chiều hướng tiêu cực
khi một số ca khúc có ca từ dễ dãi, thiếu lành mạnh thậm chí tục tĩu vẫn được tán dương,
coi là để giải trí, chưa kể tới loại ca khúc có giai điệu nhạt nhòa, na ná nhau nhưng vẫn
được coi là hit (bài hát được nhiều người yêu thích). Những sản phẩm đó được phát tán,
lan truyền qua mạng Internet đã tác động đến một bộ phận công chúng trẻ, hình thành nên
kiểu thị hiếu âm nhạc không phù hợp với truyền thống văn hóa, không phù hợp với sự
phát triển con người. Bên cạnh sự ảnh hưởng từ xu hướng âm nhạc thị trường trong nước,
phải kể tới ảnh hưởng từ làn sóng âm nhạc nước ngoài, nhất là K-pop (pop Hàn Quốc).
Với số người trẻ hâm mộ dòng nhạc này, họ say mê ngay cả khi họ không hiểu ca từ, chỉ
cần vũ điệu sôi động và ca sĩ đẹp. Các hiện tượng đó cho thấy sự thiếu hụt nghiêm trọng
biên tập viên về lối sống của tờ tạp chí The Futurist (Hoa Kỳ) cũng nhận xét rằng: “... hiện
đại hóa văn hóa sẽ tiếp tục tấn công các nền văn hóa truyền thống của thế giới, khuấy
động những bất ổn về chính trị, căng thẳng về tâm lý và xung đột xã hội khắp nơi.”
Thứ ba, toàn cầu hóa văn hóa dẫn đến xung đột giữa hệ tư tưởng tư sản phương
Tây với hệ tư tưởng của mỗi nước đang phát triển. Mỗi nước đang phát triển thường là có
hệ tư tưởng đặc thù riêng mà, dù là tiến bộ hay phản động, thường là có những khía cạnh
khác với hệ tư tưởng tư sản phương Tây. Do đó, xung đột giữa hai loại hệ tư tưởng này là
điều dễ xảy ra. Đây là điều mà các nước đang phát triển cần phải tỉnh táo ứng phó. Thứ tư,
toàn cầu hóa văn hóa gây nên xung đột giữa sự xâm nhập ồ ạt của thị trường văn hóa toàn
cầu với cơ chế quản lý văn hóa truyền thống của một nước đang phát triển. Trước sức tấn
công mạnh mẽ của thị trường văn hóa toàn cầu, một nước kém phát triển với cơ chế quản
lý hành chính mệnh lệnh, thiếu kinh nghiệm trong kinh doanh theo cơ chế thị trường, rất
dễ gặp phải lúng túng. Đây là một vấn đề bức xúc của một nước đang phát triển.
Theo lý thuyết hành động xã hội của Max Weber, mọi hành động xã hội đều được
các động cơ thúc đẩy, dẫn dắt tạo ra các định hướng nhất định để đạt được mục đích. Áp
dụng lí thuyết này để giải thích sự biến đổi xã hội trong lĩnh vực nghệ thuật hiện nay cho
thấy, ngoài tác động của nền kinh tế thị trường thì sự biến đổi còn được lí giải bởi động cơ
gắn liền với mục đích và nhu cầu của chủ thể. Chủ thể ở đây là nhà sản xuất, các tổ chức
đồng tài trợ cho chương trình và những người sản xuất thứ hai là những diễn viên, ca sĩ
biểu diễn trên sân khấu.
