CHỦ NGHĨA yêu nước VIỆT NAM nửa CUỐI THẾ kỷ XIX đầu THẾ kỷ XX (nét độc đáo TRONG sự BIẾN đổi của văn hóa VIỆT NAM) - Pdf 43

CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX
ĐẦU THẾ KỶ XX (NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG SỰ BIẾN ĐỔI CỦA
VĂN HÓA VIỆT NAM)
DẪN NHẬP
Đất nước Việt Nam trải dài qua hàng ngàn năm lịch sử với nhiều thăng trầm, gắn
liền quá trình dựng nước và giữ nước. Do đó, dựng nước và giữ nước đã trở thành
biểu tượng của lòng yêu nước Việt Nam. Ý chí dựng nước và giữ nước ấy lại nảy
sinh và phát triển trong cái khung xã hội Việt Nam cổ truyền, đó là Nhà – Làng –
Nước, trên nền tảng kinh tế – xã hội: nông dân – nông thôn – nông nghiệp. Chính
trong cái môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội và lịch sử ấy đã hình thành nên chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam – điểm nổi bật của bản sắc văn hóa Việt Nam, với nhiều
sắc thái đặc thù.
Khác với quan niệm của nhiều quốc gia trong khu vực, ở Việt Nam “nước” luôn
được đặt lên hàng đầu. Khái niệm “nước” ở Việt Nam thể hiện trên nhiều mặt. Ở
khía cạnh thiên nhiên, địa lý, nước chỉ non sông, giang sơn gấm vóc, chỉ lãnh thổ
biên cương. Nước còn bao gồm những tộc người, dân tộc và sự đoàn kết giữa các
dân tộc trên mảnh đất đó. Từ đó, nước còn bao gồm gia đình, làng xóm, quê
hương, quốc gia với những thiết chế chính trị kinh tế của mình. Nước còn gắn liền
với văn hóa như phong tục, tập quán, ngôn ngữ, truyền thống lịch sử.
Do đó, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam bắt nguồn từ gia đình, quê hương và mở rộng
ra cả dân tộc, đất nước. Tạo thành một thứ chủ nghĩa yêu nước được “gia tộc hóa”.
Từ đó hình thành một thứ ứng xử theo kiểu “thân tộc hóa” các quan hệ xã hội. Đó
là nét biểu hiện độc đáo của bản sắc văn hóa Việt Nam.


Cùng như các thành tố văn hóa khác, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có sự biến đổi
theo sự biến thiên của lịch sử dân tộc. Theo các nhà nghiên cứu, chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam đã trải qua 5 giai đoạn đoạn: Giai đoạn Hùng Vương; Giai đoạn
Bắc thuộc; Giai đoạn Lý – Trần; Giai đoạn Lê – Nguyễn; Giai đoạn Hồ Chí Minh.
Nếu chủ nghĩa yêu nước giai đoạn Hùng Vương thể hiện bằng huyền thoại, truyền
thuyết mang tính chất anh hùng ca mộc mạc, giản dị; giai đoạn Bắc thuộc thể hiện

ông còn có Đinh Văn Điền, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ.v.v… Các ông vạch
rõ dã tâm xâm lược của chủ nghĩa tư bản ở Trung Quốc, An Độ, Nam Dương và
của cả thực dân Pháp ở nước ta. Vì thế, để không bị mất nước, theo các ông, triều
Nguyễn phải thủ hòa, đồng thời lập tức canh tân đất nước. Các ông đã đệ trình lên
triều đình nhiều cải cách quan trọng, rộng khắp trên mọi lĩnh vực: nông nghiệp,
công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, văn hóa, giáo dục, tôn giáo.v.v… nhưng
triều Nguyễn vẫn không thực hiện. Những đề nghị cải cách này ngày càng được
các sĩ phu yêu nước đặt ra cấp bách cùng với quá trình mở rộng xâm lược của thực
dân Pháp.
Cùng với tư tưởng canh tân, vấn đề “hòa” hay “chiến” trở thành đề tài đấu tranh tư
tưởng và đấu tranh chính trị sôi nổi của tầng lớp sĩ phu triều Nguyễn. Và sau trở
thành cuộc đấu tranh chính trị giữa nhân dân và triều đình và giữa các triều thần
mà sau phát triển thành phong trào kháng Pháp mạnh mẽ trong những thập niên
cuối thế kỷ XIX.


Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà, mở đầu quá
trình xâm lược Việt Nam bằng vũ trang. Đứng trước cuộc xâm lược của thực dân
Pháp, 2000 quân triều đình đóng tại đây được lệnh án binh bất động. Nguyễn Tri
Phương – vị tướng xuất sắc nhất của nhà Nguyễn – được cử làm Tổng thống quân
thứ Quảng Nam chỉ huy toàn bộ mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng nhưng cũng chỉ
tập trung xây dựng phòng tuyến phòng thủ, thực hiện chính sách vườn không nhà
trống để bao vây, cô lập quân Pháp. Trong 5 tháng, quân Pháp bị cầm chân tại chỗ,
kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh thất bại. Song nhà Nguyễn vẫn giữ nguyên thái
độ “hòa hoãn”. Trong khi đó, tại cung điện Huế, cuộc chiến “thủ để hòa” hay “chủ
chiến” giữa các triều thần nhà Nguyễn diễn ra gay gắt. Phái “thủ để hòa” chủ
trương đào hào đắp lũy để cố thủ, hy vọng “trì cửu” cho quân Pháp mệt mỏi mà rút
về. Phái này cho rằng “họ ở xa ta, nên không thôn tính được ta” và “vì ta lạnh
nhạt với họ nên họ mới đánh ta”… Một bộ phận khác của phái “thủ để hòa” chủ
trương tạm thời hòa hoãn, tập trung canh tân đất nước, mở rộng quan hệ với bên

Tháng 11.1873, quân Pháp chiếm thành Hà Nội lần thứ I. Phong trào kháng Pháp
của nhân dân Bắc Kỳ nổi lên mạnh mẽ. Ngày 21.12.1873, nghĩa quân cờ đen Lưu
Vĩnh Phúc đã phục kích tiêu diệt Garnier tại Cầu Giấy làm cho quân Pháp đóng tại
Hà Nội và các địa phương lân cận hoang mang. Nhưng ngay lúc đó, triều đình điều
động các toán nghĩa quân lên vùng thượng du đối phó với phong trào khởi nghĩa
của nhân dân.
Không những vậy, triều Nguyễn còn thẳng tay đàn áp phong trào kháng Pháp của
nhân dân. Thực sự quân Pháp không gặp khó khăn nhiều từ quan quân của triều


đình mà chủ yếu là do các cuộc đấu tranh của nhân dân cả nước. Cuộc kháng chiến
của nhân dân Quảng Nam đã buộc địch phải chuyển hướng vào phía Nam, thay đổi
kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh sang chinh phục từng gói nhỏ.
Vào Gia Định, chúng cũng vấp phải sự chống trả quyết liệt của nhân dân ta. Cư
dân 39/40 làng quanh thành đều sơ tán, đốt nhà để cô lập địch, buộc chúng phải rút
xuống tàu sau khi dùng mìn phá huỷ thành Gia Định.
Sau khi chiếm 3 tỉnh miền Đông, Pháp lâm vào khó khăn do phong trào kháng
chiến của nhân dân ta. Quân số giảm sút do thương vong, bệnh tật, thiếu lương
thực, tinh thần sa sút. Lúc này chính là lúc đánh đuổi quân thù thì triều đình lại
quay sang ký hòa ước với Pháp.
Sau khi ký kết hiệp ước Nhâm Tuất (1862), với cớ là phong trào kháng Pháp vẫn
còn tiếp diễn, và với âm mưu tiếp tục thôn tính 3 tỉnh miền Tây, Pháp đã đề nghị
triều Nguyễn cho người Pháp cai quản 3 tỉnh miền Tây. Triều đình chỉ còn biết yêu
cầu Phan Thanh Giản “nói phải trái để giặc đừng tấn công”. Mặt khác, vua Tự
Đức ra lệnh cho quan quân không được chứa chấp nghĩa quân từ miền Đông sang
ẩn náu, không được mộ nghĩa.
Chấp hành lệnh của triều đình, Phan Thanh Giản đã ra lệnh cho nghĩa quân ở các
tỉnh Gia Định hạ khí giới, nộp súng đạn cho Pháp. Đáp lại mong muốn của giặc
Pháp và triều đình, nhân dân khắp nơi vẫn hăng hái chống Pháp. Họ thành lập
những đội nghĩa binh dưới sự lãnh đạo của các quan lại theo tư tưởng độc lập dân

