TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG
CHUẨN HÓA BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH XÃ XUÂN LỘC HUYỆN THANH THỦY-TỈNH PHÚ THỌ
Giáo viên hướng dẫn
: Th.S Tăng Thị Thanh Nhàn
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Thị Thu Hà
Chuyên ngành
: Quản Lý Đất Đai
MSV
: DH00301031
Lớp
: ĐH3QĐ3
Năm 2017
Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp khó tránh khỏi sai sót, em
mong nhận được ý kiến đóng quý báu của thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn!
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo Hiến pháp năm 2013 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Đồng thời khẳng định đất đai là tài nguyên
đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo
pháp luật. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định.
Để quản lý, sử dụng đất đai một cách hiệu quả, trước hết cần phải nắm chắc được
số lượng, chất lượng của từng loại đất, của từng khu vực khác nhau, do đó việc quản lý
nhà nước đối với đất là một hoạt động không thể thiếu được trong xã hội.
Bản đồ địa chính là bản đồ chuyên ngành đất đai, trên bản đồ thể hiện chính xác
vị trí, ranh giới, diện tích và một số thông tin địa chính của từng thửa đất, từng vùng
đất. Bản đồ địa chính còn thể hiện các yếu tố địa lý khác liên quan đến đất đai. Bản đồ
địa chính được thành lập theo đơn vị hành chính cơ sở xã, phường, thị trấn và thống
nhất trong phạm vi cả nước.
Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản nhất của bộ hồ sơ địa chính, mang tính pháp lý
cao phục vụ quản lý chặt chẽ đất đai đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất. Bản đồ
địa chính làm cơ sở để thực hiện một số nhiệm vụ trong công tác quản lý nhà nước về
đất đai.
Tuy nhiên hiện nay bản đồ địa chính ở một số địa phương không đáp ứng được
những quy định về bản đồ địa chính mới nhất theo thông tư số 25/2014/TT-BTNMT
ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường gây khó khăn trong công
tác quản lý đất đai do vậy cần phải có biện pháp sửa đổi bản đồ địa chính cho đúng với
quy chuẩn.
Chi phí thành lập mới bản đồ địa chính của một xã phường thị trấn hiện nay
tương đối cao mà ngân sách của địa phương thì có hạn do vậy để tiết kiệm chi phí
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Bản đồ địa chính
1.1.1. Khái niệm về bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là bản đồ chuyên ngành đất đai, trên bản đồ thể hiện chính xác
vị trí, ranh giới, diện tích và một số thông tin địa chính của từng thửa đất, từng vùng
đất. Bản đồ địa chính còn thể hiện các yếu tố địa lý khác liên quan đến đất đai. Bản đồ
địa chính được thành lập theo đơn vị hành chính cơ sở xã, phường, thị trấn và thống
nhất trong phạm vi cả nước. Bản đồ địa chính được xây dựng trên cơ sở kỹ thuật và
công nghệ ngày càng hiện đại, nó đảm bảo cung cấp thông tin không gian của đất đai
phục vụ công tác quản lý đất.
6
Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản nhất của bộ hồ sơ địa chính, mang tính pháp lý
cao phục vụ quản lý chặt chẽ đất đai đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất. Bản đồ
địa chính khác với bản đồ chuyên ngành thông thường ở chỗ bản đồ địa chính có tỷ lệ
lớn và phạm vi đo vẽ là rộng khắp mọi nơi trên toàn quốc. Bản đồ địa chính thường
xuyên được cập nhật các thay đổi hợp pháp của đất đai, có thể cập nhật hàng ngày
hoặc xây dựng bản đồ địa chính đa chức năng, vì vậy bản đồ địa chính còn có tính chất
của bản đồ cơ bản quốc gia.
Bản đồ địa chính được dùng làm cơ sở để thực hiện một số nhiệm vụ trong công
tác quản lý nhà nước về đất đai như:
- Thống kê đất đai.
- Giao đất sản xuất Nông nghiệp, Lâm nghiệp.
- Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ở và sở hữu Nhà ở.
- Xác nhận hiện trạng và theo dõi biến động về quyền sử dụng đất.
- Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cải tạo đất, thiết kế xây dựng các điểm
dân cư, quy hoạch giao thông, thuỷ lợi.
- Lập hồ sơ thu hồi đất khi cần thiết.
đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan; lập theo khu
vực trong phạm vi một hoặc một số đơn vị hành chính cấp xã, trong một phần hay cả
đơn vị hành chính cấp huyện hoặc một số huyện trong phạm vi một tỉnh hoặc một
thành phố trực thuộc Trung ương, được cơ quan thực hiện và cơ quan quản lý đất đai
cấp tỉnh xác nhận. Bản đồ địa chính gốc là cơ sở để thành lập bản đồ địa chính theo
đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã). Các nội dung đã
được cập nhật trên bản đồ địa chính cấp xã phải được chuyển lên bản đồ địa chính gốc.
- Bản đồ địa chính: Là bản đồ thể hiện trọn các thửa đất và các đối tượng chiếm
đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố
địa lý có liên quan; lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan thực
hiện, Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận.
8
Bản đồ địa chính được lập cho từng đơn vị hành chính cấp xã, là tài liệu quan
trọng trong bộ hồ sơ địa chính, trên bản đồ thể hiện vị trí, hình thể, diện tích, số thửa
và loại đất của từng chủ sử dụng đất. Đáp ứng được yêu cầu quản lý đấy đai của Nhà
nước ở tất cả các cấp Xã, Huyện, Tỉnh và Trung ương.
Ranh giới, diện tích, mục đích sử dụng (loại đất) của thửa đất thể hiện trên bản
đồ địa chính được xác định theo hiện trạng sử dụng đất. Khi đăng ký quyền sử dụng
đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ranh giới, diện tích, mục đích sử dụng
đất có thay đổi thì phải chỉnh sửa bản đồ địa chính thống nhất với số liệu đăng ký
quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Trích đo địa chính: Là đo vẽ lập bản đồ địa chính của một khu đất hoặc thửa đất
tại các khu vực chưa có bản đồ địa chính hoặc đã có bản đồ địa chính nhưng chưa đáp
ứng một số yêu cầu trong việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, đền bù, giải phóng
mặt bằng, đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Bản trích đo địa chính, mảnh bản đồ trích đo, bản đồ trích đo (gọi chung là bản
trích đo địa chính): Là bản đồ thể hiện trọn một thửa đất hoặc trọn một số thửa đất liền
thì tư liệu địa chính có hiệu lực pháp lý và là cơ sở pháp lý về quyền sở hữu, quyền sử
dụng đất đai và bất động sản.
- Chức năng định thuế: Đây là chức năng nguyên thuỷ và cơ bản của địa chính.
Trước hết là nhận dạng vị trí, ranh giới, sau đó là xác định nội dung, đánh giá, phân
hạng, định giá nhà đất, xác định mức thuế, tính toán các khoản thuế.
1.1.3. Quản lý địa chính (bỏ)
Là hệ thống các biện pháp giúp cơ quan nhà nước nắm chắc được các thông tin
đất đai, quản lý được quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho
người sở hữu và sử dụng đất.
Nội dung quản lý địa chính bao gồm: Điều tra đất đai, đo đạc, lập bản đồ địa
chính, đăng ký đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phân loại, phân hạng, định
giá đất…
Nguyên tắc quản lý:
- Quản lý địa chính tiến hành theo quy chế thống nhất do nhà nước đề ra, được cụ thể
hoá bằng các văn bản pháp luật như luật, nghị định, thông tư…
- Tư liệu địa chính phải đảm bảo tính nhất quán, liên tục và hệ thống;
- Đảm bảo độ chính xác và có độ tin cậy cao;
- Đảm bảo tính khái quát và tính hoàn chỉnh.