Chạy theo cơ chế thị trường hiện nay, trong bất kì một lĩnh vực nào, mục đích cuối
cùng vẫn là lợi nhuận. Để đạt được mục đích ấy con người thậm chí sử dụng những động
cơ không mấy lành mạnh, không phù hợp với thuần phong mĩ tục của dân tộc. Chính
những động cơ đó đã tác động và làm biến đổi nhận thức, hành động của họ. Có thể lấy sự
biến đổi trong lĩnh vực sân khấu, điện ảnh minh chứng cho điều này. Từ trước đến nay
người ta vẫn luôn đề cao và trân trọng nền nghệ thuật vị nghệ thuật, tức là lấy cái đẹp làm
chuẩn mực, làm thang đo để đánh giá óc thẩm mĩ, sự sáng tạo của người thưởng thức nghệ
thuật. Người sáng tác nghệ thuật chân chính không quan tâm đến mặt thực dụng mà luôn
lấy cá đẹp làm cứu cánh, là mục đích tối cùng. Nhưng xã hội thay đổi, con người càng có
15
sản phẩm văn hóa - nghệ thuật chỉ diễn ra khi người sáng tạo, sản xuất và phân phối các
sản phẩm đó bị chi phối bởi quy luật của lợi nhuận. Có nghĩa là khi các nhà văn, người
nghệ sĩ, các nhà xuất bản, các hiệu sách, các đại lý băng đĩa, các tờ báo, các đài phát
thanh, truyền hình,... chỉ nhằm mục tiêu lợi nhuận mà quên đi chức năng xã hội to lớn của
mình là mang lại cho xã hội những giá trị tinh thần cao đẹp, thì lúc đó có sự xuất hiện
thương mại hóa. Đồng tiền, với thuộc tính lạnh lùng và vô cảm, sẽ làm nguội lạnh trái tim
và óc sáng tạo của người nghệ sĩ, làm suy thoái lương tâm của người quản lý, người phổ
biến các sản phẩm văn hóa - nghệ thuật. Ngày nay nghệ thuật tìm đến khán giả như một
cách để tăng lợi nhuận chứ không phải khán giả tìm đến nghệ thuật bởi sự hấp dẫn của nó.
Điều này tất yếu làm nền tảng cho một nền nghệ thuật giả tạo được hình thành. Phía sau
ánh đền sân khấu có nhiều chiêu trò biểu diễn che mắt khán giả. Tất cả đều xuất phát từ
động cơ và mục đích của con người. Nghệ thuật dưới động cơ và mục đích của người sản
16
xuất đã biến thành cái gì đó thực dụng chứ không phải là cái đẹp chân chính phục vụ thị
hiếu của người thưởng thức.
Thế nhưng, bản chất của sự sáng tạo văn hóa, nghệ thuật không đồng nhất với sự
sản xuất các hàng hóa vật chất. Sản phẩm văn hóa nghệ thuật cũng là tài sản, nhưng nó có
thước đo riêng, có quy trình sáng tạo riêng so với quá trình sản xuất các tài sản vật chất.
Sự sản xuất hàng hóa vật chất được quy định chủ yếu bởi kỹ thuật và công nghệ. Người
lao động không thể để lại dấu ấn trong các sản phẩm do mình làm ra. Bằng chứng là khi
những người lao động khác nhau cùng điều khiển một cỗ máy như nhau và cùng sản xuất
một mặt hàng như nhau, thì những sản phẩm do họ làm ra đều giống hệt nhau. Nhưng
trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật thì khác. Quá trình sáng tạo nghệ thuật là quá trình
chuyển tải toàn bộ thế giới tinh thần của người nghệ sĩ vào tác phẩm. Do quy trình sáng
tạo của nghệ thuật khác với quy trình sản xuất các hàng hóa vật chất, nên tác phẩm văn
hóa - nghệ thuật cũng có thước đo khác với các hàng hóa vật chất. Người ta có thể tính ra
giá thành một sản phẩm vật chất cụ thể, nếu biết được để sản xuất ra thứ hàng hóa đó cần
bao nhiêu nguyên nhiên liệu, bao nhiêu thời gian lao động cần thiết và khấu hao máy móc
Con người được trải nghiệm qua những phút giây vui, buồn, sung sướng, lo âu, đau khổ, căm
giận, ngưỡng mộ, yêu thương... Những tác phẩm âm nhạc chân chính sẽ thức tỉnh lòng người,
sẽ làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn, sẽ giúp cho chúng ta ngày một tiến lên, hướng về phía
tuyệt mỹ chứ không phải lui dần vào chỗ tầm thường, thô thiển, nông cạn. Chính vì thế, sự
hội nhập, giao lưu âm nhạc sẽ giúp cho mọi người dân trên đất nước Việt Nam nói riêng và
trên thế giới nói chung được thưởng thức cái hay, cái đẹp, cái tinh túy của mỗi dân tộc để từ
đó đời sống tinh thần của con người ngày càng phong phú, đa dạng hơn.