bảo hộ với sự tồn tại của triều đình Huế. Bắc Kỳ từ đèo Ngang trở ra theo chế độ


bảo hộ. Đồng thời mọi hoạt động đối ngoại của Việt Nam phải thông qua Pháp kể
cả quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Quyền cai trị của triều đình Huế chỉ giới
hạn ở Trung Kỳ và phải được sự chuẩn y của Khâm sứ Pháp. Đây thực chất là hiệp
ước đầu hàng hoàn toàn của nhà Nguyễn trước thực dân Pháp.
Ngày 6-6-1884, Pháp buộc triều đình Huế ký thêm hiệp ước Patenotre với nội dung
chính là Pháp nhấn mạnh thêm quyền thay mặt cho triều đình Huế trong quan hệ
ngoại giao.
Mặc dù chỉ phải đối đầu với sự nhu nhược, yếu hèn của triều đình Huế, nhưng thực
dân Pháp đã phải mất 26 năm (1858 – 1885) mới hoàn thành kế hoạch xâm lược
Việt Nam. Đây chính là kết quả của sự đấu tranh kiên cường, anh dũng của nhân
dân ta, điều mà nhà Nguyễn đã không thực hiện được. Trước bối cảnh đất nước gặp
cơn khủng hoảng, tầng lớp sĩ phu cùng nhân dân đã thể hiện lòng yêu nước của
mình với những thang bậc khác nhau.
II. CÁC KHUYNH HƯỚNG YÊU NƯỚC Ở VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ
XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
1.

Khuynh hướng yêu nước của các nhà Nho

Nhà Nho – những người được nuôi dưỡng trong cái nôi Nho học, thấm nhuần ý
thức hệ Nho giáo và tư tưởng quan chủ phong kiến. Họ vận dụng những khái niệm
của Nho học để thể hiện lòng yêu nước của mình, đồng thời phê phán những kẻ hại
dân, hại nước. Tiêu biểu là Nguyễn Đình Chiểu. Ông coi trọng ái quốc hơn trung
quân, cho rằng dân có thể không theo ý kiến sai trái của vua vẫn có thể được coi là
trung quân. Vì vậy, ông hết lòng ca ngợi Trương Định. Trong Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc ông từng viết rằng “làm người sao nỡ phụ quê hương”, sống theo giặc là
nhục nhã, trả nợ nước thì danh thơm muôn thưở. Tầng lớp sĩ phu này luôn trăn trở

ngoại xâm, bài trừ được các hủ tục lạc hậu. Những nhà cải cách tiêu biểu có Đặng


Huy Trứ (1825 – 1874), Phạm Phú Thứ (1821 – 1882) và Nguyễn Trường Tộ
(1830 – 1871).
Đặng Huy Trứ cho rằng muốn thắng Pháp ta phải có tàu to súng lớn, từ đó phải lập
cục dạy nghề và đẩy mạnh buôn bán (lập ty bình chuẩn).
Phạm Phú Thứ cũng đề nghị mở mang buôn bán, phải học và tiếp thu khoa học kỹ
thuật, cải tiến giáo dục.
Nguyễn Trường Tộ chủ trương cải cách toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, tài
chính, giáo dục, quốc phòng, ngoại giao, văn hóa, phong tục. Ông cho rằng theo
thời, tùy thời và phải xuất phát từ thực tế. Không thể hoài cổ như Nho giáo, mà
mọi suy nghĩ và hành động phải hướng vào hiện tại và tương lai.
Tuy nhiên, những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ lại gặp phải hạn chế khi
ông chưa nhận thấy rõ dã tâm xâm lược cướp nước của thực dân Pháp. Ông cũng
đã đánh giá sai thực chất của giáo sĩ phương Tây, những người lợi dụng đức tin để
phục vụ cho mưu đồ xâm lược của thực dân. Trong khi đó, Nguyễn Trường Tộ lại
đánh giá quá cao vũ khí và dũng khí của quân xâm lược. Ngược lại, với quân dân
Việt Nam, ông lại đánh giá thấp tinh thần yêu nước, ý chí quật khởi – cái đã được
hun đúc từ ngàn đơi. Nguyễn Trường Tộ cũng không thấy được những yêu cầu cấp
thiết của quần chúng nhân dân, đó là yêu cầu giảm dịch, bớt tô, có ruộng cày, cho
nên những đề nghị cải cách của ông đã không đề cập đến những yêu cầu đó.
Có thể nói: những nhà Nho chủ trương cải cách, duy tân lại là những nhà Nho
thuộc phái chủ hòa, còn những nhà Nho chủ chiến thì lại là những người bảo thủ,
không muốn đổi mới.
3.