1.2. Nội dung và phương pháp của Bản đồ địa chính
1.2.1. Nội dung Bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là tài liệu chủ yếu trong bộ hồ sơ địa chính, vì vậy trên bản đồ
cần thể hiện đầy đủ các yếu tố đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai.
a) Các yếu tố nội dung chính thể hiện trên bản đồ địa chính gồm:
10
- Khung bản đồ;
- Điểm khống chế toạ độ, độ cao Quốc gia các hạng, điểm địa chính, điểm khống
chế ảnh ngoại nghiệp, điểm khống chế đo vẽ có chôn mốc ổn định;
- Mốc địa giới hành chính, đường địa giới hành chính các cấp;
hợp chưa xác định được đường mép nước biển triều kiệt thì trên bản đồ địa chính thể
hiện ranh giới sử dụng đất đến tiếp giáp với mép nước biển ở thời điểm đo vẽ bản đồ
địa chính;
+) Khi phát hiện có sự mâu thuẫn giữa địa giới hành chính thể hiện trên hồ sơ địa
giới hành chính và đường địa giới các cấp thực tế đang quản lý hoặc có tranh chấp về
đường địa giới hành chính thì đơn vị thi công phải báo cáo bằng văn bản cho cơ quan
tài nguyên và môi trường cấp huyện và cấp tỉnh để trình cơ quan có thẩm quyền giải
quyết. Trên bản đồ địa chính thể hiện đường địa giới hành chính theo hồ sơ địa giới
hành chính (ký hiệu bằng màu đen) và đường địa giới hành chính thực tế quản lý (ký
hiệu bằng màu đỏ) và phần có tranh chấp.
Trường hợp đường địa giới hành chính các cấp trùng nhau thì biểu thị đường địa
giới hành chính cấp cao nhất;
+) Sau khi đo vẽ bản đồ địa chính phải lập Biên bản xác nhận thể hiện địa giới
hành chính giữa các đơn vị hành chính có liên quan theo mẫu quy định tại Phụ lục số
09 kèm theo Thông tư này. Trường hợp có sự khác biệt giữa hồ sơ địa giới hành chính
và thực tế quản lý thì phải lập biên bản xác nhận giữa các đơn vị hành chính có liên
quan.
- Mốc giới quy hoạch; chỉ giới hành lang bảo vệ an toàn giao thông, thuỷ lợi, đê
điều, hệ thống dẫn điện và các công trình công cộng khác có hành lang bảo vệ an toàn:
các loại mốc giới, chỉ giới này chỉ thể hiện trong trường hợp đã cắm mốc giới trên thực
địa hoặc có đầy đủ tài liệu có giá trị pháp lý đảm bảo độ chính xác vị trí điểm chi tiết
của bản đồ địa chính.
- Đối tượng thửa đất
+) Thửa đất được xác định theo phạm vi quản lý, sử dụng của một người sử dụng
đất hoặc của một nhóm người cùng sử dụng đất hoặc của một người được nhà nước
giao quản lý đất; có cùng mục đích sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai;
+) Đỉnh thửa đất là các điểm gấp khúc trên đường ranh giới thửa đất; đối với các
đoạn cong trên đường ranh giới, đỉnh thửa đất trên thực địa được xác định đảm bảo
khoảng cách từ cạnh nối hai điểm chi tiết liên tiếp đến đỉnh cong tương ứng không lớn
Điều 64 của Luật Đất đai thì ngoài việc thể hiện loại đất theo hiện trạng còn phải thể
hiện thêm loại đất theo giấy tờ đó trên một lớp (level) khác; đơn vị đo đạc có trách
nhiệm tổng hợp và báo cáo cơ quan tài nguyên và môi trường cấp có thẩm quyền cấp
Giấy chứng nhận về những trường hợp thửa đất có loại đất theo hiện trạng khác với
loại đất trên giấy tờ tại thời điểm đo đạc.
13
Trường hợp thửa đất sử dụng vào nhiều mục đích thì phải thể hiện các mục đích
sử dụng đất đó. Trường hợp thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở đã được Nhà nước
công nhận (cấp Giấy chứng nhận) toàn bộ diện tích thửa đất là đất ở thì thể hiện loại
đất là đất ở.