Bên ca ̣nh đó viê ̣c giao lưu văn hóa âm nha ̣c còn ta ̣o điề u kiê ̣ n cho âm nha ̣c Viê ̣t
Nam đươ ̣c ba ̣n bè quố c tế biế t đế n . Có thể kể đến một số tác phẩm âm nhạc Việt Nam
đươ ̣c dich
̣ sang các tiế ng nước ngoài như Bài hát “Nố i vòng tay lớn” đươ ̣c ông Richar
Fuller nha ̣c si ̃ người Mỹ say mê nha ̣c Triṇ h Viê ̣t Nam dich
̣ ra tiế ng anh và đươ ̣c nhiề u
người yêu thích và đón nhâ ̣n , tiế p nữa là bài “Nhâ ̣t ký của me ̣” do nha ̣c si ̃ Quố c Trung
sáng tác, bài hát này được nhạc sĩ người Nhật phổ lời Nhật và khi hát bên nước Nhật thì
có rất nhiều khán giả yêu thích và ủng hộ . Từ đó chúng ta thấ y rằ ng âm nha ̣c Viê ̣t đã đươ ̣c
ngày càng phát triển với sự ủng hộ không chỉ trong nước mà cả nước ngoài điều đó cho
thấ y âm nha ̣c Viê ̣t vẫn còn rấ t giá tri .̣
Ngoài ra, chúng ta không thể không thừa nhận âm nhạc giữ vị trí cần thiết trong việc
thỏa mãn nhu cầu giải trí. Nhất là trong đời sống hiện nay, con người chủ yếu lao động trí óc,
căng thẳng, dồn nén, sức ép dễ chứng stress. Xã hội càng hiện đại, nhu cầu giải trí càng trở
nên phong phú, sinh động hơn, càng trở thành một nhu cầu to lớn và cấp thiết. Thực chất, giải
trí là một hình thức thay đổi tính chất lao động của con người nhằm giải tỏa những mệt mỏi,
ức chế và phục hồi sức khỏe, đưa cơ thể trở lại trạng thái mạnh khỏe toàn diện cả về thể lực
lẫn tinh thần. Giải trí cũng chính là cách nghỉ ngơi tích cực tác động chủ yếu vào tinh thần của
con người. Giải trí cũng chính là yêu cầu điều kiện để con người hiện đại sử dụng thời gian
rỗi một cách có hiệu quả. Trong điều kiện mở cửa, đẩy mạnh giao lưu và hợp tác quốc tế, các
hoạt động giao lưu âm nhạc sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu tinh thần ngày càng cao của xã hội,
tạo nên các sinh hoạt văn hóa đa dạng, phong phú, nhất là của thanh thiếu niên. Đồng thời nó
góp phần vào củng cố và tăng cường tình hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc, làm động lực
những trang phục biểu diễn phản cảm đã gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến giới trẻ. Thời
gian gần đây chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp các cô gái đi trên phố với những bộ quần áo
hở hang như áo hai dây, quần sooc ngắn hay những chiếc váy trong suốt… hay các chàng
trai mặc những bộ đồ bó sát, đủ màu sắc sặc sỡ, lòe loẹt. Như vậy, trang phục biểu diễn
phản cảm của nghệ sĩ đã góp phần làm cho phong cách ăn mặc của giới trẻ trở nên thoáng
hơn, kì quái, lố bịch hơn.
Ngày nay, sự hời hợt, dễ dãi và tính thương mại hóa trong văn hóa nghệ thuật làm
cho khán giả - những người thưởng thức nghệ thật không còn coi trọng các giá trị nghệ
thuật đích thực nữa. Khán giả bây giờ dường như không quan tâm đến giọng hát của các
ca sĩ mà họ chú trọng hơn vào ngoại hình của ca sĩ, họ không để ý đến nội dung bài hát có
ý nghĩa hay không mà họ chỉ thích những bài hát nghe vui tai, sôi động. Những thói quen
xấu trong cách thưởng thức nghệ thuật của một bộ phận khán giả như đã nêu ở trên nếu
không có những biện pháp khắc phục sẽ hình thành một “văn hóa” thưởng thức “không có
văn hóa”. Các bài hát có nội dung nhạt nhẽo với ca từ dễ dãi, thiếu lành mạnh thậm chí tục
tĩu vẫn được phát tán, lan truyền ảnh hưởng xấu đến đời sống tinh thần của giới trẻ, làm
giới trẻ có những quan điểm sống lệch lạc. Với lớp trẻ, do những yếu tố làm nên thị hiếu
thẩm mỹ còn chưa sâu sắc, chưa cơ bản, cho nên khả năng đánh giá, sự lựa chọn thẩm mỹ
chưa định hình rõ nét. Vì thế, xã hội và thế hệ đi trước cần giúp họ từng bước hình thành
thị hiếu thẩm mỹ, chứ không thể chỉ có chạy theo để thỏa mãn nhu cầu, sở thích của họ.