Khuynh hướng dân chủ tư sản



ảnh hưởng của tư tưởng dân bản truyền thống. Trên cơ sở kế tục truyền thống cải
cách, canh tân đất nước, ông đề ra chủ trương khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân
sinh.
Ông cho rằng nếu không đập tan được nền quân chủ thì dẫu có khôi phục đất nước
cũng không phải là hạnh phúc cho dân. Bởi vậy cần chú trọng khai hóa cho đồng
bào hơn là bạo động để rồi đi đến thất bại, dân bị khủng bố từ đó nhuệ khí thâm
nhụt. Tư tưởng đấu tranh “ôn hòa” xuất hiện ở Phan Châu Trinh cũng bắt nguồn từ
việc ông khẳng định nguyên nhân mất nước nằm trong sự mất đạo đức, mất luân
lý. Do vậy, muốn cứu nước, cứu dân phải chấn chỉnh đạo đức, luân lý, giáo dục và
loại trừ bạo lực cách mạng ra khỏi tư tưởng yêu nước.
Vì vậy, Phân Châu Trinh chủ trương dựa vào Pháp để chống quân chủ hủ lậu, dựa
vào Pháp để cầu tiến bộ dần dần, dần dần yêu cầu cải cách cho đến khi được bình
đẳng với Pháp.
Gần giống chủ nghĩa yêu nước ôn hòa của Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng
chủ trương “dục tốc bất đạt”, muốn theo một đường lối cách mạng công khai gồm
ba yếu tố: phát triển trường học, mở mang báo chí, hoạt động ở nghị trường.
Nhưng rồi cũng chính Huỳnh Thúc Kháng cũng nhận ra rằng: “không có, không
thể có con đường cách mạng công khai bằng trường học, báo chí và nghị trường”,
tuy rằng ba nơi ấy đều là trận địa đối với người yêu nước.


Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền và nhiều sĩ phu khác đúng đắn hơn khi chủ
trương phục Việt chỉ có thể là đánh đuổi giặc Pháp bằng bạo động. Tìm mọi cách
để xây dựng một mặt trận thống nhất tất cả các lực lượng yêu nước chống Pháp.
Duy Tân hội theo đường lối quân chủ để tập hợp các lực lượng thân sĩ, quan lại…
Thơ văn Quang Phục hội hô hào đoàn kết toàn dân. Phan Bội Châu kêu gọi tự do
tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo. Thế nhưng, Phan Bội Châu – lãnh tụ Duy Tân hội
rồi Quang Phục hội – vẫn chưa tìm thấy lực lượng nòng cốt đông đảo có thể thực
hiện sứ mệnh lịch sử giải phóng dân tộc.
Như vậy, chủ nghĩa yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX phát triển mạnh mẽ,

Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt Nam tập II, Nxb. Giáo
dục, H. 2000.

2.

Đặng Huy Vận – Chương Thâu, Những đề nghị cải cách của Nguyễn
Trường Tộ cuối thế kỷ XIX, Tủ sách trường ĐHTH, Nxb. Giáo dục, H. 1961.

3.

Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX”, Khoa Triết học, TpHCM 2005.

4.

Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến
Cách mạng Tháng Tám, tập 1, Nxb. KHXH, HN – 1973.

5.

Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến
Cách mạng Tháng Tám, tập 2, Nxb. KHXH, HN – 1973.

6.

Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Ban
KHXH thành ủy xuất bản, Tp.HCM. 1990.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status