- Các đối tượng nhân tạo, tự nhiên có trên đất
+) Ranh giới chiếm đất của nhà ở và các công trình xây dựng trên mặt đất được
xác định theo mép ngoài cùng của tường bao nơi tiếp giáp với mặt đất, mép ngoài
cùng của hình chiếu thẳng đứng lên mặt đất của các kết cấu xây dựng trên cột, các kết
cấu không tiếp giáp mặt đất vượt ra ngoài phạm vi của tường bao tiếp giáp mặt đất
(không bao gồm phần ban công, các chi tiết phụ trên tường nhà, mái che).
Ranh giới chiếm đất của các công trình ngầm được xác định theo mép ngoài cùng
của hình chiếu thẳng đứng lên mặt đất của công trình đó.
+) Hệ thống giao thông biểu thị phạm vi chiếm đất của đường sắt, đường bộ (kể cả
đường trong trong khu dân cư, đường trong khu vực đất nông nghiệp, lâm nghiệp phục vụ
mục đích công cộng) và các công trình có liên quan đến đường giao thông như cầu, cống,
hè phố, lề đường, chỉ giới đường, phần đắp cao, xẻ sâu.
+) Hệ thống thuỷ văn biểu thị phạm vi chiếm đất của sông, ngòi, suối, kênh,
mương, máng và hệ thống rãnh nước. Đối với hệ thống thuỷ văn tự nhiên phải thể hiện
đường bờ ổn định và đường mép nước ở thời điểm đo vẽ hoặc thời điểm điều vẽ ảnh.
Đối với hệ thống thuỷ văn nhân tạo thì thể hiện ranh giới theo phạm vi chiếm đất của
công trình.
giới phân chia không ổn định, có các phần được sử dụng vào các mục đích khác nhau,
trồng cây khác nhau, mức tính thuế khác nhau, thậm chí thường xuyên thay đổi chủ sử
dụng đất. Loại thửa này gọi là thửa đất phụ đơn vị tính thuế.
Lô đất: Là vùng đất có thể gồm một hoặc nhiều loại đất. Thông thường lô đất
được giới hạn bởi các con đường kênh mương, sông ngòi. Đất đai được chia lô theo
điều kiện địa lý khác nhau như có cùng độ cao, độ dốc, theo điều kiện giao thông, thuỷ
lợi, theo mục đích sử dụng hay cùng loại cây trồng.
Khu đất, xứ đồng: Đó là vùng đất gồm nhiều thửa đất, nhiều lô đất. Khu đất và
xứ đồng thường có tên gọi riêng được đặt từ lâu.
Thôn, bản, xóm, ấp: Đó là các cụm dân cư tạo thành một cộng đồng người cùng
sống và lao động sản xuất trên một vùng đất. Các cụm dân cư thường có sự gắn kết
mạnh về các yếu tố dân tộc, tôn giáo nghề nghiệp...
Xã, phường: Là đơn vị hành chính cơ sở gồm nhiều thôn, bản hoặc đường phố.
Đó là đơn vị hành chính có đầy đủ các tổ chức quyền lực để thực hiện chức năng quản lý
nhà nước một cách toàn diện đối với các hoạt động về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội
trong phạm vi lãnh thổ của mình.
15
1.2.3. Các phương pháp thành lập Bản đồ địa chính
Để thành lập bản đồ địa chính người ta có thể sử dụng các phương pháp sau:
- Đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa.
- Biên tập từ bản đồ địa hình cùng tỷ lệ.
- Đo vẽ trên ảnh hàng không.
- Chuẩn hóa dữ liệu địa chính
a) Đo vẽ bản đồ địa chính bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở ngoài thực địa
Thành lập bản đồ địa chính bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp tại thực địa, phụ
thuộc vào thiết bị kỹ thuật sử dụng, có thể chia ra làm hai phương pháp cơ bản:
- Phương pháp toàn đạc.
- Phương pháp bàn đạc.