Ngay cả khi trong lớp trẻ hình thành các nhóm sở thích, cũng không nên coi đó là một
trong các tiêu chuẩn sáng tạo nghệ thuật; vì sở thích ấy thường tương tự như một thứ trào
lưu, không phải khi nào cũng được dẫn dắt bởi một lý tưởng thẩm mỹ đúng đắn, lành
mạnh.
Một tác động tiêu cực nữa của sự biến đổi đó là thị trường âm nhạc đặt trên yếu tố
chính: cung - cầu đã cuốn hút người nghệ sĩ vào vòng quay của nó và làm cho người nghệ
19
sĩ lệ thuộc quá nhiều vào thị trường, ít người thoát được xoáy của cơn lốc này để làm
những gì mà mình thích, mình muốn nhằm có những cống hiến thật sự cho nghệ thuật.
chuyến thăm chính thức Việt Nam đã phát biểu: “Nhân dân Băngladesh còn nhớ mãi những
nghệ sĩ xinh đẹp với những chương trình biểu diễn nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam đã để lại
nhiều ấn tượng khó quên trong lòng khán giả”.
Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc thông qua tạo dựng, bồi đắp và gìn
giữ hệ giá trị văn hoá đóng một vai trò quan trọng với bất cứ một dân tộc, đất nước nào.
Đó chính là sự khác biệt, căn cước, bản lĩnh của xã hội mà hệ giá trị đó tồn tại. Từ nền
tảng truyền thống, những giá trị văn hóa cổ truyền đã được bảo tồn và phát huy cho đến
nay, đang tạo ra hệ giá trị văn hóa mới của thời hiện đại. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt
tích cực, chúng ta còn gặp vô vàn những mặt tiêu cực và thách thức. Đặc biệt là sự hội
20
nhập toàn diện, quá nhanh chóng với bên ngoài đã tạo nên những cú sốc văn hóa, để rồi
xuất hiện hành vi lệch chuẩn trong đời sống xã hội, có tác động tiêu cực tới quan niệm,
cách suy nghĩ và lối sống của con người Việt Nam. Bên cạnh đó những giá trị văn hóa
trong bối cảnh hiện đại lại chưa định hình rõ ràng hoặc đang trong thời kỳ định hình, thiếu
trải nghiệm thực tế; nhiều quan niệm, giá trị đang chỉ hình thành trên lý thuyết, cần thực tế
chứng minh tính ưu việt, đúng đắn của nó. Đồng thời, nhiều hệ giá trị truyền thống không
còn phù hợp với bối cảnh của thời đại đang dần bị đào thải, mất đi; nếu không bản thân nó
cũng có những biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ. Việc tìm ra hệ giá trị văn hóa Việt Nam; cấu
trúc, phân loại hệ giá trị văn hóa; sự chuyển đổi giá trị văn hóa trong văn hóa nghệ thuật
Việt Nam, bảo tồn hệ giá trị văn hóa truyền thống trong văn hóa nghệ thuật Việt Nam
trong phát triển xã hội; những giải pháp để phát huy những giá trị văn hóa Việt Nam... là
rất cần thiết.
Làm thế nào để nâng cao trình độ thưởng thức của công chúng, giữ được nền văn
hóa đậm đà bản sắc nhưng cũng không ngừng tiếp thu học hỏi những sự đa dang, phong
phú của văn hóa thế giới? Câu trả lời nằm ngay ở chính công chúng. Công chúng không
chỉ là chủ thể thưởng thức nghệ thuật mà còn có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và
phổ biến đại chúng của tác phẩm nghệ thuật. Nền nghệ thuật của một dân tộc chỉ có thể
phát triển và thăng hoa khi mỗi công dân biết tôn trọng những sáng tạo nghệ thuật và có
tính. Ngày nay, thực tiễn nghệ thuật đã đổi khác, những chủ đề, nội dung của các tác
phẩm nghệ thuật không chỉ được nhìn nhận trong tính thống nhất toàn thể, tính ổn định,
tính hợp lý, mà còn được được nhìn nhận dưới góc độ của hoàn cảnh tạm thời, ngẫu
nhiên. Thực tiễn này mở ra sự đa dạng trong khuynh hướng sáng tạo, tiếp nhận nghệ thuật,
tạo điều kiện cho công chúng tự do lựa chọn cho mình khuynh hướng thẩm mỹ riêng
không đóng khung trong phạm vi của một quốc gia, dân tộc mà mở rộng ra rất nhiều loại
hình nghệ thuật mới. Trước những thay đổi trong tiếp nhận nghệ thuật của công chúng,
bên cạnh việc nhà nước tập trung đầu tư và khuyến khích phát triển nghệ thuật truyền