Đối với công tác quản lý đất đai, dữ liệu bản đồ là thành phần cơ bản trong cơ sở
dữ liệu đất đai, được sử dụng để quản lý vị trí không gian của thửa đất. Thực trạng
quản lý dữ liệu bản đồ ở Bắc Ninh hiện nay cho thấy các bản đồ đang được sử dụng
với nhiều định dạng khác nhau như: dạng giấy, bản kẽm, dạng số.
Bản đồ đã lưu ở dạng số hiện nay vẫn còn chưa có định dạng thống nhất, còn tồn
tại nhiều dạng như: dgn, dxf, dwg .v.v. Dữ liệu số được xây dựng từ nhiều nguồn khác
nhau như do can vẽ, do số hóa lại từ bản giấy hoặc do đo vẽ trực tiếp bằng công nghệ
số. Vì vậy, nội dung bản đồ chưa được chuẩn hóa theo một chuẩn thống nhất theo quy
định của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Vấn đề đặt ra là phải xem xét biện pháp định
chuẩn và chuẩn hoá dữ liệu như thế nào để thu được một CSDL thống nhất.
Hình 1.1. Quy trình cơ bản cho công tác chuẩn hóa dữ liệu bản đồ
Công tác chuẩn hóa dữ liệu bản đồ được thực hiện theo nhiều công đoạn phức tạp
như : Chuẩn lại các lớp bản đồ thống nhất giữa các mảnh bản đồ, cắt ghép các mảnh
theo ranh giới hành chính xã, tiếp biên giữa các mảnh bản đồ, chuẩn lại cách đánh số
thửa, kiểm tra topology, làm trơn đường, cắt bỏ các đoạn thừa của các đường tại các
17
điểm giao nhau, xóa đường bị trùng nhau (Duplicate), nối các đoạn hở của đường,
chuyển hệ tọa độ.
1.2.4. Bản đồ địa chính dạng số
1.2.4.1. Khái niệm về bản đồ số
Bản đồ số là một tập hợp có tổ chức các dữ liệu bản đồ trên thiết bị có khả năng
đọc bằng máy tính và được thể hiện dưới dạng hình ảnh bản đồ.
Bản đồ số bao gồm các thành phần cơ bản sau:
- Thiết bị ghi dữ liệu
- Máy tính
- Cơ sở dữ liệu bản đồ
Bản đồ số được tổ chức và lưu trữ gọn nhẹ, khác với bản đồ truyền thống ở chỗ :
thông tin.
1.2.5. Hệ thống tỷ lệ bản đồ địa chính
Chọn tỷ lệ đo vẽ bản đồ địa chính: Phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ của công
tác quản lý đất đai, giá trị kinh tế sử dụng đất, mức độ khó khăn về giao thông, về kinh
tế, về mức độ chia cắt địa hình, về độ che khuất, về quan hệ xã hội… của từng khu
vực, mật độ thửa trung bình trên một (01) ha, quy hoạch phát triển kinh tế, quy hoạch
sử dụng đất của từng khu vực trong đơn vị hành chính để lựa chọn tỷ lệ đo vẽ cho phù
hợp. Không nhất thiết trong mỗi đơn vị hành chính xã phải lập bản đồ địa chính ở cùng
một tỷ lệ nhưng phải xác định tỷ lệ cơ bản cho đo vẽ bản đồ địa chính ở mỗi đơn vị
hành chính xã.
Tỷ lệ cơ bản đo vẽ bản đồ địa chính quy định như sau:
a) Khu vực đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối,
đất nông nghiệp khác : tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:2000 và 1:5000. Đối với khu vực đất
sản xuất nông nghiệp mà phần lớn các thửa đất nhỏ, hẹp hoặc khu vực đất nông
nghiệp xen kẽ trong khu vực đất đô thị, trong khu vực đất ở chọn tỷ lệ đo vẽ bản đồ
là 1:1000 hoặc 1:500 và phải được quy định rõ trong thiết kế kỹ thuật - dự toán
công trình.
b) Khu vực đất phi nông nghiệp mà chủ yếu là đất ở và đất chuyên dùng:
- Các thành phố lớn, các khu vực có các thửa đất nhỏ hẹp, xây dựng chưa theo
quy hoạch, khu vực giá trị kinh tế sử dụng đất cao tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:200 hoặc
1:500.
- Các thành phố, thị xã, thị trấn lớn, các khu dân cư có ý nghĩa kinh tế, văn hoá
quan trọng tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:500 hoặc 1:1000.
- Các khu dân cư nông thôn tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:1000 hoặc 1:2000.
19
c) Khu vực đất lâm nghiệp, đất trồng cây công nghiệp : tỷ lệ đo vẽ cơ bản là
1:5000 hoặc 1:10000.
d) Khu vực đất chưa sử dụng: thường nằm xen kẽ giữa các loại đất trên nên được
Các ký hiệu vẽ theo tỷ lệ: Khi thể hiện các đối tượng có diện tích bề mặt tương
đối lớn ta dùng ký hiệu theo tỷ lệ, phải vẽ đúng kích thước của địa vật theo tỷ lệ bản
đồ. Đường viền của đối tượng có thể vẽ bằng nét liền, nét đứt hoặc đường chấm. Bên
trong phạm vi đường viền dùng màu sắc hoặc các hình vẽ, biểu tượng và ghi chú để
biểu thị đặc trưng địa vật. Với bản đồ địa chính gốc thì phép ghi chú đặc trưng và biểu
tượng được dùng làm phương tiện chính. Các ký hiệu này thể hiện rõ vị trí, diện tích,
các điểm đặc trưng và tính chất của đối tượng trên bản đồ. Ví dụ: Trạm phát sóng,
tượng đài, đền miếu...
Ký hiệu không theo tỷ lệ: Đây là những ký hiệu qui ước dùng để thể hiện vị trí
và đặc trưng số lượng, chất lượng của đối tượng, song không thể hiện diện tích, kích
thước và hình dạng của chúng theo tỷ lệ bản đồ. Loại ký hiệu này còn sử dụng cả trong
trường hợp địa vật được vẽ theo tỷ lệ mà ta muốn biểu thị thêm yếu tố tượng trưng làm
tăng thêm khả năng nhận biết đối tượng trên bản đồ. Ví dụ: Đền miếu, trạm phát sang
thông tin, tượng đài…
Ký hiệu theo nửa tỷ lệ: Đó là loại ký hiệu dùng thể hiện các đối tượng có thể
biểu diễn các kích thước thực một chiều theo tỷ lệ bản đồ, còn chiều kia dùng kích
thước qui ước. Ví dụ: Ký hiệu đường sắt, mương nhỏ, đường dây điện …Trong đó
chiều dài tuyến vẽ theo tỷ lệ và dùng lực nét, màu sắc để thể hiện chủng loại, đối
tượng, địa vật.
Ghi chú: Ngoài các ký hiệu, ta còn dùng cách ghi chú để biểu đạt nội dung của
bản đồ địa chính. Các ghi chú có thể chia ra làm hai nhóm là ghi chú tên riêng và ghi
chú giải thích. Ghi chú tên riêng dùng để chỉ các đơn vị hành chính, tên các cụm dân
cư, các đối tượng kinh tế, xã hội, tên sông, hồ, tên núi, đồi, tên xứ đồng .v.v. Ghi chú
giải thích rất hay dùng trong bản đồ địa chính nhằm thể hiện, giải thích về phân loại
đối tượng, về đặc trưng số lượng, chất lượng của chúng. Ghi chú này dưới dạng viết
tắt, giảm lược ngắn gọn. Ví đụ: Loại nhà, loại đất, hướng dòng chảy, mặt đường vv…
1.2.6.2. Vị trí các ký hiệu
Các ký hiệu vẽ theo tỷ lệ: Phải thể hiện chính xác vị trí của các điểm đặc trưng
trên đường biên của nó. Ví dụ: Các góc thửa đất, điểm đỉnh đoạn cong của đường ranh
giới thửa đất. Khi xác định chính xác toàn bộ đường biên thì vị trí của ký hiệu vẽ theo
khung trong tiêu chuẩn.