thống, cần phải khuyến khích, hỗ trợ các loại hình nghệ thuật mới, mở rộng thời lượng
cũng như đa dạng hóa các nội dung, hình thức đối với các chương trình văn hóa nghệ
thuật tại hệ thống các đài phát thanh truyền hình, cơ quan báo chí, các nhà xuất bản, các
hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp và quần chúng làm cho khối lượng và chất lượng sản
phẩm văn hóa được tăng nhanh và có tính định hướng, hấp dẫn đáp ứng được nhu cầu thị
hiếu của người dân hiện nay, có tác dụng tuyên truyền giáo dục nhận thức về văn hóa
thẩm mỹ. Điều này là phù hợp và cần thiết trong quá trình hội nhập, giao lưu để phát triển
văn hóa trong thời đại truyền thông. Quan trọng hơn là sự thay đổi tư duy, việc sản xuất
nghệ thuật cần phải thoát khỏi xu hướng chạy theo những giá trị ảo, dàn dựng thật hoành
tráng để kiếm tìm huy chương, giải thưởng,… mà chú ý nhiều hơn tới hiệu ứng với công
chúng, đi đúng định hướng khi “bán” cái công chúng “cần” chứ không phải chỉ “bán”
những gì mình “có”. Nhiều vở diễn tham dự các kỳ liên hoan, nhiều festival âm nhạc đã
đủ sức chinh phục khán giả. Tóm lại, việc nghiên cứu tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu văn
hóa của người dân là vô cùng cần thiết, góp phần xây dựng đời sống văn hóa tinh thần
lành mạnh, phong phú của xã hội.
III. KẾT LUẬN
Nhân loại đang bước sang thiên niên kỷ thứ ba, xu thế giao lưu, hội nhập, toàn cầu
hoá kinh tế đang diễn ra sôi động trên toàn thế giới. Hòa chung vào dòng chảy nhân loại,
Việt Nam đã và đang từng bước đi lên trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hóa, mở
rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết
hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại, ra sức thực hiện thành công chủ nghĩa xã
nhất của nền văn hóa nghệ thuật biểu diễn thế giới.
Bài học từ những nước đang phát triển cho thấy, với sự mở cửa hướng ngoại tập
trung vào kinh tế thì văn hóa truyền thống dễ bị xem thường. Sự du nhập ào ạt, thiếu chọn
lọc các sản phẩm văn hóa từ bên ngoài dẫn đến tình trạng tha hóa, lai căng và hủy hoại các
giá trị văn hóa nền tảng tinh thần của xã hội, khoét sâu thêm hố ngăn cách giữa tăng
trưởng kinh tế với phát triển văn hóa. Có một nhận định thật chí lý rằng, kinh tế mất đi có
thể lấy lại được, còn văn hóa nếu mất đi là mất luôn, vĩnh viễn. Xuất phát từ yêu cầu hiện
đại hóa đất nước trong quá trình mở cửa, hội nhập, giao lưu với nước ngoài, chúng ta vừa
phải biết kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; vừa phải đấu
tranh chống sự xâm nhập của các loại văn hóa độc hại, những khuynh hướng sùng ngoại,
lai căng, mất gốc; vừa ra sức tiếp thu tinh hoa văn hóa của loài người để hình thành nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ngang tầm thời đại.
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trần Văn Bính, 2013, Thương mại hóa và văn hóa.
< [Ngày truy cập 19 tháng 10 năm 2014].
2) Nguyễn Văn Dân, 2006, Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nhà
xuất bản khoa học xã hội, 98 -128.
3) Lê Hương, 2011, Sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật trong thời đại truyền thông.
< [Ngày truy cập 10 tháng 10 năm 2014].
4) Phan Hồng Giang, 2011, Toàn cầu hóa và vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc.
< . [Ngày truy cập 19 tháng 10 năm 2014].
5) Nguyễn Thanh Liêm, 2010, Những biến đổi trong văn hóa Việt Nam.
< />[Ngày truy cập 9 tháng 10 năm 2014].
6) Dương Xuân Sơn, 2007, Toàn cầu hóa – Những mặt tích cực và tiêu cực, ảnh
hưởng của nó đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, Khoa Báo chí
– ĐHKHXH&NV, Hà Nội.