c) Lưới tọa độ vuông góc trên bản đồ địa chính được thiết lập với khoảng cách 10
cm trên mảnh bản đồ địa chính tạo thành các giao điểm, được thể hiện bằng các dấu
chữ thập (+).
d) Các thông số của file chuẩn bản đồ
22
- Thông số hệ quy chiếu và hệ tọa độ
Thông số hệ quy chiếu và hệ tọa độ để lập bản đồ địa chính thực hiện theo quy định
tại Thông tư số 973/2001/TT-TCĐC ngày 20 tháng 6 năm 2001 của Tổng cục Địa chính
hướng dẫn áp dụng hệ quy chiếu và hệ toạ độ quốc gia VN-2000.
- Thông số đơn vị đo (Working Units) gồm:
+) Đơn vị làm việc chính (Master Units): mét (m);
+) Đơn vị làm việc phụ (Sub Units): mi li mét (mm);
+) Độ phân giải (Resolution): 1000;
+) Tọa độ điểm trung tâm làm việc (Storage Center Point/Global Origin): X:
500000 m, Y: 1000000 m.
e) Chia mảnh, đánh số hiệu mảnh bản đồ địa chính
- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000
Mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000 được xác định như sau:
Chia mặt phẳng chiếu hình thành các ô vuông, mỗi ô vuông có kích thước thực tế
là 6 x 6 ki lô mét (km) tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000. Kích
thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000 là 60 x 60 cm,
tương ứng với diện tích là 3600 héc ta (ha) ngoài thực địa.
Số hiệu của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000 gồm 08 chữ số: 02 số đầu là 10,
tiếp sau là dấu gạch nối (-), 03 số tiếp là 03 số chẵn km của toạ độ X, 03 chữ số sau là
03 số chẵn km của toạ độ Y của điểm góc trái phía trên khung trong tiêu chuẩn của
mảnh bản đồ địa chính.
- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000
Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500 là 50 x 50
cm, tương ứng với diện tích 6,25 ha ngoài thực địa.
Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 16 theo nguyên tắc
từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500 bao
gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, gạch nối (-) và số thứ tự ô vuông
trong ngoặc đơn.
- Bản đồ tỷ lệ 1:200
Chia mảnh bản đồ địa chính 1:2000 thành 100 ô vuông, mỗi ô vuông có kích
thước thực tế 0,10 x 0,10 km, tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200.
Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200 là 50 x 50
cm, tương ứng với diện tích 1,00 ha ngoài thực địa.
Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 100 theo nguyên
tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200
bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, gạch nối (-) và số thứ tự ô vuông.
Mẫu sơ đồ chia mảnh và đánh số hiệu mảnh bản đồ địa chính quy định tại Phụ
lục số 03 kèm theo Thông tư này.
f) Tên gọi của mảnh bản đồ địa chính
24
Tên gọi của mảnh bản đồ địa chính gồm tên của đơn vị hành chính cấp tỉnh,
huyện, xã đo vẽ bản đồ; mã hiệu mảnh bản đồ địa chính và số thứ tự của mảnh bản đồ
địa chính trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã (sau đây gọi là số thứ tự tờ bản
đồ).
Số thứ tự tờ bản đồ được đánh bằng số Ả Rập liên tục từ 01 đến hết trong phạm
vi từng xã, phường, thị trấn; thứ tự đánh số theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên
xuống dưới, các tờ bản đồ tỷ lệ nhỏ đánh số trước, các tờ bản đồ tỷ lệ lớn đánh số sau
tiếp theo số thứ tự của tờ bản đồ nhỏ.
Trường hợp phát sinh các tờ bản đồ mới trong quá trình sử dụng thì được đánh số
tiếp theo số thứ tự tờ bản đồ địa chính có số thứ tự lớn nhất trong đơn vị hành chính